28/06/2011

Biển Đông: Kinh tế và Xung đột

TS Trần Vinh Dự

clip_image001

 

Đánh bắt cá trên đảo Lý Sơn - Ảnh: Lê Đức Dục

 
TCT - Những hòn đảo và bãi đá trên Trường Sa đều thuộc loại rất nhỏ, nhiều bãi đá lúc chìm lúc nổi theo sự lên xuống trong ngày của mực nước biển. Cái gì làm cho chúng trở nên hấp dẫn đến vậy?

Ba lý do quan trọng

Học giả Joshua P. Rowan thuộc khoa nghiên cứu quốc phòng và chiến lược Đại học Southwest (bang Missouri, Mỹ) cho rằng có ba lý do quan trọng ngoài cá và san hô:

Thứ nhất là mở rộng biên giới quốc gia và vùng đặc quyền kinh tế. Tất cả các nước đang tranh chấp trong vùng Trường Sa đều đã ký vào Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển. Nó quy định mỗi nước có quyền mở rộng biên giới lãnh thổ của mình tới 12 hải lý ra biển. Ngoài ra mỗi nước còn được sở hữu vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) vượt khỏi phạm vi lãnh thổ tới 200 hải lý. Như vậy, sở hữu được các hòn đảo ở Trường Sa sẽ giúp các nước mở rộng vùng lãnh thổ và vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Tuy nhiên, công ước này quy định rằng không thể dùng các bãi đá để xác định biên giới và vùng đặc quyền kinh tế vì theo định nghĩa, đó là những nơi con người không thể sống và thực hiện các hoạt động kinh tế. Trung Quốc đã khai thác vấn đề này và tìm mọi cách biến các bãi đá nửa chìm nửa nổi thành nơi con người có thể sinh sống bằng cách âm thầm vận chuyển đất đá - vật liệu xây dựng từ đất liền ra xây dựng các công trình kiên cố trên biển.

Thứ hai là dầu mỏ và khí đốt. Vùng đặc quyền kinh tế sẽ không có nhiều ý nghĩa cho lắm nếu nó thuộc vùng biển nghèo tài nguyên. Điều đáng mừng (hay đáng lo?), biển Đông là một vùng biển có dầu mỏ và khí đốt.

Nhiều nguồn tin, đặc biệt là từ Trung Quốc, cho rằng trữ lượng dầu mỏ trong vùng Trường Sa lên tới 105 tỉ thùng và nếu tính cả vùng biển Đông thì lên tới 213 tỉ thùng. Tuy nhiên, ước lượng của Bộ Năng lượng Mỹ cho rằng trữ lượng dầu mỏ của toàn bộ vùng biển Đông chỉ vào khoảng 7 tỉ thùng mà thôi, rất thấp so với một số vùng biển khác trên thế giới.

Trung Quốc cũng ước lượng có khoảng 2 triệu tỉ feet khối (ft3; 1ft3 = 0,0283m3) khí đốt dưới lòng biển Đông, trong khi Bộ Năng lượng Mỹ ước tính chỉ khoảng 150,3 ngàn tỉ ft3. Có vẻ như người Trung Quốc trong cơn khát năng lượng đã có cái nhìn quá lạc quan về tài nguyên dầu mỏ trên biển Đông.

Thứ ba là kinh tế chính trị. Kiểm soát biển Đông đồng thời có nghĩa là kiểm soát được tuyến giao thương lớn thứ nhì thế giới. Hằng năm có hơn một nửa các tàu vận tải hạng nặng của thế giới đi qua các eo biển Malacca, Sunda và Lombok từ Borneo và Mindanao tới Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản mang theo dầu mỏ, khoáng sản, cao su, gỗ và thủy sản.

Ngược chiều của dòng vận tải này là các tàu hàng chở đầy thành phẩm và bán thành phẩm từ các công xưởng của Đông và Đông Bắc Á. Riêng lượng dầu mỏ và khí hóa lỏng đi qua biển Đông lớn gấp ba lần lượng dầu khí đi qua kênh Suez và gấp 15 lần lượng dầu khí đi qua kênh Panama.

Bất cứ nước nào kiểm soát được vùng biển này cũng có thể ngăn trở việc vận chuyển hàng hóa qua đây và qua đó “bức tử” eo biển Malacca, các trung tâm kinh tế như Singapore, Hong Kong, và các nền kinh tế đang nổi lên ở Đông Nam Á (bao gồm Việt Nam), đồng thời gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nền kinh tế ở Đông và Đông Bắc Á.

