17/09/2011

Ba mươi sáu năm sau chiến tranh – Tái ngộ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam

Xavier Monthéard

Bài "Tái ngộ Mỹ-Việt" (Retrouvailles des Etats-Unis et du Vietnam) của Xavier Monthéard, được đăng trên nguyệt san Le Monde Diplomatique, tháng Sáu 2011, đã bị kiểm duyệt tại Việt Nam. Trang boxitvn đã giới thiệu bản dịch của RFI. Nay xin giới thiệu thêm bản dịch của dịch giả Đào Hùng.

Bauxite Việt Nam

Bài này đăng trên tờ nguyệt san Thế giới ngoại giao (Le Monde diplomatique) tháng 6-2011. Đây là một tờ báo lớn của Pháp, được đánh giá là có thông tin đầy đủ nhất, với một quan điểm tự do, ít phụ thuộc vào đường lối của các đảng cầm quyền. Số này đến Việt Nam, toàn bộ bài báo đã bị bôi đen. LMD đã phản đối Sứ quán Việt Nam tại Pháp. Tuy vậy vẫn được dịch đăng trên tạp chí Xưa & Nay số 384, nhưng có bỏ đi một đoạn. Nay xin giới thiệu lại toàn văn bài báo với đầy đủ lời tòa soạn.

Đào Hùng

Báo cáo mật nhan đề “Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, 1945-1967”, bộc lộ nhiều lời dối trá của chính phủ Mỹ về việc dấn thân vào cuộc chiến, từ nay đã được tự do khai thác. Về phía mình, Hà Nội đã lật sang trang. Hơn thế nữa, mùa hè vừa qua, những hoạt động quân sự giữa hai bên đã được diễn ra ở nơi mà những người lính Mỹ đầu tiên đã đổ bộ…

Bán đảo Cam Ranh, phía nam Việt Nam. Gió nổi lên từ biển Nam Trung Hoa, ở đây người ta gọi là “Biển Đông”. Nằm kẹp giữa giây kẽm gai, một con đường hẹp quanh co dẫn đến căn cứ hải không quân được quân đội Mỹ mở mang hồi chiến tranh Việt Nam. Những bót gác quân sự, thường là cũ kỹ, nằm dọc trên dải đất khô. Binh lính và hải quan rỗi rãi nhởn nhơ. Ở bến cảng quân sự, du khách không phải là người được chào đón, vả lại, họ đến đây để làm gì? Từ nhiều năm, vịnh Cam Ranh hoạt động cầm chừng.

Cái uể oải đó sắp chấm dứt: tháng Mười 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố nơi này từ nay sẽ tiếp nhận tàu của toàn thế giới. Hoa Kỳ là một ứng viên. Từ năm 2003, hàng chục tàu chiến của Mỹ đã cập bến trên bờ biển của kẻ thù cũ. Không vũ khí không hành lý, các chàng trai của Chú Sam đã thực sự quay trở lại đất nước của Bác Hồ - với danh nghĩa là thượng khách. Cứ như những năm tháng chiến tranh, đã được năm vị kế tiếp nhau cầm đầu Nhà Trắng [1] tiến hành một cách ham hố, đã rời bỏ ký ức của người Việt. Hai mươi năm cuồng nộ và hãi hùng đó đã kết thúc tháng tư 1975 với việc chiếm lĩnh Sài Gòn hình như đã bị lãng quên, hơn thế nữa người khổng lồ bị làm nhục còn kịch liệt ngăn chặn sự giúp đỡ quốc tế đến với người tí hon đã đánh bại họ, và cuộc cấm vận thương mại được duy trì đến tận 1994.

