13/02/2011

Sóng biển Lăng Cô

Nguyễn Hữu Liêm

(Hỡi hành giả bên bờ biển xanh, hãy tìm ra viên Ngọc nằm ngoài vỏ sò Không và Thời! (Hafiz))

clip_image004

Bãi biển Việt Nam. Ảnh: NHL.

Trong một ngày đậm đông tháng trước, trên đường từ Đà Nẵng ra Đại học Huế để làm việc với Phân khoa Luật, tôi thấy như mình đang đi qua hai cõi. Từ một nơi nắng nhẹ, ấm mát của sông Đà, biển Non Nước, bên này rặng Hải Vân, chỉ cần đi qua khỏi đèo là mây mù bao phủ, mưa phùn, gió bấc cuộn lấy núi rừng, sông biển, con người xứ Huế. Khi xe vừa ra khỏi hầm đèo, nhìn xuống thị trấn Lăng Cô, tôi nói với người lái xe chở tôi, một Giáo sư luật từ miền Bắc, rằng theo tôi thì Lăng Cô có lẽ là thị trấn đẹp nhất Việt Nam. Vị Giáo sư thì cho rằng Đà Lạt mới đẹp. Tôi bảo vị ấy, “Hãy xem kìa!”.

Chúng tôi ghé vào một quán cà phê bên bờ biển để nhìn núi, nhìn mây. Trong lúc chờ cà phê nhỏ giọt vào ly, chúng tôi ra đứng trên một đồi cát cao, nhìn về phía đông và nam. Mây, biển, hồ, núi xanh bao phủ lẫn nhau tạo nên một nét huyền diệu, hùng vĩ. Đẹp lạ lùng. Vị Giáo sư bây giờ nói lên, “Bây giờ tôi mới thấy là Lăng Cô đẹp thật, dù tôi đã lái xe đi qua đây gần như hằng tuần!”. Có những cái đẹp hiển nhiên cần phải được nhắc nhở người ta mới nhận thấy được.

Ở đây có nhiều khu resorts nằm ẩn trong các rặng phi lao, dừa biển. Một số đang được xây cất dang dở. Cơn suy thoái kinh tế mấy năm qua đã làm những dự án nghỉ dưỡng này dừng lại. Nhìn xuống bên kia quốc lộ, các ngôi nhà, tiệm, khách sạn, theo kiến trúc tỉnh nhỏ Việt Nam cũng còn đang vươn lên từ nghèo khó, cũng đang dang dở, mang nhiều nét thô sơ và đơn giản. Nhìn lên trên núi cao vời, nhìn xuống phố thị bên đường, một đằng thì siêu thực như mây trời, một đằng thì tất bật, luộm thuộm như cảnh đồng ruộng đầu mùa.

Thiên nhiên như một ân huệ tinh thần đến từ cao; con người như là cơ năng ý chí thân xác từ dưới thấp. Có lẽ rằng xứ Lăng Cô đang là nơi đồng quy của hai hướng. Từng lớp lớp thanh niên ở đây đã từ bỏ, giã từ trời đất này mà ra đi, để rồi cuối cùng cũng mong tìm về với khoảng nước non đất trời này. Tôi cảm thức như rằng đây là một vùng đất tinh thần, vừa linh thiêng, vừa huyền hoặc lạ lùng, dù là trên đường quốc lộ vẫn đang tràn ngập tiếng xe cộ bụi đời chật vật. “Nature allows man the vicarious grasping of Truth.” Nếu không có núi biển kia, cái gì sẽ cứu vớt những tâm hồn đơn sơ đầy vật vã này?

Chợt như tôi cảm thấy mình bay cao vào mây trên đỉnh núi – và tự nói cho mình nghe. Hãy nhìn đó! Thiên nhiên và con người như là sự đồng hiến thân của Ý Niệm Tuyệt Đối, “the logos becoming flesh.” Tôi nghĩ đến Hegel, Tân ước. Và Hoa Nghiêm. Khi Pháp tính trải hiện qua không gian, vũ trụ thành hình; khi Ý Niệm trở trăn trong thời gian, lịch sử chuyển động. Tất cả chỉ là những hiện tượng Tâm thức mà con người là giới kịch sĩ bi tráng. Ta khao khát, vật lộn với chính mình để trải thân trong lịch sử, tiến hóa qua thiên nhiên và thân xác, tìm lối đi ra khỏi cơn tha hóa lạc loài trong hiện tượng sinh hữu nghìn trùng.

Trong tiếng gió, tôi nghe mơ hồ vang tiếng gọi Tự Do và Giải Thoát. Tất cả như những cơn gầm phẫn nộ, ầm ầm của từng đợt sóng biển Thái Bình liên tục vỗ vào bờ không ngừng nghỉ. Từng vết bùn dưới ruộng kia, từng hạt cát bên bờ sông nọ, từng viên đá trên rặng núi cao, từng cây dương liễu cong mình dưới gió, từng con thú run lạnh bên vườn, và tất cả cái khối nhân loại tràn trề và triền miên gian nan này – vâng, tất cả, một tổng thể “lạc loài trong kiếp luân hồi” đang gào thét trong khổ đau, đang mải mê quay cuồng, để tìm về chân trời Tự Do. Ta thấy được điều đó ở mọi nơi và cả trong chính ta!

