06/06/2011

Không còn sợ hãi

Aung San Suu Kyi

imageBà Aung San Suu Kyi sinh ngày 19/6/1945, là một lãnh tụ đối lập tại Miến Điện. Bà là con gái tướng Aung San (1915-1947), người thành lập quân đội Miến Điện, với quan niệm “quân đội phục vụ tổ quốc chứ không phục vụ một cá nhân hay đảng phái nào”. Ông là có công lớn giúp Miến Điện giành độc lập từ thực dân Anh. Ông bị ám sát 6 tháng trước khi Miến Điện độc lập vào năm 1947. Đến nay, ông vẫn được người dân kính trọng và yêu mến như một anh hùng dân tộc.

Bà Aung San Suu Kyi lấy bằng cử nhân Triết học, Chính trị và Kinh tế năm 1969 tại Đại học Oxford, và bằng tiến sĩ Đông phương và Phi châu học năm 1985 tại Đại học London. Bà lập gia đình năm 1977, có 2 con trai, chồng bà là tiến sĩ Michael Aris (1946-1999), chuyên gia nghiên cứu Văn Hóa Tây Tạng.

Năm 1988 bà trở về Miến Điện khi mẹ lâm bệnh và sau đó bà trở thành lãnh tụ cuộc đấu tranh vì dân chủ lúc đó đang đến hồi quyết liệt. Vì các hoạt động dân chủ, bà bị quản thúc tại gia từ 20/7/1989.

Dù bị quản thúc, trong cuộc tổng tuyển cử năm 1990 tại Miến Điện, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ của bà giành được 59% số phiếu bầu toàn quốc, và 81% (392/485) số ghế tại Quốc hội. Nhưng kết quả này bị nhà cầm quyền quân phiệt Miến Điện bác bỏ.

Bà được trao Giải Sakharov Vì Tự do Tư tưởng năm 1990, Bài “Không còn sợ hãi” (Freedom From Fear) dưới đây là diễn văn được đọc tại lễ trao giải vắng mặt bà, diễn ra tại Strasbourg ngày 10/7/1991.

Trong tuần lễ sau đó, diễn văn này xuất hiện đầy đủ hoặc được trích đoạn trên các tờ The Times Literary Supplement, New York Times, Far Eastern Economic Review, Bangkok Post, Times of India và trên báo chí Đức, Na Uy, Ái Nhĩ Lan.

Aung San Suu Kyi được trao giải Nobel Hoà Bình năm 1991, khi vẫn đang bị quản thúc. Trong 21 năm từ 1989 đến 2010, có cả thẩy 15 năm bà bị quản thúc tại gia. Bà được trả tự do ngày 13/11/2010.

Diễn văn này được đăng lại trong cuốn “Freedom From Fear”, do Penguin Books ấn hành năm 1995. Các đề mục nhỏ là của người dịch.

An Văn

Tham, giận, ngu, sợ

Quyền lực không làm con người hư hỏng như thường được nghĩ,* con người chỉ thực sự hư hỏng vì sợ hãi.

Kẻ bề trên đang nắm quyền trong tay có thể hư hỏng vì sợ mất quyền lực.

Kẻ bé mọn bên dưới có thể hư hỏng vì sợ đòn thù của kẻ có quyền thế bên trên.

Phần lớn người dân Miến Điện đều biết đến bốn lầm lạc sau đây:

Tham, Chanda-gati, sự hư hỏng do lòng tham gây ra, khiến con người bỏ đường nẻo chính và chạy theo lợi lộc vật chất hoặc bị cuốn vào mê lộ chỉ vì yêu mê ai quá mức.

Sân, Dosa-gati, sự hư hỏng do nóng giận, đi vào con đường sai lầm để làm hại người mình có ác cảm.

Si, Moga-gati, tức ngu si, lạc đường vì ngu dốt.