Nhiều nhà phân tích cho rằng Trung Quốc muốn kiểm soát biển Đông một phần là muốn kiểm soát con đường vận chuyển huyết mạch đó. Tất nhiên thay vì đi qua biển Đông, các tàu vận tải có thể đi xuôi xuống phía nam, qua vùng biển của Indonesia rồi ngược lên Đông Bắc Á. Tuy nhiên, nếu đi theo lộ trình này thì chi phí vận chuyển tăng lên rất nhiều.

Ngoài vấn đề thương mại, kiểm soát biển Đông còn có ý nghĩa quan trọng về mặt quân sự. Đối với Trung Quốc, kiểm soát được biển Đông còn tạo ra một vùng đệm an toàn về hải phận và không phận, theo đó, đối phương khó có thể sử dụng để tấn công vào đại lục.

Bản chất kinh tế của xung đột

Nhu cầu sử dụng dầu lửa của Trung Quốc đã liên tục tăng từ giữa những năm 1980 tới nay với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Năm 2010, Trung Quốc trở thành nước tiêu dùng nhiên liệu nhiều nhất trên thế giới. Riêng về dầu lửa, Trung Quốc tiêu dùng hơn 9 triệu thùng/ngày vào năm ngoái và năm nay có thể lên tới trên 10 triệu thùng/ngày.

Theo một nghiên cứu hồi năm 2006 của Xuecheng Liu thuộc Quỹ Stanley Foundation, Trung Quốc dựa chủ yếu vào sản xuất trong nước để đáp ứng nhu cầu về dầu lửa. Số liệu của ông Liu dẫn ra vào năm này cho thấy 90% nhu cầu tiêu dùng về dầu lửa của Trung Quốc được đáp ứng từ sản xuất trong nước.

Theo ông Liu, chiến lược dài hạn về an ninh kinh tế là chiến lược ba chữ E, bao gồm Economic growth (tăng trưởng kinh tế), Energy security (an ninh năng lượng) và Environmental protection (bảo vệ môi trường). Để đảm bảo được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh như giai đoạn vừa rồi, vấn đề an ninh năng lượng ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng.

Chính vì chiến lược an ninh năng lượng như vậy mà mặc dù Trung Quốc vẫn dựa một phần vào nhập khẩu dầu từ Trung Đông, họ đặc biệt coi trọng việc tìm kiếm và khai thác các nguồn dầu khí của riêng mình. Dù về nguyên tắc, Trung Quốc có thể khai thác trữ lượng dầu mỏ hùng hậu trên đại lục nhưng do chiến lược khai thác dài hạn, đa số các mỏ dầu này còn chưa được đụng đến.

Thay vào đó, Trung Quốc đang tích cực hướng tới việc đầu tư khai thác ở nước ngoài và lấn chiếm các vùng dầu mỏ trong vùng tranh chấp với láng giềng. Theo Zhou Dadi - nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu năng lượng thuộc Ủy ban Cải cách và phát triển quốc gia Trung Quốc, biển Hoa Đông và biển Đông là hai khu vực có tiềm năng về khai thác dầu khí biển sâu, sẽ đóng vai trò rất lớn trong việc cung cấp và đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước.

Cho tới đầu năm nay, Trung Quốc không có công nghệ thích hợp để khai thác dầu khí ở vùng nước sâu. Vì thế họ phải dựa vào các công ty nước ngoài. Nhưng từ giữa tháng 5 năm nay, Trung Quốc đã cho hạ thủy giàn khoan dầu lớn và hiện đại nhất của họ mang tên Dầu khí Hải Dương 981.

Đây là giàn khoan nửa chìm nửa nổi hoạt động ở độ sâu tối đa 3.000m, độ sâu giếng khoan tối đa 12.000m, thuộc thế hệ thứ sáu trên thế giới và là giàn khoan cấp siêu sâu đầu tiên do Trung Quốc sản xuất. Với giàn khoan này, Trung Quốc có thể bắt đầu tự thực hiện chiến lược khai thác dầu ở biển Đông mà không cần phải nhờ đến các công ty nước ngoài.