Một ly cà phê thật đậm, tôi lại rơi xuống trần gian. Một mình đi ra đứng bên cây dương liễu cằn cỗi, già nua, cong mình dưới gió đông bắc từ biển, tôi đưa tay đụng vào thân cây cằn cỗi của “hắn”. Tôi thấy như mình đang nắm tay một ông già xứ Quảng, da mặt thân hình hắn nhăn nheo, vươn tay ra níu áo tôi, nở nụ cười đầy tâm sự. Tôi nhớ đến một ý niệm học được trong trường đạo Rosicrucian rằng, “Man is the inverted plant” - Con người là thân cây đảo ngược. Cây nhận thực phẩm từ dưới rễ; người từ bên trên mặt. Cây phô trương cơ phận sinh sản ngửa ra với trời; con người giấu kín hướng về phía dưới. Ôi ông già dương liễu ơi, ta với người cùng chia trái đất, nhưng đi về hai hướng. Xương sống ta với ngươi đều thẳng đứng nhưng lại đi hai ngả. Ta đi lên kêu trời; ngươi đi xuống mò đất. Hai chúng ta cần bộ xương sống nằm ngang của thú vật để cấu thành một điệp trúc trần gian. Hèn gì ta thấy như đang thiếu cái gì đó, sâu thẳm, vô cùng. Ta nhớ những con thú của cõi động vật giữa bao la trời đất này. Chỉ có bên muông thú thì ta mới tìm ra ngã tư thập tự trong tâm thức đầy mâu thuẫn này.

Gần quán cà phê có một đám thợ đang xây một con đường đi dạo bằng đá bên đồi cát. Những thợ nề, thợ mộc đang chuyển cát đá thành cảnh quan. Chỉ có con người mới có tự do ý chí chuyển hóa đất đá thành cái đẹp cho ý thức. Tất cả phải chuyển động về chân trời Tự Do. Kể cả sỏi đá, đất cát ngàn trùng kia. Hằng tỷ tỷ “Hằng hà sa số” đều phải đứng dậy mà đi. Qua bàn tay con người lao động, qua ý thức thẩm mỹ, nhân loại phải hoàn tất dự án Tự Do vô vàn này. Tất cả phải sống lại, phải đứng lên từ cõi chết, để cái Đẹp, cái Thiện, và Sự Thật được hoàn tất trong sự tương giao, từ tính vô tri của đất đá, vô cảm của cỏ cây, đến sự khổ đau đầy hồn nhiên của cõi người. Mỗi viên đá mà con ngươi đắp lên thành con đường chính là mỗi nấc thang tiến hóa được hoàn tất.

Hoặc là con người phải có chủ đích và đứng dậy để tìm Tự Do cho mình hay là họ sẽ mãi đọa đày trong vô thức như cây cỏ, sỏi đá kia. Chỉ có chúng ta qua hành trình làm người mới có kinh nghiệm cuộc đời – cây cỏ, muông thú, cát đất không có lịch sử, không khổ đau, dù đang cùng chung đường cứu cánh. Nhưng mà, tôi tự nhủ, con người Việt Nam, như một góc nhân loại ở xứ miền Trung này, như tôi đây, còn cả một xa lộ dài đằng đẵng, đầy khổ đau nằm chờ trước mặt, trải dài về chân trời Giải Thoát. Sẽ còn nhiều gian truân lắm bạn ạ. Cái đất nước và con người miền Trung này, họ còn thô sơ lắm, với tâm thức còn dính quá sâu trong cõi thấp vật thể. Họ sẽ phải được văn minh hóa qua con đường và phương tiện vật chất trước đã. Khối tâm thức Việt Nam, ôi thân yêu hỡi những anh chàng nhà quê mới lên tỉnh, phải tiêu thụ và giải tỏa hết cái năng lực dục thức, trước khi lý tính và ý chí cõi cao hơn được làm chủ sự sống. Vâng, dân tộc này đang là của thân xác trong cõi dục thức. Chúng ta đang cùng nhau trăn trở, ngụp bơi trong một thời quán tiến hóa xác thể sắc tướng để mong được thoát ra ngoài khoảng không gian nặng ẩm này.

