05/06/2011

GS. Carl Thayer: Việt Nam cần phải làm gì trong vấn đề Biển Đông?

Theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer, Việt Nam có thể đã ở vị thế tốt hơn hiện nay trong vấn đề Biển Đông nếu như cách đây khoảng một thập niên, Việt Nam theo đuổi một đường hướng ngoại giao khác .

clip_image001

Biển hiền hòa nhưng cũng ngầm chứa bao đe dọa. Tình hình hiện nay tại Biển Đông đang khiến nhiều người quan ngại. (iStockphoto)

Tóm lược

    • Ông Carl Thayer (Carlyle A. Thayer) là giáo sư chính trị học tại Học viện Quốc phòng Úc đồng thời là giáo sư Khoa Xã Hội học và Nhân văn tại Ðại Học New South Wales.
    • Ông là chuyên gia Việt Nam học và là nhà nghiên cứu quân sự, kiêm Giám đốc Diễn đàn Nghiên cứu Quốc Phòng Úc.
    • Giáo sư Carl Thayer là tác giả của rất nhiều tác phẩm và bài viết nghiên cứu tình hình các quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt là Việt Nam.

Tình hình tại vùng Biển Đông trong thời gian gần đây đã trở nên sôi động, đặc biệt từ ngày 26/5 khi các tàu hải giám Trung Quốc phá hoại thiết bị của tàu thăm dò dầu khí Việt Nam. Sự việc này diễn ra cách bờ biển Việt Nam 120 km và cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 600 km.

Mới đây, tin cho biết hải quân Trung Quốc đã dùng súng uy hiếp ngư dân Việt Nam hoạt động tại vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Phát ngôn viên hai nước đều đã lên tiếng khẳng định chủ quyền tại những khu vực tranh chấp.

Những sự việc nghiêm trọng vừa qua đã trở thành đề tài nóng bỏng được dư luận và giới truyền thông trong và ngoài nước theo dõi sát sao và bình luận.

Bay Vút đã có cuộc phỏng vấn Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam, xung quanh vấn đề Biển Đông:

Bay Vút: Thưa giáo sư, tại sao tình hình trong vùng Biển Đông lại đột nhiên trở nên căng thẳng trong thời gian gần đây?

GS. Carl Thayer: “Trung Quốc đã thực hiện ba hành động khiến tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng”.

“Hôm mùng Hai tháng Ba, các tàu tuần tiễu Trung Quốc ra lệnh cho một tàu thăm dò địa chấn Philippines phải rời vùng biển quanh khu vực ‘bãi Cỏ Rong’ (Reed Bank)”.

“Trong tháng Năm, nhà cầm quyền địa phương Trung Quốc lại đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong khu vực Biển Đông. Lệnh này đã giúp ngư dân Trung Quốc ngày càng lấn lướt khi họ tiến vào đánh bắt thủy sản trong các ngư trường truyền thống của Việt Nam”.

“Hôm 26/5 các tàu hải giám Trung Quốc tiến lại gần một tàu thăm dò dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Quốc giaViệt Nam (PVN) và cố tình cắt đứt dây cáp chìm dùng để vẽ bản đồ khu vực. Phía Trung Quốc cũng ra lệnh tàu Việt Nam phải rời khu vực này. Những động thái này của Trung Quốc diễn ra sâu trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Việt Nam và ở ngoài khơi thành phố Nha Trang”.

“Các hành động của Trung Quốc khiến Philippines và Việt Nam phản đối

Trung Quốc phản ứng lại bằng cách tuyên bố nước này vẫn chỉ thực hiện các thẩm quyền ‘bình thường’ của mình khi ‘quản lý’ vùng biển mà Trung Quốc cho là thuộc lãnh hải của mình”.

Bay Vút: Thưa Giáo sư, liệu tình hình có thể tồn tệ hơn hay không?

GS. Carl Thayer: “Tình hình có thể tồi tệ hơn nếu Trung Quốc tiếp tục hung hãn khẳng định chủ quyền bằng cách sử dụng vũ lực chống lại các tàu thăm dò không có vũ trang. Cho tới nay Trung Quốc vẫn sử dụng các tàu hải giám dân sự thay vì dùng chiến hạm”.

“Philippines hoặc Việt Nam có thể sẽ phái tàu bảo vệ đi kèm các tàu của mình. Điều này sẽ khiến tình hình trở nên phức tạp hơn”.

Bay Vút: Việt Nam phải làm gì để giải quyết tình hình này?

GS. Carl Thayer: “Việt Nam đã gởi kháng thư tới Đại Sứ quán Trung Quốc.
Trước tiên Việt Nam phải tiếp tục phản đối các hành động của Trung Quốc và công khai hóa vấn đề này. Đồng thời, Việt Nam phải hối thúc Trung Quốc mở một cuộc họp cấp cao với giới lãnh đạo Bắc Kinh để tìm phương cách ngăn những vụ việc tương tự có thể tiếp tục xảy ra hoặc ngăn chặn đừng để cuộc tranh chấp leo thang”.

