09/06/2011

Lục lại tài liệu chiến tranh Việt Nam Phần 44

CWIHP (Cold War International History Project – Đề án Lịch sử Quốc tế về Chiến tranh Lạnh)

Ngọc Thu dịch

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Lê Thanh Nghị

05-06-1973

Mô tả: Vai trò của Trung Quốc và Việt Nam trong cuộc cách mạng Campuchia; cũng như thảo luận hiện tình ở miền Nam Việt Nam.

Chu Ân Lai: Thế giới hiện đang trong tình trạng hỗn loạn. Giai đoạn sau khi Hiệp định Paris, các nước Đông Dương nên dành thời gian để thư giãn và xây dựng lực lượng của mình. Trong thời gian 5-10 năm tới, miền Nam Việt Nam, Lào, và Campuchia nên xây dựng hòa bình, độc lập và trung lập. Tóm lại, chúng ta phải câu giờ và chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh kéo dài.

Mỗi nước có kẻ thù của riêng. Nên mỗi nước phải chuẩn bị, bằng cách tăng gia sản xuất và huấn luyện các lực lượng vũ trang. Nếu chúng ta không thận trọng, kẻ thù sẽ khai thác điểm yếu của chúng ta. Nếu chúng ta chuẩn bị tốt, chúng ta sẽ sẵn sàng cho bất kỳ hành động nào của kẻ thù.

Hiện tại, lệnh ngừng bắn được chấp hành tốt. Vấn đề Campuchia không được giải quyết. Tuy nhiên, người dân sau 20 năm chiến đấu chỉ mong muốn nghỉ ngơi. Cho nên, rất cần để các ông khôi phục sản xuất và sử dụng lực lượng lao động một cách hiệu quả. Đây là những điều quan trọng cần làm. Chúng tôi đồng ý với các ông rằng, chúng ta cần khôi phục sản xuất và huấn luyện các lực lượng vũ trang cùng một lúc.

Lê Duẩn: Mỹ nhắm tới các mục tiêu chính trị khi chiến đấu ở Việt Nam. Nói về chiến lược, họ không sử dụng một chiến lược nhất quán. Thay vào đó, trong cuộc chiến chủ nghĩa thực dân mới này, họ thay đổi một số chiến lược, từ chiến tranh đặc biệt đến chiến tranh giới hạn và “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mục tiêu của họ không những biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa của họ, mà còn thực hiện chiến lược toàn cầu của họ ở Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, họ muốn kiểm soát miền Nam, sau đó tấn công miền Bắc, do đó làm tổn hại đến hệ thống phòng thủ Chủ nghĩa Xã hội ở Đông Nam Á và đe dọa phong trào độc lập dân tộc trên thế giới.

Chu Ân Lai: Vì vậy, cho nên các ông đã chiến đấu và đã không kiên nhẫn như Lâm Bưu khuyên. Kiên nhẫn là câu châm ngôn trong chiến lược của Lâm Bưu. [Ngoài kiên nhẫn,] ông ta chẳng biết gì khác.

Tôi muốn chia sẻ với các ông một số thông tin tình báo mà chúng tôi vừa nhận được. Mỹ muốn Sài Gòn giảm chiến đấu. [Đại sứ Hoa Kỳ, ông William] Sullivan (2) đã bay tới Sài Gòn để nói cùng một điều mà ông ta đã nói với Trần Văn Hương (3) - Đại sứ Sài Gòn ở Washington: Nixon đang gặp khó khăn và Sài Gòn không nên làm cho tình hình phức tạp thêm. Điều này đúng, bởi vì nó giải thích tại sao Kissinger muốn có một tuyên bố chung với các ông.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ chắc chắn bỏ Lon Nol để cho người dân Campuchia tự giải quyết vấn đề của họ. Đây là nội chiến Campuchia, do đó Mỹ nên rời khỏi Campuchia. Đối với Mặt trận Dân tộc Thống nhất Campuchia (*), cuộc chiến này là để trừng phạt Lon Nol. Vì vậy, chúng tôi phải tham khảo ý kiến của Hoàng thân Sihanouk xem có thương lượng hay không. Cùng lúc, chúng tôi không phải đại diện cho Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia (4).

Lê Duẩn: Các đồng chí Campuchia tiến bộ rất nhiều. Họ đang làm rất tốt.

Chu Ân Lai: Hiện tình hình vẫn không chắc chắn. Tôi nhớ năm ngoái, Lon Nol đã đến Trung Quốc trong lễ kỷ niệm 20 năm Quốc khánh Trung Quốc và gặp gỡ đồng chí Phạm Văn Đồng. Ông ta đã rất tự tin. Lúc đó, ông ta vẫn còn kiểm soát mọi việc vận chuyển trang thiết bị cho miền Nam Việt Nam.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi không liệu trước mọi thứ thay đổi trong một thời gian rất ngắn sau đó. Tuy nhiên, ông ta đáng bị như vậy.