Trưa đến, chúng tôi về tới Phân khoa Luật, Đại học Huế. Ra đây lần này, tôi tham dự thỉnh giảng môn Logic và Tư duy phản biện. Về với miền đầy cảm xúc, the realm of feeling, của đất Thần Kinh, sông Hương, núi Ngự, của con người với giọng nói ngọt nhẹ, tôi mong góp chút gì bằng năng thức từ cõi lý tính, the realm of rationality – ôi biết đâu, tôi vọng tưởng – nhằm giúp quân bình tâm hồn Huế, vốn đầy ắp trong tôi. Biết đến bao giờ, Huế và miền Trung mới bước qua cõi cảm xúc ngập tràn để được vượt thoát. Tôi nhớ đến Pythagoras, một triết gia Hy lạp 2.500 năm trước, đã bắt buộc đệ tử phải học toán trước khi truyền dạy bí mật huyền nhiệm. Muốn tiến lên cõi tinh thần con người trước hết phải đi qua cõi lý tính. To be spiritual is to be rational. Chỉ có lý tính mới cứu Huế ra một lịch sử triền miên đầy cảm xúc – và khổ đau, Huế ạ!

clip_image002

Tác giả cùng các thầy cô Phân khoa Luật Huế. Ảnh: NHL.

Khoa Luật bây giờ rất khác với trước 1975. Giọng nói thầy cô không còn đặc Huế như thưở trước. Tâm hồn dịu dàng của Huế đang được khuấy động bởi những con người năng động với giọng nói sắc bén hơn của thầy cô từ phía Bắc. Trường Luật đang được xây dựng trên một khu đất ở ngoại ô. Cơ sở vật chất vẫn còn đang trong giai đoạn bắt đầu. Các thầy cô chân tình đón tiếp chúng tôi, vui vẻ chia sẻ, làm việc, trao đổi những trăn trở, suy tư. Tất cả đều nhắn nhủ và mong các cựu sinh viên, các thầy cô Khoa Luật của Huế trước 1975, dù ở phương xa nào, dù có chính kiến khác biệt về chuyện đất nước, hãy cùng về tiếp tay với các thầy cô hôm nay mà xây dựng Phân khoa Luật cho Huế ngày mai. Nhìn các khuôn mặt ngây thơ, chất phác của sinh viên luật khoa trong lớp học, tôi có cảm tưởng thế hệ mới của các em như là một mảnh đất hạn hán kiến thức và kỹ năng pháp lý đang chờ cơn mưa thời đại đến từ các phương trời.

Sáng sớm tôi đi ra góc phố, co ro ngồi bên vỉa hè, trong cơn mưa lạnh, ăn tô bún Huế cay và nóng để mà cảm thức xứ Huế. Chắc là Huế còn lâu mới thay đổi – như tô bún giò rất nặng hương vị trong một buổi sáng mưa phùn, gió bấc ngập tràn ẩm ướt cả tuần nay, sẽ vẫn còn đó dưới gốc cây nơi từng góc phố. Với cơn mưa rét buốt này, với giọng nói, với thức ăn cay xé lưỡi này, chắc Huế sẽ còn nhiều gian truân lắm. “Oh the Truth that prunes and purges!”. Tôi mong Huế sẽ còn nhiều bình an.

Hai ngày sau, tôi lên xe đò rời cơn mưa dầm dề, không dứt của Huế để trở lại Đà Nẵng. Vừa qua khỏi đèo Phú Gia, thì thị trấn Lăng Cô lại hiện ra ngay trước mắt. Lạ thật, chỉ qua một dãy núi mà khác biệt vô vàn. Trời trong, mây cao. Một chàng sinh viên mời tôi về làng để ở qua đêm. Buổi chiều, chúng tôi bơi chiếc thuyền ra đầm lớn, câu cá, bắt cua đồng, bẫy tôm. Đem cá tôm về ngồi bên vỉa hè tranh, bên bờ sông, đốt nhúm củi tre, nướng con cua đồng chín vàng lên trong cơn gió đầu năm, tỏa khói tràn cay trong mắt. Đồng ruộng Phú Lộc, Chân Mây bao la trước mắt. Khi chén rượu đế Kim Long hâm nóng đưa lên môi, ôi cả một chân trời mời gọi. Đêm nằm co lại với chiếc chăn mỏng trên chiếc giường tre trong mái nhà tranh giữa ruộng đồng, gió bấc rét từng cơn thổi vào từ Phá Tam Giang, tôi thấy mình như tan loãng vào không gian núi đồi hoang dã ngút ngàn. Làm thế nào để vươn thoát chính mình ra khỏi thời gian để cho không gian này mãi còn lại với ta?

Mỗi lần đi qua đây, mỗi lần về với bạn hữu, dân quê, trong khói tre, mái tranh, ly rượu gạo nếp làng thôn, là một mối ân huệ vô cùng. Thắp nén hương trước bàn thờ tổ tiên bên đầm Lăng Cô vào một chiều cuối năm, tôi nghĩ đến con người như là những cỗ xe tiến hóa cho tâm thức. Xứ Lăng Cô và con người miền Trung giao thoa trong tâm tưởng, như sự xuyên thấu tràn ý nghĩa tương phản, giữa nỗi bất an và hòa bình, trong gian truân và hạnh phúc mà mỗi chúng ta buộc phải kinh qua.

Núi biển kia, hỡi Lăng Cô: I shall come again and receive you unto myself!

N. H. L.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.