10/05/2011

Các vấn đề kinh tế: ngân hàng

Đoàn Hưng Quốc

image  

Ngoại tệ và vàng miếng đang là đề tài "hot" nhất trên các diễn đàn kinh tế. Ảnh: Sở CT Hải Dương

 

Nhà nước Việt Nam đang cố thu đô-la và vàng vào các ngân hàng để giúp cho việc sử dụng đồng tiền Việt Nam làm đơn vị tiền tệ duy nhất lưu hành trong nước. Nhân đây người viết xin bàn về một vài khía cạnh thiết thực của ngân hàng trong kinh tế.

Tại sao người ta gửi tiền vào ngân hàng? Trước hết để khỏi bị cướp hay đánh mất tiền mặt. Thêm vào đó có chút lời vì tiền giữ trong tủ sắt nằm chết không sinh lãi.

Nhưng lãi suất cần phải so sánh với lạm phát – tức là tiền mất giá. Thí dụ 1 ký thịt trước đây mua giá 100 ngàn nay tăng lên 120 ngàn tức tiền mất giá hay lạm phát 20%. Lãi suất ngân hàng nếu ở 15% nghe rất cao, nhưng ký thác 100 ngàn khi rút ra chỉ có 115 ngàn (không đủ mua 1 ký thịt) nên bị lỗ! Tiền chết bỏ vào ngân hàng cứ sẽ hao mòn dần nếu không bắt kịp lạm phát.

Vì thế khi tiền mất giá thì người ta thích đầu tư vào nhà đất hay nhu yếu phẩm. Chi tiêu xa xỉ có thể bị cắt bớt nhưng ai cũng cần ăn và ở nên những thứ này thường tăng giá nhanh hơn lạm phát.

Kế đó người ta muốn đổi ra vàng và ngoại tệ. Tiền mất giá vì nhà nước in thêm bạc nhưng vàng và ngoại tệ không tự động sinh ra được. Vì vậy mới có luồng kinh tế không chính thức trao đổi qua vàng và đô-la.

Ngược lại với câu hỏi đầu tiên, tại sao đôi khi người ta không muốn dùng ngân hàng? Có nhiều lý do khác nhau.

Thứ nhất là buôn bán qua trung gian ngân hàng để lại giấy tờ dấu vết – tức là phải trả thuế. Hình như ít ai muốn trả thuế cho dù là Âu-Mỹ-Việt, nên nếu buôn bán bằng tiền mặt không có sổ sách thì tránh được thuế má!

Thứ nhì dù nhà nước cấm đoán nhưng người bán cứ nhất mực đòi vàng hay đô-la (không phải lỗi của họ vì ai cũng đều sợ tiền mất giá) thì bắt buộc phải trao đổi theo tiền tệ ngoài luồng.

Lạm phát càng cao thì người bán càng dễ gặp khó khăn: lãi suất vay mượn làm ăn tăng vọt, trong khi đó hàng bán ra rồi nhiều khi tiền thu vào không đủ để bù vào nguyên vật liệu đã dùng trong sản xuất. Do đó doanh nghiệp muốn trao đổi bằng ngoại tệ, còn không được thì ngưng sản xuất. Từ đó dẫn đến ảnh hưởng dây chuyền sinh ra thất nghiệp và khiến kinh tế trì trệ.

Lý do thứ ba dân chúng tránh vì sợ ngân hàng sập tiệm! Ngân hàng phá sản do cho vay cẩu thả, cho vay theo chỗ quen biết hay cho vay vì bị các thế lực bên ngoài áp lực phải đầu tư vào những công ty thua lỗ. Khi có tin đồn là ngân hàng không đủ tiền thanh toán, dân chúng hoảng hốt vội vã rút tiền thì tình trạng càng chóng nguy ngập.

***

Nhưng dù vậy, khi nền kinh tế phát triển trở lại thì dân chúng vẫn phải dùng ngân hàng vì nhiều lý do khác nhau:

Đã nói đến phần trên nhưng nhấn mạnh nơi đây, tài sản càng nhiều thì không ai dám giữ tiền mặt (cho dù là ngoại tệ hay vàng) vì sợ cháy nhà hay bị cướp bóc.

Buôn bán ở mức độ nhỏ hay trung bình (“trung bình” ở đây có thể lên đến vài triệu USD!) có thể không qua ngân hàng để khỏi khai báo và tránh thuế, nhưng bù lại cứ phải lo đòi tiền hay sợ bị quịt nợ! Thời giờ thay vì để khuếch trương doanh vụ hay đi chơi nghỉ hè cứ phải dành cho đòi nợ!

Nếu người mua có sẵn tiền trong tài khoản, người bán rút trực tiếp từ ngân hàng thì rất an tâm khỏi lo lắng. Nhất là khi kinh doanh phát triển đến mức buôn bán với người không quen biết ở xa hay cả nước ngoài không thể nào thiếu được ngân hàng.

Tuy nhiên ít ai giữ tiền mặt nằm chết trong ngân hàng (vì tiền sẽ mất giá) mà đa số lúc nào cũng tìm chỗ đầu tư để sinh lời. Do đó khi mua bán thường mượn tiền qua ngân hàng rồi sẽ trang trải thanh toán sau. Bù lại ngânn hàng dựa trên quá trình chi thu để cung cấp điểm tín dụng thay vì tiền mặt. Người bán tuỳ theo điểm tín dụng, nếu cao thì ưu đãi khách quý còn thấp thì phải đòi thế chấp hay tăng giá (do rủi ro cao).

Tại các nền kinh tế phát triển điểm tín dụng quan trọng không kém tiền mặt. Vì thế chính ngân hàng và các công ty thẩm định tín dụng phải có uy tín lâu đời, được độc lập cho dù bị giám sát nghiêm nhặt thì người ta mới tin được. Bên cạnh đó là một nền báo chí tự do giúp phanh phui các yếu kém hay sai phạm.

Ngân hàng cũng giữ vai trò quan trọng cho việc thành hình các công ty lớn, vì không một cổ đông nào có thể đồng ý để tiền của chung lại do một hay vài cá nhân nắm giữ riêng.

Cuối cùng người ta cần mượn tiền ngân hàng. Thí dụ một cặp vợ chồng trẻ có thể chắt chiu dành dụm trong 20 năm để có 100 ngàn USD rồi vay thêm từ gia đình họ hàng để mua căn hộ nhỏ; hay nếu họ có việc làm tốt thì mượn ngân hàng ngay từ đầu để mua nhà rồi sau đó trả góp dần trong 15, 20 năm. Tình cảnh này suy rộng ra cũng giống như các công ty vay mượn vốn để khuếch trương và qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Để kết luận: khác với chế độ bao cấp, trong nền kinh tế thị trường mỗi người dân phải tự lo cho miếng ăn và đồng tiền mình làm ra. Nếu chính sách không phù hợp với thực tế thì ai nấy phải tìm mánh khoé để luồn lách, khiến nền kinh tế bị tổn hại lâu dài.

Đ. H. Q.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.