Nhưng có lẽ tệ hại nhất trong bốn sai lầm chính là Úy, Bhaya-gati, tức sợ hãi, vì sợ hãi không chỉ bóp nghẹt và lần hồi hủy diệt ý thức về đúng và sai, mà sợ hãi còn là gốc gác của ba sai lầm kia nữa.

Tính hám lợi không là gốc duy nhất của lòng tham, mà nỗi lo sợ rằng mình có thể bị thiếu thốn, sợ rằng người mình say mê không tin yêu mình nữa, cũng là gốc của tham lam..

Cũng vậy, nỗi sợ thất bại, sợ bị làm nhục, sợ bị tổn thương, một cách nào đó, cũng là gốc của nóng giận và ác ý.

Bên cạnh đó, sợ hãi cũng là gốc của ngu si khi con người chỉ vì sợ hãi mà đánh mất quyền tự do theo đuổi sự thật.

Vì sợ hãi có thể bào mòn con người như thế nên chẳng lạ gì ở một xã hội mà sợ hãi tràn lan từ trong ra ngoài thì sự suy đồi, nhũng nhiễu, hư hoại nhân cách cũng sẽ đầy dẫy từ trên xuống dưới.

Khổ và nhục

Quần chúng bất mãn khi chật vật đối đầu với kinh tế khó khăn được xem là nguyên nhân chính dẫn đến phong trào đòi dân chủ ở Miến Điện do sinh viên châm ngòi bằng các cuộc xuống đường năm 1988.

Đúng là sau nhiều năm quản lý tồi tệ, với những chính sách phi lý, những biện pháp xử lý không hiệu quả, lạm phát leo thang và thu nhập thật của người dân giảm sút đã đẩy đất nước vào thảm họa kinh tế.

Nhưng không phải chỉ vì khó làm ăn sinh sống, dù sinh sống tối thiểu, mà sự nhẫn nhục của một dân tộc vốn dĩ hiền hòa cam chịu bị sói mòn. Quần chúng còn mất kiên nhẫn vì nhục. Nhục khi thấy cuộc sống quanh mình nhếch nhác, đầy rẫy những tham nhũng, suy đồi, sợ hãi.

Sinh viên xuống đường không chỉ vì những người bạn đã ngã xuống trong đấu tranh, mà còn để đòi quyền sống đã bị chế độ độc tài khước từ, một chế độ đã làm cuộc sống hiện tại trở thành vô nghĩa và khiến tương lai cũng mịt mù vô vọng.

Và khi cuộc đấu tranh của sinh viên phản ảnh được nỗi tuyệt vọng của quần chúng nói chung thì những cuộc xuống đường đã nhanh chóng trở thành một phong trào lan rộng toàn quốc.

Một trong những người ủng hộ phong trào mạnh nhất là giới doanh nhân, những người đã tự tạo cho mình nhiều kỹ năng và mối quan hệ để không chỉ tồn tại mà còn thành đạt giữa xã hội thời độc tài.

Nhưng sự thành đạt, giàu có cũng không mang lại cho họ cảm giác an tâm hay thỏa mãn, và họ cùng mọi công dân khác, bất kể thuộc tầng lớp kinh tế nào, đều thấy rằng để thực sự có một cuộc đời đáng sống, thì tối thiểu phải có một chính quyền có trách nhiệm. Đó là điều kiện cần, dù chưa đủ.

Nước và thủy tinh

Người dân Miến Điện đã khổ đau và mỏi mòn vì sống cảnh cá chậu chim lồng, có thể nói họ giống như nước trong hai bụm tay của kẻ cầm quyền, như được mô tả trong lời thơ sau:

Trong xanh đó, ta có thể trong xanh đó

Như nước trong bụm tay người.

Nhưng kìa, ta cũng có thể trở thành

Những mảnh thủy tinh bén ngót

Cũng trong bụm tay kia.

Những mảnh thủy tinh, rất bé nhỏ nhưng luôn có độ bén nhọn để tự vệ chống lại bàn tay đang hăm hở bóp nát mình, có thể được xem như biểu tượng của đốm lửa dũng cảm, luôn nhen nhóm trong lòng những người muốn giải phóng mình khỏi ách áp bức.