Tàu Khu trục “USS John S. McCain” ghé cảng Đà Nẵng

Tháng tám 2010, cuộc đối thoại đầu tiên về quốc phòng Mỹ-Việt đã diễn ra ở Hà Nội. Trong tháng đó, ngoài khơi Đà Nẵng – chính xác là nơi những người lính Mỹ đầu tiên đã đổ bộ năm 1965 -, các chỉ huy cao cấp Việt Nam dạo bước giữa biển trên chiếc USS George Washington, hình ảnh tiêu biểu của hạm đội VII và là một trong 11 chiếc tàu sân bay không lồ của Hải quân Hoa Kỳ, trong khi chiếc khu trục hạm USS John S. McCain thả neo trên bến cảng. Ở Hà Nội, tên của ông McCain, ứng cử viên Cộng hòa trong cuộc bầu cử năm 2008 đối diện với ông Barack Obama, không làm chói tai. Là phi công lái máy bay ném bom, như vậy là “tội phạm chiến tranh” theo lời nói trước kia của người Việt, ông đã bị giam năm năm rưỡi ở Việt Nam. Được thưởng huân chương vì những năm bị cầm tù, ông trở thành người hùng của một bộ phận dư luận Mỹ. Sự thừa nhận chính thức đó giúp cho ông bịt miệng những kẻ bảo thủ để giúp Tổng thống William Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, tháng bảy 1995. Không hiềm thù, người Việt ưu tiên giai đoạn đó. Và những bức ảnh chuyến thăm đầu tiên của ông Clinton vẫn luôn trang trí trên tường một chuỗi nhà hàng ăn nhanh của thành phố Hồ Chí Minh… Và bây giờ là bà vợ của ông này, Ngoại trưởng Hilary Clinton lên tiếng ca ngợi con đường đã trải qua: “Chúng ta đã học cách nhìn nhau không phải như những kẻ thù cũ, mà như là những đối tác, những đồng sự và người bạn. Chính quyền Obama sẵn sàng đưa quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam lên một cấp độ cao hơn” [2].

Nhìn từ Hà Nội, sự nhích lại gần với Mỹ trước hết là tuân theo một lôgic kinh tế. Từ hiệp định song phương về thương mại có hiệu lực từ năm 2001, sự trao đổi tăng lên đều đặn. Đầu tiên là đạt 1 tỉ đôla năm 2000, đã lên đến 18,3 tỉ đôla năm 2010. Chủ tịch phòng thương mại Mỹ ở Việt Nam, bà Jocelyn Trân, ước tính con số 35 tỉ đôla từ nay đến năm 2020 [3]. Cán cân thương mại xuất siêu nhiều đối với Hà Nội, xuất khẩu sang Mỹ - chủ yếu là đồ dệt và giày dép – đem lại 14,8 tỉ đôla năm 2010, hơn một phần năm thu nhập xuất khẩu.

Những quan hệ chặt chẽ với Washington cho phép hòa nhập vào hệ thống quốc tế. Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Từ đó, con số 1.000 đôla GDP trên đầu người đã được vượt qua, tương ứng với sự xếp hạng của Ngân hàng thế giới vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình.

Đối lập với bước đầu phồn vinh đó, phải lật lại trang sử về ba triệu người chết trong chiến tranh, đất đai bị tàn phá, các gia đình bị phá hủy. Do đó, một công việc đáng suy nghĩ để viết lại ký ức được đặt ra. “Sau năm 1990, các nhà nghiên cứu Việt Nam bắt đầu hạ thấp sự đánh giá giai đoạn 1954-1975 trong quan hệ với Hoa Kỳ để đề cao giai đoạn 1941-1945, nhà sử học Wynn W. Gadkar-Wilcox trình bày như vậy. Trong giai đoạn này, Hoa Kỳ đã hợp tác với Việt Minh, và nhiều nhân viên của OSS [tiền thân của CIA] đã có liên hệ với cá nhân Hồ chí Minh. (…) Các nhà sử học cũng mở rộng phạm vi nghiên cứu (…). Dựa trên sự tập hợp tư liệu của Robert Hopkins Miller và dưới nhan đề Hợp chúng quốc Hoa Kỳ với Việt Nam, 1787-1941, Phạm Xanh đã nhấn mạnh mối quan tâm của tổng thống Mỹ Thomas Jefferson [1801-1809] với thu hoạch lúa ở miền nam Việt Nam, cùng với nhiều cuộc du khảo do Hoa Kỳ tiến hành ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX” [4].