“Thứ nhì là Việt Nam phải tìm kiếm sự hậu thuẫn từ phía Indonesia, chủ tịch hiện thời của ASEAN. Mục đích là để quốc gia này lãnh đạo các thành viên ASEAN hình thành một lập trường thống nhất đối với Trung Quốc trong những phiên họp sắp diễn ra trong năm nay”.

“Thứ ba là Việt Nam phải vận động những quốc gia hàng hải khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Úc để họ hậu thuẫn về mặt ngoại giao”.

“Thứ tư là Việt Nam phải yêu cầu mở các cuộc hội đàm với các quốc gia hàng hải thân hữu để bàn về vấn đề duy trì chủ quyền đối với Vùng Đặc quyền Kinh tế của những nước này”.

“Thứ năm là Việt Nam phải cải thiện tàu bè để tạo thuận lợi choviệc thông tin, liên lạc giữa các tàu thăm dò dầu khí và các nhà chức trách trong lĩnh vực hải quân và không quân. Mục đích của việc này nhằm hộ tống bằng tàu tuần tra và yểm trợ bằng không quân cho các tàu dò tìm dầu khí của Việt Nam nếu như những tàu này bị tàu hải giám Trung Quốc đe dọa”.

Bay Vút: Việt Nam có thể được ASEAN giúp đỡ để giải quyết tình hình hay không, thưa ông?

GS. Carl Thayer: “Năm ngoái ASEAN và Trung Quốc đã xét duyệt Nhóm Công tác Hỗn hợp (vốn là nhóm vẫn đang ‘sống dở chết dở’) để thực thi bản ‘Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc’ (DOC). Mặc dù DOC đã được Trung Quốc và ASEAN ký hồi năm 2002, tuy nhiên văn kiện này chưa bao giờ được thi hành. ASEAN đang hối thúc Trung Quốc tạo thêm điều kiện để bản quy tắc hành xử có hiệu lực hơn. Tất cả những vấn đề này vẫn không có tiến triển và chỉ dậm chân tại chỗ”.

“Việt Nam phải cùng với Philippines và những quốc gia duyên hải khác hối thúc Trung Quốc thực hiện thêm các biện pháp để vấn đề này tiến triển. Điều mà ASEAN có thể làm là cố tìm ra được những động thái hành xử mà các bên liên quan có thể chấp nhận được và đưa ra những biện pháp để xây dựng niềm tin. Cuộc xung đột về lãnh thổ và chủ quyền chỉ có thể được giải quyết bởi các quốc gia có liên quan trực tiếp hoặc với sự đồng ý của những nước này và nhờ quốc tế làm trọng tài phân xử”.

Bay Vút: Thế còn Hoa Kỳ thì sao? Việt Nam có thể được Hoa Kỳ giúp đỡ trong vấn đề này chứ, thưa Giáo sư?

GS. Carl Thayer: “Hoa Kỳ không theo phe nào trong vấn đề xung đột chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy, tôi cho là Hoa Kỳ sẽ không trực tiếp can dự vào vấn đề song phương giữa Trung Quốc với Việt Nam. Hoa Kỳ đã chính thức đề nghị góp tay giải quyết cuộc tranh chấp. Tuy nhiên, phía Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị và xem đó như là sự can thiệp từ bên ngoài. Đại sứ Hoa Kỳ tại Philippines đã lên tiếng kêu gọi các bên hãy tự kiềm chế và giải quyết vấn đề một cách hòa bình”.

“Hoa Kỳ sẽ bảo vệ quyền an toàn và tự do hàng hải trong hải phận quốc tế. Tuy nhiên những hành động của Trung Quốc không đe dọa những khu vực này. Hoa Kỳ cũng sẽ chống lại bất kỳ nước nào khác muốn thiết lập quyền bá chủ tại Biển Đông”.

“Việt Nam không thể thực sự trông mong Hoa Kỳ giúp đỡ. Việt Nam không phải là nước ký hiệp ước đồng minh với Hoa Kỳ như là Philippines, cũng không phải là đối tác chiến lược với Hoa Kỳ như Singapore. Mặc dù Việt Nam đã bắn tiếng muốn đẩy mạnh công cuộc hợp tác quốc phòng với Hoa Kỳ, tuy nhiên Hoa Kỳ quan ngại sẽ bị ‘lừa phỉnh’ trong cuộc tranh chấp song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc”.

“Việt Nam đang phải trả giá vì đã nhượng bộ và chiều ý Trung Quốc trong thời gian quá dài trong khi đó lại do dự và miễn cưỡng trong việc phát triển mối quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ. Nếu những mối quan hệ này đã được phát triển từ khoảng một thập niên qua thì nay Việt Nam đã ở vị trí tốt hơn để hợp tác với Hoa Kỳ trong vấn đề này”.

Bay Vút: Thưa Giáo sư, trong trường hợp xấu nhất là bùng nổ chiến tranh thì chính phủ Việt Nam sẽ trông cậy vào đâu để tiến hành chiến tranh và để được giúp đỡ?

