31/10/2010

Tây Sa và Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa) chưa từng được ghi nhận trong lịch sử phương chí Trung Hoa

Phạm Hoàng Quân
(nhà nghiên cứu độc lập về cổ sử và cổ địa dư)

clip_image001

Hình 1

TTCT - Phương chí, với nghĩa “chép rõ về một nơi”, là thuật ngữ để gọi chung cho loại sách địa lý đặc thù của Trung Quốc, trong đó gồm các loại: tổng chí (chép về cả nước), thông chí (chép về một tỉnh) và địa phương chí (chép về phủ, châu, huyện...).

Hầu hết các loại phương chí đều được thực hiện dưới sự chỉ đạo của hoàng đế và do chính quyền các cấp chủ trương tiến hành.

Vậy các loại phương chí Trung Quốc chép gì về đơn vị hành chính cực nam của Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử nước này?

Trong Tổng chí nói gì?

Tổng chí khá hoàn chỉnh đầu tiên được biên soạn vào đời Đường Hiến Tông, do đại học sĩ giám tu quốc sử Lý Cát Phủ làm xong năm Nguyên Hòa thứ 8 (năm 813), có tên là “Nguyên Hòa quận huyện đồ chí” (1). Bộ tổng chí được liệt vào hạng xưa nhất này gồm 40 quyển (nay chỉ còn 34 quyển), phản ánh cơ cấu hành chính 10 đạo đã thiết lập năm 639 và ghi chép thực trạng 47 trấn đương thời, phân cấp đến phủ, châu, huyện và một số hương lớn.

Phần viết về vùng đất cuối cùng phía biển nam nằm trong số quyển đã mất. Vài học giả đời Thanh đã tham khảo các tài liệu cùng thời để viết thêm bộ “Nguyên Hòa quận huyện bổ chí” (2). Bộ này cho thấy tỉnh/đảo Hải Nam ngày nay vào đời Đường là bốn châu Nhai, Đam, Vạn An và Chấn, thuộc đạo Lĩnh Nam, ở phía cực nam là hai huyện Ninh Viễn và Lâm Xuyên thuộc châu Chấn (nay là huyện Nhai, Hải Nam).

“Nguyên Phong cửu vực chí” (3) thời Tống làm xong năm Nguyên Phong thứ 3 (1080), do Nghị lang đồng tu quốc sử quán Vương Tồn nhận sắc chỉ biên soạn. Sách này cho thấy đơn vị hành chính cực nam là huyện/trấn Mại Viễn thuộc quận Chu Nhai, châu Nhai, lộ Tây Quảng Nam (nay là huyện Nhai, Hải Nam).

“Đại Minh nhất thống chí” là tên do Chu Kỳ Trấn (Anh Tông) đặt cho bộ tổng chí có tên gốc là “Thiên hạ nhất thống chí” (4), do thượng thư bộ lại, đại học sĩ Lý Hiền làm tổng tài (chủ biên), làm xong năm 1461, gồm 91 quyển. Quyển đầu của bộ tổng chí này có 16 bức địa đồ (1 bức toàn quốc, 1 bức Bắc Kinh, 1 bức Nam Kinh và 13 bức của 13 Ty Bố chánh). Bức địa đồ toàn quốc mang tên “Thiên hạ nhất thống chi đồ” và địa đồ Ty Bố chánh Quảng Đông với tên “Quảng Đông địa lý chi đồ” đều cho thấy cực nam lãnh thổ Trung Quốc chỉ đến hết phủ Quỳnh Châu.

Ghi chép về phủ Quỳnh Châu ở quyển 82 cho thấy sự nhất quán với cương giới mà phần địa đồ mô tả, cực nam dừng ở địa phận châu Nhai. Các mục “Kiến trí diên cách” (Dựng đặt dời đổi), “Hình thắng” (Địa hình/Cảnh quan) và “Sơn xuyên”  (Núi sông) không ghi chép gì về phía biển nam.

Tổng chí đời Thanh có ba bộ, soạn lần đầu với tên “Đại Thanh nhất thống chí” (342 quyển, làm xong năm 1743), lần hai với tên “Khâm định Đại Thanh nhất thống chí” (5) do đại học sĩ Hòa Thân nhận sắc soạn thêm (gồm 424 quyển, làm xong năm 1784), lần ba với tên “Gia Khánh trùng tu Đại Thanh nhất thống chí” (6) do Hàn lâm viện biên tu Lý Tá Hiền soạn thêm theo sắc chỉ của vua Gia Khánh (650 quyển, làm xong năm 1842). “Khâm định Đại Thanh nhất thống chí” chép về cương giới phía nam cũng chỉ đến châu Nhai, thuộc phủ Quỳnh Châu như địa đồ “Quảng Đông toàn đồ” ở tờ 2, quyển 350 minh họa [hình 1].