Tướng Aung San, người gánh vác trách nhiệm như một nhà cách mạng, đã không mệt mỏi tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề đang bủa vây Miến Điện trong thời kỳ thử thách. Và ông đã khơi dậy lòng dũng cảm trong dân chúng. Ông nói:

“Đừng dựa dẫm vào lòng can đảm và sự dũng cảm của người khác. Mỗi người và mọi người phải biết hy sinh để trở nên can đảm và dũng cảm. Chỉ đến khi đó, chúng ta mới được hưởng tự do thực sự.”

Luật và nhân phẩm

Người may mắn sống trong những nước có nền pháp trị đúng nghĩa khó có thể hiểu được người dân sống trong những xã hội độc tài, nơi sợ hãi là một phần cuộc sống hàng ngày, đã phải khó khăn ra sao để sống cho tử tế, không sai trái.

Luật lệ công bằng không chỉ ngăn ngừa sự hư hỏng bằng những hình phạt áp dụng không thiên vị cho bất cứ ai phạm luật. Chúng còn giúp tạo ra một xã hội trong đó con người có những điều kiện căn bản để duy trì một cuộc sống hợp nhân phẩm mà không cần phải làm những việc sai trái.

Khi xã hội không có những luật lệ như vậy, thì gánh nặng bảo vệ những nguyên tắc công bằng và sự tử tế trở thành việc của từng con người bình thường, của bạn, của tôi.

Và khi mỗi người đều cố gắng kiên trì sống trong công bằng và tử tế, thì cộng dồn lại, họ sẽ thay đổi cả một đất nước. Một đất nước đang bị sự sợ hãi bóp méo, cả lý trí lẫn lương tâm, sẽ trở thành một đất nước được luật pháp bảo vệ, giúp con người thực hiện giấc mơ an hòa và công bằng, cùng lúc làm giảm những thói hư tật xấu trong bản tính người.

Nửa vời

Trong thời đại mà những kẻ có quyền lực nhưng phi nhân tính có thể dùng các loại vũ khí giết người tối tân, do kỹ thuật vượt bực tạo ra, để khống chế kẻ yếu đuối và không thể tự vệ, thì chính trị và đạo đức lại càng cần phải tiến lại gần nhau hơn, cả ở phạm vi quốc gia lẫn phạm vi quốc tế.

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc khẳng định rằng: “Mọi cá nhân và mọi thành phần của xã hội” cần cố gắng hết sức để giành cho được những quyền tự do căn bản mà bất cứ ai cũng cần được hưởng, dù họ thuộc chủng tộc nào, quốc tịch nào, theo đạo nào.

Nhưng chừng nào vẫn còn có những chính quyền lấy trấn áp dân chúng làm quyền lực thay vì được dân chúng tín nhiệm ủy quyền, và chừng nào vẫn còn các nhóm lợi ích đặt quyền lợi trước mắt của mình lên trên hòa bình và thịnh vượng lâu dài của toàn xã hội, thì chừng đó các nỗ lực quốc tế nhằm bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền cũng sẽ chỉ là một cuộc đấu tranh nửa vời mà thôi.

Và như thế, sẽ vẫn còn những hình thức đấu tranh mà trong đó nạn nhân của đàn áp sẽ phải dùng đến với sức mạnh tinh thần để bảo vệ những quyền bất khả xâm phạm mà một người con trong gia đình nhân loại xứng đáng được hưởng.

Cách mạng tinh thần

Cuộc cách mạng lý tưởng chính là cuộc cách mạng tinh thần, xuất phát từ niềm xác tín rằng con người cần phải thay đổi thái độ sống và thang giá trị, nếu muốn góp phần thúc đẩy dân tộc phát triển.

Một cuộc cách mạng nếu chỉ nhắm thay đổi chính sách và guồng máy nhà nước, nếu chỉ nhắm cải thiện nhu cầu vật chất của người dân thì sẽ khó có thể thành công đúng nghĩa.