Chu Ân Lai: Nhiều điều luôn xảy ra ngoài mong muốn của chúng ta. Lúc đó, các ông có các căn cứ quân sự và y tế ở Campuchia và chúng tôi đã không biết điều này. Nhưng Lon Nol biết. Và khi Lon Nol đòi tiền lệ phí đường bộ cho việc vận chuyển trang thiết bị qua ngả Campuchia, chúng tôi đã phải trả.

Lê Duẩn: Chúng tôi muốn nói về chính sách của chúng tôi ở miền Nam. Tình hình sẽ rõ trong thời gian ba hoặc bốn năm. Bằng mọi giá, chính phủ ở đó cuối cùng phải là một chính phủ dân chủ và quốc gia. Chính phủ này có thể tồn tại trong 10 hoặc 15 năm. Và sau đó có thể đổi tên. Vì vậy, chúng tôi không vội vàng biến miền Nam Việt Nam thành nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn.

Phạm Văn Đồng: Trong cuộc tranh đấu này, mục tiêu của chúng tôi là độc lập và dân chủ. Chúng tôi không vội vàng với mục tiêu thống nhất quốc gia. Một điều chúng tôi nên làm là làm nổi bật vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Cách mạng Lâm thời với một chính sách ngoại giao trung lập.

Chu Ân Lai: Và vấn đề chính là sự lãnh đạo của Đảng.

Phạm Văn Đồng: Đúng vậy. Lênin cũng thảo luận vấn đề này trong cuốn sách của ông ấy có tựa đề "Hai chiến lược". Toàn bộ vấn đề là vai trò lãnh đạo. Chúng tôi sẽ nhấn mạnh vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cả chính sách bên trong nội bộ lẫn bên ngoài.

Lê Duẩn: Khi thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh", rõ ràng kẻ thù đang mở rộng chiến tranh. Chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ có sức mạnh rất lớn và họ có thể chấp nhận thất bại ở một mức độ nhất định. Rất khó để đánh bại Hoa Kỳ vì đó là một nước mạnh. Các ông khuyên chúng tôi giải quyết vấn đề Hoa Kỳ rút quân trước và sau đó giải quyết vấn đề Sài Gòn. Chúng tôi nghĩ điều này đúng.

Ghi chú:

1. Sau đó, cùng ngày, Lê Duẩn gặp Mao Trạch Đông (Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh cũng có mặt). Tài liệu cho thấy, việc trao đổi đã diễn ra sau đây:

Lê Duẩn: Sự phán đoán chính xác của Chủ tịch dành cho chúng tôi một sự khuyến khích to lớn.

Mao Trạch Đông: Bộ Ngoại giao của chúng tôi đã phát hành một thông tư, trong đó nói rằng chiến lược quan trọng của Hoa Kỳ nằm ở Châu Á – Thái Bình Dương. Tôi nói rằng điều này không đúng. Hoa Kỳ có nhiều vấn đề ở châu Âu, Trung Đông, và châu Mỹ. Sớm hay muộn họ cần rút một số quân, và họ sẽ không ở lại ở châu Á – Thái Bình Dương vĩnh viễn. Do đó, việc đàm phán của đồng chí Lê Đức Thọ tại Paris sẽ cho ra kết quả gì đó.

...

Mao Trạch Đông: Lâm Bưu biết chỉ có chiến tranh du kích với ý định giữ Hoa Kỳ sa lầy ở Việt Nam. Tuy nhiên, tôi muốn nhìn thấy các ông chiến đấu trong cuộc chiến di động và tiêu diệt các lực lượng của họ.

Chu Ân Lai: Chúng tôi muốn nói tới lực lượng thường xuyên của họ.

2. William Sullivan Healy (1922 -) là Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ từ khi kết thúc nhiệm kỳ làm Đại sứ Mỹ tại Lào năm 1969 cho đến khi ông trở thành đại sứ Philippines năm 1973; sau này ông phục vụ như là sứ giả ở Iran cho đến khi Cách mạng Iran năm 1978 - 1979.

3. Trần Văn Hương (1903-1982), cựu Đô trưởng Sài Gòn, người đã hai lần làm Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 11 năm 1964 đến tháng 1 năm 1965, và từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1969. Sau trở thành Phó Tổng thống dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và làm Tổng thống trong 7 ngày hồi tháng 4 năm 1975.

4. Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia (**), có trụ sở tại Bắc Kinh do Sihanouk và Khmer Đỏ thành lập năm 1970.

Ghi chú thêm:

(*) FUNK: Front Uni National du Kampuchea, tiếng Anh là National United Front of Kampuchea: Mặt trận Dân tộc Thống nhất Campuchia.

(**) GRUNK: Gouvernement Royal d'Union Nationale du Kampuchea, tiếng Anh là Royal Government of National Union of Kampuchea: Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia.

Nguồn: Wilsoncenter.org