Một nửa dân số dưới 26 tuổi. Chiến tranh có vẻ đã lùi xa, và Hoa Kỳ kích thích sự hâm mộ. Nhờ vào tờ giấy xanh cũng như vào “giấc mơ Hoa Kỳ”: có thể đạt đến phồn vinh nhờ quyết tâm trong công việc. Mười ba nghìn sinh viên đã theo học trường đại học bên kia Thái bình Dương - một kỷ lục của Đông Nam Á.

Thỏa thuận về quản lý trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân dân sự

Ở miền Nam Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử để lại, đặc biệt sẵn sàng để tiếp nhận đầu tư bằng đôla. Việc xây dựng một nhà máy của tập đoàn khổng lồ Intel ở ngoại vi thành phố Hồ Chí Minh (cựu Sài Gòn) vào tháng Mười 2010, chỉ có giá trị biểu trưng: đó là nhà máy lắp ghép và thử nghiệm lớn nhất của tập đoàn trên thế giới, với mức đầu tư dự tính là 1 tỉ đôla. “We are back in Saigon!” (Chúng ta đã trở về Sài Gòn), ta có thể đọc được trên blog trang web của tập đoàn, ngay từ tháng Chín 2009…

Mối tình đó không loại bỏ vài điều lục đục, Hoa Kỳ vốn nhanh chóng nhảy dựng lên để bảo vệ quyền con người. Năm 2010, hai mươi bốn người đã bị bắt giam – và có mười bốn người bị kết án – vì đã phát biểu những quan điểm trái với đường lối của Đảng cộng sản. Trong số đó có nhiều nhà báo và chủ trang blog. Trong một cuộc họp báo ở Hà Nội ngày 10 tháng Mười hai 2010, Đại sứ Mỹ Michael W. Michalak đã tuyên bố một cách ngọt ngào rằng “đáng tiếc là, trong ba năm nhiệm kỳ của tôi, sự tiến bộ về vấn đề nhân quyền là không đồng đều”. Về phía bên kia, kỷ niệm sống động về sự can thiệp của những tổ chức Hoa Kỳ trong các cuộc “cách mạng tô màu” ở Đông Âu đang khơi nguồn cho sự nghi kỵ. Chính phủ Mỹ phải chăng đang khuyến khích một kịch bản “diễn tiến hòa bình”, mà đối với Hà Nội là đồng nghĩa với một ý đồ loại bỏ chế độ và bản sắc văn hóa Việt Nam?

Nhưng những va chạm đó chỉ là ảnh xạ mờ nhạt của những mối thù hận đã qua. Năm 2011 phải được nhìn thấy hai Nhà nước cam kết một vụ đối tác chiến lược. Một hiệp nghị hợp tác trên lĩnh vực hạt nhân dân sự đang trong quá trình hoàn thiện. Nhằm vào việc chuyển giao kỹ thuật và phát triển cơ sở hạ tầng, nó mở cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ con đường vào một thị trường đầy hứa hẹn: người Việt Nam muốn xây dựng 13 nhà máy hạt nhân, với tổng công suất 16.000 MW, trong vòng hai mươi năm tới. Các điều khoản của hiệp định không ngăn cấm việc làm giàu urani – mà trên lý thuyết, cho phép thực hiện một chương trình hạt nhân quân sự - trong khi Mỹ thường xuyên gây áp lực để cho các quốc gia từ bỏ quyền làm giàu như vậy. Nhiều nhà bình luận đã so sánh tình hình đó, có lợi cho Việt Nam, với hiệp nghị hạt nhân Ấn-Mỹ năm 2007 [5].