GS. Carl Thayer: “Trong trường hợp đó thì trước tiên Việt Nam chỉ có thể trông cậy vào chính mình để bảo vệ quyền lợi của mình. Bên cạnh đó, ASEAN và cộng đồng quốc tế sẽ ngay lập tức chú ý tới Biển Đông nếu bất kỳ cuộc xung đột vũ trang nào xảy ra. Hai bên trong cuộc xung đột sẽ chịu áp lực rất lớn để ngừng giao tranh. Nếu Trung Quốc sử dụng vũ lực, uy tín nước này sẽ bị phương hại đồng thời ảnh hưởng chính trị của Bắc Kinh sẽ bị suy giảm. Ngoài ra, các quốc gia chính trong khu vực sẽ xích lại gần hơn với Hoa Kỳ và các đồng minh của nước này”.

Bay Vút: Theo ông, người dân Việt Nam nghĩ gì về cách giải quyết vấn đề Biển Đông và biên giới của chính phủ nước này?

GS. Carl Thayer: “Biển Đông là vấn đề rất nhạy cảm ở Việt Nam. Kể từ cuối năm 2007, tinh thần dân tộc chống Trung Quốc của người dân Việt Nam bùng phát khi Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa và về vấn đề khai thác bô xít. Trách nhiệm hành chính của huyện Tam Sa này bao trùm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Trung Sa (Macclesfield Bank). Quyền lợi thương mại của người dân và các ngành nghề ở Việt Nam liên quan tới việc đánh bắt hải sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Một số bộ phận trong giới trí thức ủng hộ chủ trương cho rằng chính phủ phải tỏ ra cứng rắn hơn trong việc đáp ứng các đòi hỏi của Trung Quốc. Tinh thần chống Trung Quốc cũng xuất hiện trong một số bộ phận của giới truyền thông và các blogger. Tuy nhiên những việc làm của họ đã bị chính quyền Việt Nam kiểm soát. Công luận nay rõ ràng đang tạo áp lực và đòi chính quyền phải có lập trường cứng rắn hơn đối với Trung Quốc”.

Bay Vút: Nhìn chung, người dân Việt Nam nghĩ gì về việc chính phủ Việt Nam quan hệ với Trung Quốc?

GS. Carl Thayer: “Việt Nam và Trung Quốc đã bình thường hóa quan hệ hồi năm 1991. Từ đó tới nay chính phủ và Đảng Cộng sản hai nước đã phát triển mối quan hệ sâu rộng. Đường biên giới trên đất liền đã được phân định và nay vùng biên giới hai nước đã biến đổi từ khu vực đối đầu thành khu vực hợp tác. Công cuộc thương mại giữa biên giới hai nước đã phát triển mạnh có lợi cho người tiêu dùng Việt Nam. Vịnh Bắc Bộ đã được phân ranh và hai nước đã hợp tác với nhau trong vấn đề ngư nghiệp. Chính phủ hai nước tiếp tục tổ chức các cuộc thảo luận cấp chuyên gia để bàn về vấn đề Vịnh Bắc Bộ và những nguyên tắc dàn xếp những cuộc tranh chấp hàng hải. Từ xa xưa, người dân Việt Nam đã nhận thức rằng Trung Quốc là quốc gia láng giềng và dù muốn hay không thì họ vẫn phải chấp nhận thực tế đó”.

“Tuy nhiên hiện nay có một số vấn đề khiến nhiều người lo ngại như mức thâm thủng thương mại giữa hai nước lên tới 13 tỷ đô-la nghiêng về phía có lợi cho Trung Quốc, việc Trung Quốc hiện đại hóa quân đội, việc công nhân Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp vào Việt Nam, việc đầu tư của Trung Quốc ví dụ trong vấn đề bô xít và môi trường, hoặc việc Trung Quốc xách nhiễu ngư dân người Việt ”.

“Thật khó mà có thể khái quát hóa suy nghĩ của người dân Việt về việc chính phủ nước này quan hệ với Trung Quốc. Lý do là vì ở Việt Nam không có các cuộc thăm dò công luận, truyền thông bị kiểm duyêt và những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bị ngăn cấm”.

“Tuy nhiên, rõ ràng là một bộ phận lớn trong giới có học và những người hoạt động trong các ngành nghề liên quan tới đánh bắt hải sản muốn thấy chính phủ cương quyết hơn trong việc đối phó với Trung Quốc. Một số người trong hàng ngũ trí thức ở Việt Nam muốn hải quân Việt Nam được tăng cường thêm sức mạnh để có thể bảo vệ chủ quyền. Chính phủ Việt Nam đã phần nào đáp ứng đòi hỏi của người dân qua việc cho phép giới truyền thông loan tải thêm thông tin về quan hệ với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ giữa hai nước cần phải được giải quyết một cách khéo léo theo phương cách ngoại giao và đừng để bị ảnh hưởng bởi những xúc cảm nhất thời”.

Bay Vút: Xin cám ơn Giáo sư Carl Thayer

Nguồn: bayvut.com.au