13/02/2011

Tiếp cận Hoàng Ngọc Hiến ngoài văn bản

Ngô Thảo

clip_image002Ông như vẫn đâu đó, cả tin mà sắc sảo, hồn hậu mà tinh quái, và trên hết là tính lương thiện và lòng dũng cảm của một trí thức chân chính. Chúng tôi đăng lại bài của nhà văn Ngô Thảo viết nhân dịp mừng ông thọ 80 xuân, được học trò và bạn bè tổ chức trước khi ông mất có vài tháng, để tưởng nhớ đến ông – nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến.

Bauxite Việt Nam

Xin được thanh minh trước, cái đầu đề văn vẻ này thực ra là để che giấu sự ít học, ít đọc của tác giả.

Tròn 60 năm về trước, để thoát vùng bị chiếm của Pháp ở quê nhà Quảng Trị, lũ trẻ con em cán bộ kháng chiến được đưa ra vùng tự do khu Bốn Thanh Nghệ Tĩnh để khỏi thất học.

Vào lớp tư (lớp 1), tôi được đi học ở Châu Phong - Đức Thọ - Hà Tĩnh. 60 năm rồi, tôi vẫn nhớ con sông La trong xanh hiền hòa mùa khô nhưng dữ dội tràn bờ ngày lụt bão, mặt sông đầy củi, rác, khô có, cành lá xanh tươi có, ào ạt chảy về xuôi. Làng có một con đê lớn, có chợ Hạ, sân vận động, trường Quốc học Huế tản cư ra hợp với Nguyễn Công Trứ lấy tên Huỳnh Thúc Kháng, có bến Giá, hàng sấu cổ thụ trong Dinh Cụ Quận - tên địa phương bấy giờ gọi nhà riêng của Đại thần Hoàng Cao Khải. Một vùng quê bình yên thơ mộng, có nghề dệt vải và nổi tiếng về trai tài, gái sắc.

Sau này tôi biết đó là quê gốc của người hôm nay chúng ta mừng thọ 80 tuổi! Không biết có phải sớm được lớn lên ở xứ sở gạo trắng, nước trong, mía ngọt, người tài ấy, mà khi biết giáo sư Hoàng Ngọc Hiến có quê ở đó, tôi đã nhận ngay là đồng hương.
Tôi không được may mắn làm học trò của Thầy Hiến.

Cách đây đúng 50 năm, tôi thi đậu vào Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ra trường được nửa năm, đầu năm 1965, thì đi bộ đội. Sau 5 năm ở đơn vị chiến đấu, từ binh nhì lên Đại đội bậc phó - một cấp quân hàm của Quân giải phóng, tương đương thiếu úy, do tinh thần chiến đấu không đến nỗi nào, nên ở chiến trường B4 Trị Thiên được cử ra Bắc đi đào tạo ở Học viện Chính trị. Học chưa xong thì bị gọi về Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cho đến năm 1970, số tốt nghiệp Đại học rồi đi bộ đội chiến đấu như lớp chúng tôi là của hiếm (mãi đến 1972, mới có đợt nhập ngũ ồ ạt của sinh viên)

Năm 1977, đang ở Ban lý luận phê bình tạp chí Văn nghệ Quân đội, đã có nhiều bài phê bình trên các báo, tôi được cử đi thi nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Tôi bị đánh trượt, vì dốt quá, trong cái rủi có cái may. Nhân phải chuẩn bị kiến thức để đi thi, sau nhiều năm xa sách vở, tôi có dịp đọc và học các sách nghiên cứu, các giáo trình kinh điển về lý luận văn học và văn học Việt Nam hiện đại. Ngẫm lại, chợt nhận ra, hầu hết các công trình đó đều nổi bật tính thống nhất, với mẫu số chung là biểu hiện phổ biến của Tư duy máy móc.
Nhân có một Hội thảo về Văn học, sau khi suy tính, tôi có bản tham luận: Về lối tư duy máy móc trong nghiên cứu phê bình Văn học. Tôi buộc phải nêu dẫn chứng bằng một Công trình lớn của thầy tôi. Trong hai tập sách nghiên cứu về Tiểu thuyết có 38 mẫu câu được lặp lại, đó là lý do cơ bản, là thiếu sót cơ bản của các tác giả tự cổ chí kim: Do hạn chế về Thế giới quan và vốn sống hoặc một trong hai thứ đó!

Từ đó, tôi mang tiếng phản thầy. Vì thi không đậu, mà phản ứng!

Nhưng biết làm sao! Do có dịp đọc kỹ một số công trình, mình mới nhận ra điều đó. Lại thêm cái máu liều của anh lính vừa qua trận mạc, điếc không sợ súng, tôi đành phải vạch ra để tránh cho người nghiên cứu sau. Nhiều năm sau đó, tôi liên tục bị phê phán, truy kích nào tội phủ nhận thành tựu Văn học cách mạng với luận điểm trích dẫn: Nửa cái bánh mì vẫn là bánh mì, một nửa sự thật đã là sự giả dối, rồi lệch lạc khi nhận xét văn học trong chiến tranh nghiêng về người may mắn, văn học ngụy trang...

Tôi kể rông dài như thế để xin được thú thật điều này: Trong một lò đào tạo với sự thống trị của Tư duy máy móc như thế mà chúng tôi thoát ra được, thấy ra được vấn đề, ấy là nhờ hai yếu tố:

1/ Những năm cuối chiến tranh, chúng tôi được sống gần gũi, bên cạnh các nhà văn quân đội đúng thời điểm họ từ một dàn đồng ca, một số người vượt lên thành những cây đơn ca với âm sắc khác nhau.