Brahma Chellaney [6], Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chính sách ở New Delhi, dù sao cũng làm giảm nhẹ sự tương đồng: “Vì Ấn Độ không phải là thành viên của hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, nó không phụ thuộc vào những điều khoản hạn chế đặc biệt của luật pháp Mỹ. Như vậy chính phủ Mỹ cần có sự cho phép đặc biệt của Quốc hội. Trong trường hợp Việt Nam, vì đã ký kết hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, thì yêu cầu như vậy không cần thiết. Vả lại, vì Ấn Độ là một nước có vũ khí hạt nhân, hiệp định song phương phải được soạn thảo một cách riêng biệt”.

Như vậy không phải bản chất hai hiệp định đó gần gũi nhau, mà là ở tầm nhìn: “Hoa Kỳ sử dụng những hiệp định hạt nhân với Ấn Độ và Việt Nam như là công cụ chiến lược để xây dựng một sự hợp tác gần gũi”, Chellanay nhận định như vậy. Hậu quả là Việt Nam có thể sẽ đạt được một hiệp định tối ưu trong nhóm “các nước mới nổi lên về hạt nhân”, vừa đủ để bắt đầu triển khai một chương trình hạt nhân dân sự. Ngược lại với các Tiểu vương quốc Ả Rập, chẳng hạn: hiệp định giữa Hoa Kỳ và các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất năm 2009 đặc biệt nhắc đến sự từ bỏ việc làm giàu urani trên lãnh thổ của họ. Hai quả cân, hai trọng lượng khác nhau chăng? Khi còn là người phát ngôn của Bộ Ngoại giao, ông Philip J. Crowley chỉ nói ra rằng “Mỹ thương thảo những loại hiệp định như vậy với từng trường hợp, với từng nước, với từng vùng” [7].

“Vị thế mong manh như trứng để đầu đẳng”