Mặt khác, có một chi tiết giúp xác định vùng Thất Châu Dương mà mấy chục năm nay học giả Trung Quốc cứ cho rằng nó là Tây Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam). Ở quyển 350, mục “Sơn xuyên”, tờ 11 có đoạn: (dịch) “Thất Tinh sơn ở phía bắc huyện Văn Xương, Minh nhất thống chí viết rằng núi này có bảy ngọn, còn có tên là Thất Châu Dương sơn, thông chí Quảng Đông viết là nó cách huyện lỵ Văn Xương về phía bắc 150 dặm (khoảng 75km), ở ngoài biển khơi...”.

Ghi chép này cho thấy nó kế thừa tổng chí đời Minh và tiếp thu kết quả khảo sát của thông chí địa phương, đồng xác định Thất Châu Dương tương ứng với Thất Châu liệt đảo ở khoảng vĩ độ 20, phía đông tỉnh Hải Nam ngày nay, mà không phải là Hoàng Sa của Việt Nam.

clip_image002

Hình 2

Trong Thông chí nói gì?

Thông chí liên quan trực tiếp đến vùng biển phía nam Trung Hoa là các bộ thông chí tỉnh Quảng Đông, trước sau có năm bộ, đều do các quan chức cấp cao ở tỉnh chủ trì biên soạn. Sớm nhất là “Quảng Đông thông chí” của Đới Cảnh thời Minh, làm xong năm 1535, kế đến là bộ do Hoàng Tá chủ biên, 72 quyển, làm xong năm 1602.

Đời Thanh gồm ba bộ của Kim Quang Tổ (1675); Hách Ngọc Lân, 64 quyển (1731); Nguyễn Nguyên, 334 quyển (1882). Trong “Quảng Đông thông chí” của Hách Ngọc Lân, “Quảng Đông toàn tỉnh tổng đồ” ở quyển 3, trang 3 [hình 2] cho thấy về cương vực, tức phạm vi quản lý hành chính của chính quyền cấp tỉnh, dừng ở phủ Quỳnh Châu.

Địa đồ “Quỳnh Châu phủ toàn đồ” ở quyển 3, trang 22 [hình 3] lại có dòng chú thích “Quỳnh, bốn mặt là biển, không khảo được tám nơi tiếp giáp”. Trong “Quảng Đông thông chí” của Nguyễn Nguyên, “Quảng Đông dư địa tổng đồ” được vẽ theo kỹ thuật phương Tây, phân hệ thống kinh vĩ, giới hạn về phía nam chỉ thấy đến khoảng 18,5 độ vĩ bắc (7).

clip_image003

Hình 3

Và trong Địa phương chí nói gì?

Địa phương chí cấp cơ sở liên quan trực tiếp đến vùng biển nam Trung Hoa là các phủ chí Quỳnh Châu, theo bộ “Quỳnh Châu phủ chí”, biên soạn sau cùng trong đời Thanh (1891), có tính kế thừa và bổ sung hoàn thiện từ bốn bộ trước đó.

Các ghi chép về phạm vi cương giới cho thấy tương đồng với tổng chí và thông chí đã đề cập, sách này cũng dẫn lời quận thú (quận trưởng) Tiêu Ứng Thực viết trong phủ chí năm 1774 về các nơi tiếp giáp, quyển 3, phần Dư địa chí, mục Cương vực chép: “Quỳnh Châu là nơi giữa biển, nam là Chiêm Thành; tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc tiếp giáp huyện Từ Văn, phủ Lôi Châu” (8).

Trong nguyên tác của đoạn văn này, cách dùng chữ đối với hai trường hợp tiếp giáp cho thấy có sự phân biệt rõ ràng, các nơi ngoài Trung Quốc dùng chữ “tắc” (nghĩa “là”), còn nơi thuộc Trung Quốc thì dùng chữ “tiếp” (nghĩa “tiếp giáp, tiếp cận”), điều này cho thấy chính quyền nhà Thanh tuy biết có nơi là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường nhưng những nơi đó không thuộc sự quản lý hành chính của chính quyền đương thời.