Không có cuộc cách mạng tinh thần nói trên, thì những lực lượng tạo ra bất công trong trật tự cũ sẽ vẫn tiếp tục hoành hành, tạo nên chướng ngại liên tục trên con đường cải tổ và tái tạo.

Không phải chỉ hô hào cho tự do, dân chủ và nhân quyền là đủ, mà phải có sự đồng tâm nhất trí để đấu tranh bền bỉ, chấp nhận hy sinh cho sự thật vĩnh cửu được sáng tỏ, và để chống lại cả tác hại của tham lam, giận ghét, ngu si và sợ hãi nữa.

Thánh nhân và tội nhân

Thánh nhân, có thể nói, cũng chỉ là một tội nhân nhưng là một tội nhân luôn cố gắng thay đổi.

Cũng thế, người tự do cũng chỉ là người bị đàn áp nhưng lại không ngừng cố gắng sống tự do.

Và trong khi thực hành như thế, họ đã biến mình trở thành những con người có thể gánh vác trách nhiệm và duy trì kỷ cương, vốn là những điều kiện cần có cho một xã hội tự do.

Trong những quyền tự do căn bản giúp con người cảm thấy đầy đủ, trọn vẹn, thì quyền tự do không còn phải sợ hãi nổi bật lên, vừa như phương tiện, vừa như mục đích.

Một dân tộc nếu muốn xây dựng một quốc gia hùng cường, với những định chế dân chủ được bắt rễ sâu như một bảo đảm chống lại quyền lực đen có bàn tay nhà nước nhúng vào, thì dân tộc đó trước hết phải học cách giải phóng mình khỏi vòng luẩn quẩn giữa một bên là sự thờ ơ, sống chết mặc bay, còn bên kia là sự sợ hãi, co cụm, bất động.

Quốc bảo

Là người luôn làm những gì mình nói, bản thân tướng Aung San luôn cho thấy sự can đảm của mình, không chỉ ở ngoài mặt, mà còn là sự dũng cảm để ông nói lên sự thật, trung thành với lời mình nói, chấp nhận phê bình, tự nhận những lỗi lầm, biết sửa chữa sai phạm, tôn trọng đối lập, nói chuyện với kẻ thù, và đặt dân chúng làm quan tòa phán xét xem mình có xứng đáng với vai trò lãnh đạo hay không.

Chính vì sự dũng cảm đầy đạo đức đó mà ông luôn được người dân Miến Điện yêu mến và tôn trọng, không chỉ như một chiến sĩ anh hùng, mà còn là nguồn cảm hứng và lương tâm của cả một đất nước.

Có lẽ những lời của Jawaharlal Nehru nói về Mahatma Gandhi cũng có thể được dùng cho trường hợp tướng Aung San:

“Cốt lõi giáo huấn của Ganhdi là Không Sợ Hãi và Sự Thật, là những hành động phù hợp với hai giá trị này, trong khi vẫn phải luôn quan tâm tới lợi ích của quần chúng”.

Gandhi, người truyền bá vĩ đại của đường lối bất bạo động, và Aung San, người thành lập quân đội quốc gia, là hai người có tính cách rất khác nhau. Nhưng nếu những thách thức của chế độ toàn trị ở bất kỳ đâu và lúc nào cũng có nét giống nhau, thì phẩm chất của những người đứng lên đối đầu với những thách thức ấy cũng có những tương đồng nhất định.

Nehru - người cho rằng việc gieo trồng tâm dũng cảm trong lòng người Ấn Độ là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của Gandhi - là một chính khách hiện đại, nhưng khi đánh giá các nhu cầu của phong trào đòi độc lập trong thế kỷ 20, ông lại tìm về với triết học Ấn Độ cổ đại và nói rằng:

“Khả năng quý nhất của một con người chính là sự vô úy (abhaya), và quốc bảo của một đất nước chính là những con người không còn sợ hãi. Những người ấy không chỉ dũng cảm trong phong cách bên ngoài, mà trong tâm họ sợ hãi cũng không còn.”

