02/06/2010

Quan hệ công chúng của Trung Quốc đổ vỡ trên sông Mekong

Ian Storey

image Ở lục địa Đông Nam Á, chính phủ [các nước] không những lo lắng về làn sóng gia tăng hàng nhập khẩu Trung Quốc, mà còn lo lắng về tác động môi trường của các đập nước của Trung Quốc ở tỉnh Vân Nam mà một số nhóm cho là đã làm giảm mực nước ở sông Mekong. Ngoài việc phải đối phó với những lời cáo buộc, Bắc Kinh còn đối mặt với sự bất ổn chính trị tiếp tục bùng nổ ở hai trong số các đối tác gần gũi nhất ở Đông Nam Á - Myanmar và Thái Lan - và ảnh hưởng kinh tế tiêu cực tiềm tàng đối với các tỉnh Tây Nam.

Trong bài phát biểu trước Ban Thư ký ASEAN có trụ sở tại Jakarta hồi tháng 1 năm 2010, ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện TQ tuyên bố, Trung Quốc và Đông Nam Á không thể tách rời bởi "sông và núi" [1]. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất của con sông này - sông Mekong dài 3.000 dặm, được gọi là Lan Thương ở Trung Quốc, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Myanmar, Thailand, Lào, Campuchia và Việt Nam - đã trở thành khúc xương của sự tranh chấp trong các mối quan hệ ASEAN - Trung Quốc.

Cội nguồn của vấn đề là mực nước giảm xuống thấp nhất trong gần nửa thế kỷ, và điều này ảnh hưởng xấu đến đời sống của hơn 65 triệu người ở lưu vực sông Mekong, những người phụ thuộc vào con sông để có nước uống, tưới tiêu, đánh cá và vận chuyển. Các nhà môi trường học đã đổ lỗi cho mực nước thấp kỷ lục là do việc xây dựng các đập nước dọc trên thượng nguồn của con sông ở tỉnh Vân Nam, nơi các nhà chức trách Trung Quốc lên kế hoạch xây tám đập thủy điện; ba đập đã đi vào hoạt động, hai đập nữa sắp hoàn thành [2].

Đập nước gây tranh cãi nhiều nhất trong các dự án thủy điện là Đập Tiểu Loan, đập cao 958 feet (gần 300 m) là đập vòm lớn nhất thế giới và là đập nước lớn thứ hai ở Trung Quốc, sau đập Tam Hiệp. Đổ vào hồ chứa nước của Đập Tiểu Loan rộng 73 dặm vuông, bắt đầu từ năm 2009 và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2012. Các nhà phê bình cho rằng đập nước này đang lấy hết nước của khu vực hạ lưu và gây ra sự tàn phá môi trường. Họ tố cáo Bắc Kinh không nhạy cảm với những vấn đề mà các nước ven sông bên dưới phải đối mặt.

Mặc dù vấn đề mực nước ở sông Mekong bị giảm đã được thấy rõ trong vài năm qua, nhưng chính phủ trong khu vực - vài nước trong số đó có quan hệ gần gũi với Bắc Kinh - đã không muốn đối đầu với Trung Quốc vì sợ bị mất viện trợ kinh tế.

Tuy nhiên, khi tình hình trở nên tồi tệ, các giới chức Đông Nam Á đã trở nên ít dè dặt hơn trong việc nêu vấn đề với các đối tác Trung Quốc. Thể hiện mối quan tâm ở cấp cao nhất đã xảy ra hồi tháng 3, khi ông Abhisit Vejjajiva, Thủ tướng Thailand nói với ông Hồ Chính Dược, Trợ lý Ngoại trưởng Trung Quốc đang thăm Thailand rằng, Thailand muốn có sự hợp tác của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề (Straits Times, 08 tháng 3). Mặc dù ông Abhisit đã không chỉ trích Trung Quốc trực tiếp, thông điệp của ông đưa ra rõ ràng: Trung Quốc phải để ý tới các mối quan tâm trong khu vực và có hành động thích hợp.

clip_image001

Sông Mekong dài 3.000 dặm, được gọi là Lan Thương ở Trung Quốc, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Myanmar, Thailand, Lào, Campuchia và Việt Nam - đã trở thành khúc xương của sự tranh chấp trong các mối quan hệ ASEAN - Trung Quốc.