Đối với Washington, việc thắt chặt quan hệ quân sự và hợp tác hạt nhân đều nhằm vào một mục tiêu: duy trì sự ưu việt của Mỹ ở Thái Bình Dương. Năm 2010, Mỹ đã bán 6 tỉ đôla vũ khí cho Đài Loan; tuyên bố nối lại liên hệ với lực lượng đặc biệt Indonesia (Kopassus), dù đã dính líu vào các vụ thảm sát ở Timor, Atjeh và Papoua; bảo vệ tự do đi lại trên Biển Đông, xuất phát từ “lợi ích quốc gia Hoa Kỳ”, như bà Clinton đã nói; tiến hành những hoạt động quân sự cùng với Hàn Quốc trên Hoàng Hải; và nhắc lại, khi xảy ra đụng độ tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku giữa Trung Quốc với Nhật Bản, rằng Nhật Bản sẽ được ủng hộ nếu cần thiết, theo điều khoản của hiệp nghị phòng vệ tương hỗ. Phần lớn những biện pháp đó, nếu không phải là tất cả, đều nhằm trả lời cho sự tăng cường sức mạnh của Trung Quốc: sự phát triển của Trung Hoa mặc nhiên đưa Hoa Kỳ đi đến nâng cao giá trị chiến lược của các nước xung quanh. Tờ US Quadrennial Defense Review 2010 kể tên Indonesia, Malaisia và Việt Nam như là những đối tác tiềm năng trong lĩnh vực an ninh. Ông Kurt Cambell, Thứ trưởng ngoại giao phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương, đã nói cụ thể hơn: “Khi tôi nhìn tất cả các bạn bè ở Đông Nam Á, tôi nghĩ rằng chúng ta có nhiều triển vọng nhất đối với Việt Nam” [8]. Với sức mạnh Hoa Kỳ, đất nước này là một con cờ có ích – một lần nữa đã chứng tỏ vậy. Nỗi ám ảnh đó đã có một tiếng vang. Từ bao thế kỷ, Việt Nam xoay quanh quĩ đạo Trung Hoa và tìm cách thoát khỏi sự thu hút. Sự phụ thuộc về kinh tế là đáng kể - một tỉ lệ áp đảo hàng nhập khẩu đến từ láng giềng phía bắc. Carlyle Thayer, Giáo sư danh dự đại học New South Wales (Canberra) và chuyên gia về Việt Nam, đánh giá rằng “đối với Hà Nội, không một quốc gia nào có thể tự tin và có nhiều ảnh hưởng bằng Trung Quốc” [9]. Về cơ bản, ngoại giao Việt Nam tìm cách hòa hợp với càng nhiều nước càng tốt, nhằm thoát khỏi sự ràng buộc của Bắc Kinh, nhưng đồng thời cũng muốn duy trì quan hệ đặc biệt với ông bạn láng giềng lớn – một mối lo chia sẻ với nhiều nước Đông Nam Á khác. Cựu đại sứ Đinh Hoàng Thắng không coi nhẹ những khó khăn: “Nếu Việt Nam có thể thuyết phục được Trung Quốc rằng sự cải thiện quan hệ Mỹ-Việt không làm tổn hại đến lợi ích của nước thứ ba, thì đấy đã là một thắng lợi lớn” [10]. Việc đó về phía Mỹ cũng không dễ dàng hơn. “Sự xa cách của Mỹ đối với châu Á và sự mất cân bằng trong quan hệ của Mỹ với Trung Quốc và cả với Việt Nam, tiếp tục làm biến dạng hiểu biết về những quan hệ lẫn nhau đó” [11], ông Brantly Womack, Giáo sư quan hệ quốc tế Đại học Virginia nhắc lại như vậy. Về phía Trung Quốc, lệnh ban ra đôi khi mạnh mẽ: “Việt Nam cần phải thấy rằng, bị kẹp giữa hai cường quốc, họ đang chơi trò nguy hiểm, với vị thế mong manh như trứng để đầu đẳng (…). Nếu Trung Quốc và Việt Nam phải đi đến đụng độ quân sự, thì không một chiếc tàu sân bay của bất cứ nước nào đến, có thể bảo đảm an ninh cho nó” [12], ta có thể đọc thấy trên tờ Nhân dân nhật báo, cơ quan của ĐCS Trung Hoa. Vào cuối thế kỷ XX đã xảy ra vụ tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [13]. Dù gần đây đã tăng cường hạm đội, Hà Nội vẫn không thể cạnh tranh với hải quân Trung Quốc. Kết quả là như Richard Bitzinger, chuyên gia các vấn đề phòng thủ Châu Á-Thái Bình Dương, đã phân tích: “Việt Nam muốn có nhiều Quốc gia dấn thân vào Biển Đông. Điều đó là một sự bảo vệ đối với họ. Họ muốn nhận được sự giúp đỡ để mở rộng và hiện đại hóa những thuận lợi của cảng trong vịnh Cam Ranh. Tôi nghĩ rằng hải quân Hoa Kỳ sẽ lợi dụng được vị trí chiến lược đó, nhưng đó cũng là trường hợp của các hạm đội khác – tất nhiên chỉ thiếu có hạm đội Trung Hoa!”.

Cánh cửa đã sập xuống cuộc xung đột 1979 với Bắc Kinh

Người ta có thể thấy một ngày nào đó Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam chống lại Trung Quốc không? Ở đây sẽ có nhiều điều trớ trêu, nếu ta nhớ lại sau khi tuyên bố độc lập ngày 2 tháng Chín 1945, nước Trung Hoa của Mao Trạch Đông là nước đầu tiên công nhận nước Cộng hòa dân chủ trẻ tuổi tháng Giêng 1950, mười hai ngày trước Liên Xô… Giữ thăng bằng trước hai nước cộng sản bảo trợ, sau đấy trở thành hai kẻ xung đột công khai, là bài toán đã được Hồ Chí Minh và những người kế nhiệm thực hiện thành công trong 25 năm. Viện trợ Liên Xô đã tiêu tan khi kết thúc chiến tranh lạnh. Xung đột công khai mở ra giữa Việt Nam và Trung Quốc cuối những năm 1970, trở thành vấn đề tối kỵ nhất trong chính sách đối ngoại. Hơn 30 năm sau khi nổ ra, vẫn không thể nhắc lại cuộc chiến ngắn ngủi tháng Hai-Ba 1979, khiến hàng chục nghìn người chết. Báo chí không nói cũng như sách giáo khoa không đề cập. Chính thức thì mọi việc đều suôn sẻ với Bắc Kinh.