Rèn luyện

Không sợ hãi có thể là một khả năng thiên phú, nhưng có lẽ còn quý giá hơn nếu lòng can đảm là kết quả của nỗ lực rèn luyện.

Lòng can đảm đến từ việc rèn luyện thói quen không để cho sợ hãi sai khiến dẫn dắt mình.

Đó là ‘sự bình tâm trước thử thách’, và mỗi khi người có lòng can đảm đương đầu với một áp lực lớn lao và dai dẳng thì sự bình tâm kia lại được làm mới thêm lần nữa.

Trong một xã hội mà hệ thống chính trị không cho người dân hưởng những quyền làm người căn bản, thì sự sợ hãi lan tràn khắp nơi. Ai nấy sợ bị bắt đi tù, sợ bị tra tấn, sợ chết, sợ mất bạn bè, sợ gia đình tan nát, sợ tài sản hoặc phương tiện kiếm sống bị tịch thu, sợ nghèo đói, sợ cô lập, sợ thất bại.

Hình thức sợ hãi tinh vi và nguy hiểm nhất chính là khi ai nấy đều xem những việc làm nho nhỏ nhưng đầy can đảm mỗi ngày, giúp con người giữ gìn lòng tự trọng và nhân phẩm, là những việc làm ngu xuẩn, vớ vẩn, bất cập, vô ích. Không những thế, họ còn coi sự phủ nhận kia là lẽ tự nhiên, thậm chí còn là sự khôn ngoan, hiểu biết nữa.

Người dân sống lâu ngày trong sợ hãi, nơi lý lẽ thuộc về kẻ mạnh, nơi kẻ yếu bị xem là giặc, sẽ rất khó tự giải thoát mình khỏi sức công phá của sợ hãi.

Tuy vậy, dù bị chà đạp dưới bộ máy dữ tợn nhất, lòng can đảm vẫn cứ xuất hiện, lan từ người này đến người kia, vì sợ hãi không phải là thuộc tính tự nhiên của con người văn minh.

Niềm tin

Nguồn gốc của lòng can đảm và sự kiên định trước bạo quyền thường là một niềm tin vững chắc vào sự thiêng liêng của những chuẩn mực đạo đức, kết hợp với cảm quan về lịch sử rằng dù có trắc trở thế nào, loài người cũng sẽ tiếp tục dấn bước trên con đường tiến bộ để trở thành những con người tốt hơn, cả về tinh thần lẫn vật chất. Chính nhờ khả năng tự cải thiện và tự giải cứu này mà con người khác xa loài vật.

Bắt rễ sâu trong trách nhiệm của con người là ý thức về sự hoàn hảo, là lòng khát khao đạt tới hoàn hảo, là sự thông minh biết tìm ra con đường đi đến hoàn hảo, và là lòng quyết tâm đi trên con đường dẫn đến hoàn hảo.

Nếu không thể đến đích thì ít nhất cũng đi được một khoảng cần thiết, để vượt lên trên những giới hạn của bản thân và chướng ngại do môi trường đặt ra.

Nhờ tầm nhìn về một thế giới nhân bản, văn minh và hợp lý mà loài người dám chấp nhận thử thách và hy sinh, đau khổ để xây dựng những xã hội tự do, không còn thiếu thốn, không còn sợ hãi.

Không ai nên xem thường những giá trị như Sự Thật, Công Bằng và Tình Thương khi những giá trị này chính là thành trì duy nhất có thể chống lại bạo quyền.

A. S. S. K.

An Văn phỏng dịch

(Tặng Nguyễn Thị Từ Huy)

Người dịch gửi trực tiếp cho BVN.

Chú thích:

* Có lẽ tác giả liên tưởng tới khái niệm thường được nói tới trong chính trị học sau đây: “Quyền lực làm con người hư hỏng. Quyền lực tuyệt đối làm con người hư hỏng tuyệt đối” (Power corrupts, absolute power corrupts absolutely). ND