Khi gặp nhiều lời chỉ trích, Trung Quốc đã biện hộ về các đập nước của họ theo ba hướng. Thứ nhất, Bắc Kinh lập luận rằng các dự án thủy điện ở Vân Nam không có tác động đáng kể đối với mực nước ở hạ lưu, mà ngược lại, các đập nước này cung cấp dòng chảy thường xuyên nhằm ngăn ngừa lũ lụt và cải thiện việc đi lại trên sông. Các quan chức Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố rằng Lan Thương chỉ đóng góp 13,5% tổng lượng nước sông Mekong, mặc dù như sử gia Milton Osborne lập luận, điều này là không trung thực, trong đó suốt mùa khô Lan Thương duy trì dòng chảy lên đến 40% ở các khu vực nhất định [2].

Thứ hai, theo lời ông Hồ [Chính Dược], Trung Quốc sẽ "không bao giờ làm bất cứ điều gì để gây thiệt hại sự tin tưởng lẫn nhau với các nước láng giềng ở khu vực sông Mekong", và rằng các tỉnh Tây Nam Trung Quốc cũng chịu thiệt hại nặng do hạn hán kéo dài.

Thứ ba, tuyên bố của các nhà môi trường học là "không có căn cứ khoa học" và nguyên nhân thực sự làm mực nước giảm là do lượng mưa ít (The Nation, ngày 08 tháng Ba). Cơ quan liên chính phủ đã tính tới việc đẩy mạnh sử dụng nguồn tài nguyên nước trên sông bền vững, Ủy ban Sông Mekong (MRC) phần nào ủng hộ quan điểm Trung Quốc bằng cách chỉ ra rằng, không chứng minh được mối quan hệ giữa các đập nước Trung Quốc và mực nước xuống thấp, và rằng lý do chính là sự hạn hán ở miền Tây Nam Trung Quốc, miền Bắc nước Lào và Thailand (báo Straits Times, ngày 08 tháng Ba). Các thành viên Ủy ban Sông Mekong bao gồm Thailand, Việt Nam, Lào và Campuchia, trong khi Trung Quốc và Myanmar là đối tác đối thoại. Trung Quốc đã kiên quyết từ chối gia nhập Ủy ban Sông Mekong bởi vì họ không muốn bị ràng buộc bởi các quyết định của tổ chức này.

Bị đau vì tin tức phê phán của báo chí trong khu vực, và phản ứng lại áp lực của các nhóm môi trường cũng như than phiền từ chính phủ Thailand, Trung Quốc đã đi đến chế độ kiểm soát thiệt hại. Từ trước đến giờ, đây là lần đầu tiên Trung Quốc mời các quan chức từ các nước hạ nguồn đến kiểm tra một số đập nước, giải thích rằng họ đã ngưng đưa nước vào đập Tiểu Loan (mặc dù có lẽ điều này liên quan tới hạn hán hơn là liên quan tới những lý do khác), và hứa sẽ cải thiện chia sẻ thông tin với Ủy ban Sông Mekong.

Trong một hành động với mục đích thể hiện sự quan tâm của các nước láng giềng một cách nghiêm túc, Trung Quốc đã gửi một phái đoàn 27 thành viên do Phó Bộ trưởng Ngoại giao Song Tao dẫn đầu, đến Hội nghị Thượng đỉnh các lãnh đạo Ủy ban Sông Mekong tại Hua Hin, Thái Lan, ngày 4 và 5 tháng 4.

Tuy nhiên, kết quả của hội nghị đã được đoán trước là thất vọng. Ông Song chỉ đơn giản lặp lại rằng Trung Quốc sẵn sàng tăng cường hợp tác với các quốc gia ven sông ở bên dưới, bao gồm cả cứu trợ lũ lụt, hạn hán và tăng cường bảo vệ môi trường, và rằng Trung Quốc sẽ chia sẻ thông tin thủy văn với Ủy ban Sông Mekong - mặc dù bản chất của thông tin này vẫn còn chưa rõ (Tân Hoa xã, 04 tháng Tư).

Hội nghị thượng đỉnh kết thúc bằng một thỏa thuận giữa sáu nước để bàn bạc trước khi bắt đầu các nhà máy điện thủy điện mới; mặc dù điều quan trọng là không có cam kết nào được thực hiện để giảm bớt quy mô hoặc hủy bỏ các dự án hiện có (The Nation, ngày 5 tháng Tư).