Phương chí là một loại tư liệu lịch sử mang giá trị pháp quy, gắn liền với sự ổn định hoặc những biến động cương vực của một nước trong suốt quá trình cai trị của một triều đại và nhiều triều đại trong lịch sử.

Các học giả Trung Quốc thường né tránh việc dẫn dụng sách phương chí, hoặc nếu có thì chỉ trích dẫn các tiểu mục nói về sự tích nhân vật đạo sĩ, sư sãi hoặc các tiểu mục viết về quan hệ giao thương với nước ngoài. Những trích dẫn loại này phải xem là sử dụng sai mục đích..., còn những phần đề cập trực tiếp đến địa lý hành chính không được nhắc đến.

Phương chí cổ Trung Quốc chứa đựng nhiều sử liệu quý, có giá trị nhiều mặt trong việc tìm hiểu lịch sử các hoạt động xã hội Trung Quốc và các nước có biên giới lân cận. Riêng việc xác định chủ quyền trong lịch sử đối với các nơi trên biển Đông, phương chí các loại từ đời Đường cho đến đời Thanh cho thấy không có ghi nhận nào thể hiện sự quản lý hành chính đối với Tây Sa và Nam Sa, là những nơi mà trong các loại thư tịch đồng dạng, Việt Nam đã ghi nhận bằng tên Hoàng Sa và Trường Sa.

Phương chí là loại sách lịch sử - địa lý quan trọng hàng đầu trong kho tàng văn hiến Trung Hoa. Các nước phương Tây và Nhật dùng nó làm cơ sở để nghiên cứu địa chính trị.

Trong nguồn thư tịch cổ Trung Quốc, các chuyên mục địa lý chí trong chính sử chỉ ghi nhận tổng quan, còn phương chí là nơi thể hiện rõ và cụ thể hơn các đơn vị hành chính. Loại hình phương chí ra đời sau chính sử [địa lý chí], sau các chuyên thư về địa lý và sau việc soạn vẽ địa đồ, và do phối hợp, phát triển từ các loại hình này dần trở thành loại sách công cụ để các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương theo dõi tình hình đất đai, nhân sự, công sở, binh bị, văn hóa, kinh tế, sản vật... thuộc địa bàn được đề cập.

P. H. Q.

__________

(1) Nguyên Hòa quận huyện đồ chí, bản in chụp theo bản Văn Uyên Các (thuộc Tứ Khố Toàn Thư), Đài Loan thương vụ ấn thư quán, 1983.
(2) Nguyên Hòa quận huyện bổ chí, bản in khắc Kim Lăng thư cục, năm Quang Tự thứ 8 (1882), quyển 8, tờ 17-22.
(3) Nguyên Phong cửu vực chí, 10 quyển, bản in khắc Kim Lăng thư cục, năm Quang Tự thứ 8 (1882), quyển 10, tờ 3-4.
(4) Thiên Hạ nhất thống chí, bản in khắc Vạn Thọ Đường, năm Thiên Thuận thứ 5 (1461). Quảng Đông Bố chánh ty, quyển 79-82, Quỳnh Châu phủ, quyển 82, tờ 15-28.
(5) Khâm định Đại Thanh nhất thống chí, bản khắc in Hồng Bảo Trai trong niên hiệu Quang Tự (1875-1908) theo bản Võ Anh Điện. Quảng Đông tỉnh quyển 338-353, Quỳnh Châu phủ quyển 350.
(6) Bộ thứ nhất và bộ thứ ba chúng tôi chưa được coi, sẽ đề cập trong dịp khác.
(7) Trung Hoa tùng thư Quảng Đông thông chí (4 tập), Trung Hoa Tùng thư Biên thẩm ủy viên hội xuất bản, in chụp từ bản Nguyễn Nguyên Quảng Đông thông chí 334 quyển, Đài Bắc, 1959. Địa đồ “Quảng Đông dư địa tổng đồ”, quyển 83, dư địa lược 1, trang 1434-1435.
(8) Quỳnh Châu phủ chí, bản in chụp do Lữ Đài Hải Nam Đồng Hương Hội, không ghi năm, 5 cuốn, từ bản Long Bân, 44 quyển. Đoạn văn trích dịch ở trang 125, cuốn 1.

Nguồn: Tuoitre