2/ Và lý do thứ hai: Sự phổ biến những kiến giải nguyên lý Văn học mới mẻ, mà nhân vật đi đầu, kiên trì, bền bỉ và dũng cảm là nhân vật chúng ta mừng thọ hôm nay: GS Hoàng Ngọc Hiến.

Do làm biên tập, chúng tôi được tiếp cận những người bị coi là Cấp tiến trong lý luận và phê bình Văn học. Ngoài các bài viết, GS rất chịu khó dịch các công trình nghiên cứu, lý luận của Văn học Xô Viết đương đại.

Bây giờ, chúng ta dễ nhận ra những hạn chế của hệ thống lý luận đó. Nhưng vào thời điểm thập kỷ 70 thế kỷ trước, ảnh hưởng của những kiến giải mới mẻ đó, giúp thoát khỏi bầu trời Văn nghệ Diên An, đã giúp các nhà văn quân đội mở rộng tầm nhìn, tầm nghĩ và phương cách thể hiện rất nhiều. Các nhà văn Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, rất coi trọng GS Hoàng Ngọc Hiến qua các bài viết, các công trình dịch thuật, giới thiệu, các ý kiến phát biểu, mặc dầu ông không mấy khi viết phê bình cụ thể một tác phẩm.
Chúng ta đều biết, văn nghiệp Hoàng Ngọc Hiến không suôn sẻ. Bởi về bản chất, ông là một triết gia, một nhà tư tưởng, một người truyền đạo. Đi trước ông ngàn năm, với biết bao sáng suốt, thành tâm và thiện ý, Đức Chúa Trời đã bị đóng đinh trên thập tự giá do chính mình vác ra pháp trường! Nhờ sống ở hậu thế, dù thời cuộc còn nhiễu nhương, đôi lần bị bầm dập, vào tuổi 80, ông vẫn say sưa góp sức, góp trí tìm minh triết cho dân tộc, ông đã là một người may mắn rồi.

Chúng ta nhớ về ông là nhớ về những mệnh đề tổng kết vắn tắt, sâu và sắc, làm rúng động lối tư duy bầy đàn, ở bất cứ đâu, bất cứ hoàn cảnh nào, bất cứ người nào cũng rao giảng một mệnh đề không rõ nội dung, thì Hoàng Ngọc Hiến tưng tửng mà khó quên, khó cãi: Văn học phải đạo, Văn học bước qua lời nguyền, Người Việt mình nó thế...

Là một người nghiên cứu nghiêm túc, nhưng tư duy siêu việt của ông lắm lúc cho chúng ta tưởng ông là người đọc siêu văn bản: Ông đặc biệt yêu tác phẩm của các học trò của mình, và luôn nhìn thấy giá trị, ý nghĩa triết lý sâu xa vượt tầm hoặc còn tiềm ẩn trong các văn bản còn chưa hoàn chỉnh của họ.

Ở ngoài đời sống, ông là người hồn nhiên đến lão thực. Điều đó tạo nên niềm vui sống thường trực của ông. Nghe ai kể một chuyện gì, mắt ông sáng lên, thật thà - Thế à? Khả năng sửng sốt đó làm tư duy ông trẻ mãi.

Nhưng không ít điều ông nói ra, viết ra bị phản ứng, có khi dữ dội. Có thể do sơ hở của diễn đạt. Nhưng thường khi là những điều đó mới mẻ quá, vỗ mặt quá, trắng trợn quá hoặc hiển nhiên quá mà chưa ai tìm ra công thức diễn đạt.

Đã có lắm người ngỡ mình thông minh thật, nhiều lần đã lên tiếng phê phán, răn dạy lại ông qua các bài viết. Nhưng thời gian và những người sáng tác có chỉ số IQ chắc là thấp đã đồng tình và đồng cảm với ông.

Có một câu ngạn ngữ hài hước mà thâm thúy: Khuyết tật của danh nhân là niềm an ủi cho những kẻ ngu đần. Có lẽ chưa ai gọi Hoàng Ngọc Hiến là danh nhân, cho nên những sơ hở có khá nhiều trong tác phẩm, trong đời sống của ông đã là miếng mồi ngon đem lại niềm vui, niềm tự hào cho một số người tự coi là thông minh.

Chỉ riêng một điều đó thôi, Hoàng Ngọc Hiến đã là một tên tuổi không thể quên trong lịch sử Văn học hiện đại.

Huống gì, trong đời, ông đã làm được nhiều hơn thế!

Một nhà giáo lỗi lạc được nhiều thế hệ học trò thành đạt kính trọng và yêu mến.

Một nhà lý luận phê bình văn học xuất sắc, không chỉ phát hiện khẳng định sớm những tác phẩm văn học có giá trị mà còn thiết thực gợi mở, đánh thức, khuyến khích cảm hứng sáng tạo, dũng khí tìm tòi cho nhiều thế hệ cầm bút Việt Nam.

Là người có công trong bước tiến của Văn học Việt Nam hiện đại.

Trân trọng chúc mừng giáo sư nhà văn hóa Hoàng Ngọc Hiến tuổi 80.

N. T.

15-7-2010

Nguồn: Vanhoanghean.com.vn