Mặc dù cho thấy họ chủ động và hợp tác, nhưng Trung Quốc đã làm rất ít để giảm thiểu những lo ngại về tác động sinh thái của các đập thủy điện tại Vân Nam, điều đó củng cố nhận thức rằng Bắc Kinh ít chú ý đến tác động môi trường của các dự án phát triển kinh tế đối với các nước láng giềng.

Các tin đồn về chiến tranh trong quan hệ đảo lộn Trung Quốc - Myanmar

Trong khi các quan chức Trung Quốc cố gắng giải quyết những lời chỉ trích ở Hua Hin, tình hình biên giới Trung - Miến nghiêm trọng hơn rất nhiều, nơi có sự đe dọa xung đột giữa chính quyền trung ương Myanmar - được gọi là Hội đồng Hòa bình và phát triển quốc gia (SPDC) - và các nhóm ly khai ở phía Bắc và Đông Bắc đã làm cho quan hệ giữa Naypyidaw và Bắc Kinh căng thẳng.

Nguyên nhân của sự căng thẳng là yêu cầu của chế độ Myanmar hồi tháng 4 năm 2009 rằng, theo quy định Hiến pháp mới của đất nước và khẩu hiệu "Một quốc gia, một quân đội", các nhóm ly khai đó đã ký thỏa thuận ngưng bắn với chính phủ trong năm 1989-1991 nên giải giáp hoặc chuyển đổi sang các lực lượng dân quân nhỏ hơn, là Lực lượng Bảo vệ biên phòng (BGF) vũ trang nhẹ dưới sự chỉ huy của các lực lượng vũ trang, được gọi là Tatmadaw (Quân đội Liên minh dân chủ quốc gia). Các nhóm lớn nhất trong số nhóm ngừng bắn là Wa, Kachin và Shan đã bác bỏ yêu cầu của Hội đồng Hòa bình và phát triển quốc gia (SPDC), bởi vì [làm như vậy] có nghĩa là từ bỏ hai thập kỷ tự chủ và từ bỏ các quyền lợi kinh tế có lợi, bao gồm cả việc sản xuất chất ma tuý.

Một hành động được biết đến là một sự biểu hiện điều gì sẽ xảy ra nếu các nhóm này tiếp tục coi thường chính phủ, tháng 8 năm 2009 Tatmadaw đã đánh 700 dân quân Kokang, buộc 37.000 người tị nạn phải bỏ chạy qua biên giới Vân Nam (Xem "Sự cố Kokang: những rạn nứt phát sinh trong quan hệ Trung - Miến", mục China Brief, ngày 10 tháng 9 năm 2009). Bắc Kinh đã không được thông báo trước về hoạt động chống lại Kokang - những người đa số gốc Trung Quốc - đã phản ứng giận dữ bằng cách kêu gọi SPDC khôi phục lại hòa bình và ổn định dọc theo biên giới Trung - Miến.

Từ cuối tháng 8, các cuộc đàm phán giữa SPDC và các nhóm ngừng bắn khác nhau đã tiếp tục trong một nỗ lực ngăn chặn một cuộc xung đột vũ trang. Như một chiến thuật gây áp lực, chính phủ đã ban hành một loạt các "thời hạn cuối cùng" sau khi các nhóm dân quân sắc tộc được cho là bất hợp pháp - gần đây nhất là ngày 22 tháng 4 - tất cả các thời hạn trước đều được ban ra rồi hủy bỏ. Khi các cuộc đàm phán kéo dài, tất cả các bên đã bắt đầu lấy đà cho một cuộc đối đầu; được biết Tatmadaw đã gửi hàng chục ngàn quân và pháo binh hạng nặng tới gần hơn trong khu vực do các nhóm ngưng bắn kiểm soát, trong khi quân dân sắc tộc đã chủ động tuyển dụng lính mới (The Irrawaddy, 09 tháng 2). Trung Quốc cũng đã tăng cường hiện diện quân sự dọc biên giới Trung - Miến, khoảng 5.000 quân (The Irrawaddy, 30 tháng 4).

Tình hình căng thẳng giữa SPDC và các nhóm sắc tộc ngừng bắn đã đặt Bắc Kinh trong một vị trí đố kỵ. Từ đầu thập niên 90, Trung Quốc đã gia tăng lợi ích thương mại rộng rãi ở Myanmar, kể cả trong lĩnh vực năng lượng của đất nước. Đổi lại, Bắc Kinh cung cấp cho chế độ các viện trợ kinh tế và quân sự và che chở ngoại giao cho SPDC tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc (Xem "Quan hệ Myanmar với Trung Quốc: không phải là con rối hay con tốt", China Brief, ngày 9 tháng 5 năm 2007).