Để dọn đường cho hoạt động khai thác trong vùng nước sâu ở biển Đông, Trung Quốc gần đây đã tích cực xúc tiến các hoạt động hòng đòi chủ quyền của họ ở vùng biển này. Ngoài việc hiện diện một lực lượng hải quân hùng hậu ở đảo Hải Nam, Trung Quốc còn sử dụng các lực lượng dân sự trá hình thâm nhập sâu vào các vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của các nước Việt Nam và Philippines.

Chiến lược này trên thực chất là tạo ra các xung đột giả để Việt Nam và Philippines bị cuốn theo và không tập trung được vào cuộc giành giật tài nguyên mà họ âm thầm tiến hành ở vùng nước sâu thuộc Trường Sa.

Bảo vệ quyền lợi kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông

Việt Nam chưa có công nghệ khai thác dầu khí ở vùng nước sâu. Tuy nhiên, biển Đông không chỉ quan trọng đối với Việt Nam về dầu mỏ, khoáng sản hay ngư trường. Chủ quyền - cũng như lịch sử lâu đời về chủ quyền và quyền chủ quyền - cùng những lợi ích chiến lược khác về lãnh hải và địa chính trị như đã nêu ở trên khiến Việt Nam nhất định không thể nhượng bộ.

Kinh tế biển sẽ ngày càng quan trọng đối với Việt Nam. Việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp trên các vùng biển đảo của Việt Nam, vì thế, phải là vấn đề cốt lõi trong chiến lược quốc phòng của đất nước. Bảo vệ biển đảo tức là bảo vệ tương lai, nguồn sống và sức phát triển của dân tộc.

Để bảo vệ quyền lợi của mình thì không nhất thiết phải sử dụng đến bạo lực. Nói như TS Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ: “Nếu họ tiếp tục phá, ta phải có cách ngăn cản theo đúng thủ tục pháp lý. Ví dụ trong trường hợp Viking II thì các lực lượng của Việt Nam hoàn toàn có quyền bắt giữ tàu cá dẫn độ vào bờ, làm đúng thủ tục và đưa ra xét xử tại tòa án. Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 đã nói rõ điều đó”. Vừa cương quyết, duy lý, hành động dựa trên pháp luật, vừa tránh sử dụng các biện pháp bạo lực là chìa khóa để Việt Nam bảo vệ thành công chủ quyền hợp pháp của mình trên biển.

T. V. D.

Từ những năm 1990, các động thái của Trung Quốc trên biển Đông đã tiết lộ “cơn khát” dầu khí khó giấu được của họ:

* Năm 1992, Trung Quốc đã ký hợp đồng cho phép Crestone, một công ty dầu mỏ của Mỹ, tiến hành thăm dò ở Trường Sa và Việt Nam đã ngay lập tức phản đối.

* Năm 1994, Trung Quốc lại cho Crestone thăm dò ở vùng Tư Chính, thuộc block 133, 134 và 135 của Việt Nam. Khi đó, tàu hải quân của Việt Nam đã buộc tàu thăm dò của Trung Quốc ra khỏi vùng biển này.

* Tháng 3-1997, Trung Quốc dự định thực hiện cú khoan dầu ở mỏ dầu Kantan-3 gần Trường Sa. Việt Nam phản đối và cuối cùng Trung Quốc phải hủy bỏ dự án này. Cùng năm, vào tháng 12, Việt Nam phản đối tàu thăm dò Trung Quốc và hai tàu tiếp vận của họ đi vào vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Cả ba tàu này đều được tàu chiến Việt Nam áp tải ra khỏi khu vực.

* Tháng 9-1998, Việt Nam phản đối sau khi Trung Quốc ra báo cáo nói rằng Crestone và Trung Quốc sẽ tiếp tục thăm dò dầu khí ở vùng Tư Chính (thuộc tỉnh Khánh Hòa).

__________

Nguồn:

Rowan J.P., 2005: “The U.S-Japan Security Alliance, Asean, and the South China Sea Dispute,” Asian Survey, Vol. XLV, p.p. 414-436

Xuecheng Liu, 2006: “China’s Energy Security and Its Grand Strategy,” Policy Analysis Brief, The Stanley Foundation

Bộ Năng lượng Hoa Kỳ: http://ei-01.eia.doe.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/TablesMaps.html

Nguồn: Tuoitre.vn