Tuy nhiên, cùng lúc Chính phủ Trung Quốc cũng duy trì các mối quan hệ gần gũi với các nhóm ngừng bắn chính dọc biên giới, đặc biệt là Quân đội Bang Wa Thống nhất (UWSA). Làm mới các cuộc giao tranh giữa UWSA và Tatmadaw sẽ gây thiệt hại nặng nề đến lợi ích Trung Quốc. Nó sẽ làm gián đoạn việc làm ăn có lợi ở biên giới và gây thiệt hại cho nền kinh tế Vân Nam; gây nguy hiểm cho cuộc sống của hàng chục ngàn công dân Trung Quốc đang sống ở các vùng do Wa kiểm soát; gây ra làn sóng người tị nạn tràn qua biên giới; và kết quả là gia tăng việc buôn lậu ma túy vào Trung Quốc khi Wa gia tăng việc sản xuất chất methamphetamines để trả cho các hoạt động quân sự.

clip_image002Chùa Vàng ở Myanmar.

Viễn cảnh về sự hỗn loạn và chém giết dọc theo biên giới Trung - Miến đã khiến Trung Quốc thừa nhận vai trò tích cực trong việc tạo điều kiện cho cuộc đàm phán giữa SPDC và UWSA, cũng như các nhóm nhỏ liên minh với Wa. Ví dụ, các báo cáo cho biết trong tháng 2, các sĩ quan Hải quân Trung Quốc tham dự một cuộc họp không phân thắng bại giữa ông Bao Youxiong, Chủ tịch UWSA, và lãnh đạo của SPDC về đề nghị của BGF Trung tướng Ye Myint (The Irrawaddy, ngày 26 tháng 2). Các viên chức cao cấp Trung Quốc và Myanmar cũng đã thảo luận về sự ổn định biên giới trong các cuộc họp ở Bắc Kinh và Naypyidaw (The Irrawaddy, ngày 5 tháng 4).

Những thao diễn ngoại giao đã bị che đậy, một trò chơi phức tạp đang diễn ra giữa Chính phủ Trung Quốc và Myanmar. Như đã lưu ý, Trung Quốc thật sự mong muốn một giải pháp hòa bình về vấn đề này, và muốn sử dụng ảnh hưởng của mình với SPDC và Wa, trong khi cùng lúc không muốn mọi người biết họ đang can thiệp công khai vào công việc nội bộ của Myanmar vì sợ xâm phạm chế độ quân sự không ổn định và chủ nghĩa dân tộc tính một cách quyết liệt.

Về phần mình, khi hàng loạt các "thời hạn cuối cùng" đưa ra, SPDC cũng muốn tránh xung đột và nhìn sang Trung Quốc để phỉnh phờ UWSA chấp nhận đề nghị của BGF. Và Naypyidaw có thể sử dụng triển vọng về các mối quan hệ được cải thiện với Hoa Kỳ để áp lực Trung Quốc dựa vào Wa. Nếu SPDC hết kiên nhẫn và quyết định thực hiện hành động quân sự, rất khó dự đoán chính xác Bắc Kinh sẽ phản ứng như thế nào, mặc dù có vẻ chắc chắc họ sẽ tiếp tục cung cấp vũ khí cho tất cả các bên, trong khi phía sau hậu trường thì cố gắng kết thúc chiến sự. Khi các đám mây chiến tranh tích tụ, một lần nữa Bắc Kinh phải đối mặt với các vấn đề đối phó với các hành vi không thể đoán trước về đồng minh rắc rối của mình ở Naypyidaw.

Trung Quốc quan ngại khi nhìn các sự kiện ở Thái Lan

Chính phủ Trung Quốc lo ngại nhiều về tình hình chính trị xấu đi ở Thái Lan, đối tác kinh tế và chính trị quan trọng nhất của Trung Quốc tại lục địa Đông Nam Á. Chính trị Thái Lan đang trong tình trạng bất ổn liên tục kể từ khi Thủ tướng Thaksin Shinawatra bị lật đổ bằng quân sự hồi tháng 9 năm 2006. Từ đó, quan hệ Trung - Thái đã đi về hướng đóng mở khi chính sách đối ngoại của đất nước này cơ bản bị gián đoạn. Hơi lạ là theo sau sự trừng trị những người biểu tình chống chính phủ ở Bangkok ngày 10 tháng 4, làm 25 người chết và 800 người bị thương, Trung Quốc bày tỏ mối "quan ngại sâu sắc" về sự bùng nổ bạo lực chính trị tồi tệ nhất ở Thái Lan từ năm 1992 (Straits Times, ngày 12 tháng 4).

Cuộc khủng hoảng chính trị ở Anh đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển quan hệ quốc phòng Trung - Thái, một trong các mối quan hệ rộng nhất giữa Trung Quốc và một nước Đông Nam Á (Xem thêm: "Trung Quốc và Thái Lan: Tăng cường quan hệ an ninh - quân sự trong thế kỷ 21", China Brief, ngày 3 tháng 7 năm 2008). Trong khi tập trận quân sự hàng năm giữa Thailand - Hoa Kỳ có tên Rắn Hổ mang Vàng (Cobra Gold) đã xảy ra trước lịch trình vào tháng 2, thì cuộc tập trận dự trù trên bộ và trên biển giữa Trung - Thái đã bị hoãn lại.

Lần đầu tiên Trung Quốc đề nghị tập trận trong năm 2009, và thậm chí đề nghị tài trợ cho việc tham gia của Thái khi Bangkok do dự về chi phí (báo Bangkok Post, ngày 3 tháng 12 năm 2009). Cuối cùng, Chính phủ Thailand đã đồng ý trên nguyên tắc về tập trận - mặc dù lịch sự từ chối đề nghị tài chính - nhưng chỉ hiểu là sẽ gồm không quá 50-100 lính thủy quân lục chiến từ mỗi bên.

Phản ánh chính sách lâu dài về các mối quan hệ cân bằng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, người đứng đầu Hải quân Hoàng gia Thái (RTN) cho biết, ông hy vọng Washington hiểu rằng Bangkok "cũng cần tập trận với các nước thân thiện khác" (Bangkok Post, ngày 9 tháng 1). Hoa Kỳ không chống đối sự hợp tác quân sự Trung - Thái về bản chất, nhưng có sự e dè về việc tập trận cụ thể này với hai lý do: thứ nhất, khi Thủy quân Lục chiến Thái nhận học thuyết từ đối tác Hoa Kỳ của mình, Trung Quốc sẽ được tiếp xúc với chiến thuật đổ bộ trên đất liền và trên biển của Hoa Kỳ; thứ hai, Hoa Kỳ yêu cầu quan sát buổi tập trận mà người Thái chưa chấp thuận, mặc dù không rõ Bangkok hay Bắc Kinh không muốn nhìn thấy các quan sát viên người Mỹ. Thật ra, vẫn còn nghi ngờ liệu cuộc tập trận sẽ diễn ra trong năm nay hay không, cân nhắc việc quân đội Thái bận rộn với cuộc khủng hoảng chính trị toàn quốc, các cuộc nổi dậy đang diễn ra ở quốc gia xa về phía Nam, và căng thẳng biên giới đối trọng với Campuchia.

Sự kiện trong năm qua chỉ ra rằng, khi nền kinh tế của Trung Quốc phát triển và sức mạnh quân sự của họ gia tăng, các quan chức Đông Nam Á trở nên sẵn sàng lên tiếng về nỗi lo âu của họ, cả trong các cuộc họp với các quan chức Trung Quốc lẫn công khai bên ngoài, buộc Trung Quốc phải đáp ứng.

Ngoài ra, Bắc Kinh phải đối mặt với các vấn đề đau đầu dọc theo biên giới bên ngoài phía Nam khi chế độ Miến Điện khơi dậy cuộc đối đầu quân sự với quân đội sắc tộc, Thailand chao đảo trên bờ vực của cuộc nội chiến, và Việt Nam đưa Biển Đông vào chương trình nghị sự của ASEAN. Cao điểm về việc "lấy lòng" của Trung Quốc trong khu vực cho thấy thật sự đã qua.

-------------------
Ghi chú:
1. Address by H.E. Dai Bingguo, State Councilor, The People's Republic of China, at the ASEAN Secretariat, Jakarta, January 22, 2010.
2. Milton Osborne, "Mekong: China damned if it doesn't," www.lowyinterpreter.org/post/2010/03/23/Mekong-China-damned-if-it-doesnt.aspx.

(Theo Ngọc Thu - Nguồn Jamestown Foundation 29-4-10, 13-5-10)