Lịch sử đã cho thấy những hiểm nguy đối với Việt Nam, bị kẹt giữa những toan tính địa-chính trị của các cường quốc láng giềng. Ai sẽ quên Hà Nội? Nhà ngoại giao Hoàng Anh Tuấn mới đây đã nhắc lại rằng Việt Nam “có thể là nước duy nhất trên thế giới đã tiến hành thương thuyết gay go và lâu dài với Hoa Kỳ. (…) Dù rằng sự tin tưởng và hiểu biết có tiến bộ đáng kể, không có gì đảm bảo những hiểu nhầm về chiến lược sẽ nảy sinh lại. (…) Như vậy, mối quan hệ song phương không thể xây dựng bền vững trên thế bình đẳng nếu nó được nhằm phục vụ cho lợi ích quốc gia của Việt Nam cũng như của Hoa Kỳ chứ không phải cho lợi ích địa-chính trị của một bên nào đó” [14]. Vào lúc này, điềm báo có vẻ thuận lợi. Nhưng “sự câu thúc của địa lý” [15] có lẽ vẫn không ngừng định hướng cho vận mệnh của quốc gia Việt Nam.

Đào Hùng dịch

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.

Chú thích:

(1) Eisenhower (giữa các năm 1954 et 1961), Kennedy (1961-1963), Johnson (1963-1969), Nixon (1969-1974) và Ford (giữa 8-1974 và 4-1975).

(2) Diễn văn ở Hà Nội ngày 21 tháng 7-2010 bên lề cuộc gặp lần thứ 43 các bộ trưởng ASEAN.

(3) Tuổi Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 20-12-2010.

(4) Wynn W. Gadkar-Wilcox, « An ambiguous relationship : Impressions of the United States in Vietnamese historical scholarship, 1986-2009 », World History Connected, vol. 7, n° 3, Washington, DC, 10-2010.

(5) Xem Siddharth Varadarajan, “Ấn Độ rối rít cám ơn”, Le Monde diplomatique, tháng 11-2008.

96) Tác giả của cuốn Asian Juggernaut. The Rise of China, India and Japan, HarperCollins, New York, 2006. Nếu không có chú thích thêm, thì những trích dẫn này là do nguồn trao đổi.

(7) Dẫn từ Daniel Ten Kate và Nicole Gaouette, “US, vietnam hold nuclear technology talks as suitors vie for contracts”, Bloomberg, 6 tháng tám 2010.

(8) AFP, tháng 7-2010.

(9) Carlyle Thayer, « Vietnam’s relations with China and the United States », bài nói tại Đại học khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Hà Nội, 10-12-2010.

(10) Nói chuyện với VietNamNet (xuất bản điện tử), 17-2-2010.

(11) Brantly Womack, « The United States and Sino-Vietnamese relations », The Asia-Pacific Journal : Japan Focus (xuất bản điện tử), 2008.

(12) Li Hongmei, “Việt Nam đừng có chơi với lửa”, Nhân dân nhật báo, Bắc Kinh, 17-8-2010.

(13) Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm bằng quân sự tháng 1-1974, nhưng Việt Nam và Đài Loan đòi chủ quyền. Trung Quốc, Việt Nam, Malaixia, Phippin và Đài Loan đều chiếm giữ một số đảo trong quần đảo Trường Sa (Brunei cũng đưa ra đòi hỏi nhưng không đưa quân đến). Phân tích các vấn đề chính trị và tìm một giải pháp, xem Stein Tønnesson, « China’s coming change in the South China sea », Harvard Asia Quarterly, Cambridge (Massachusetts), 12-2010.

(14) Hoang Anh Tuan, « Rapprochement between Vietnam and the United States : A response », Contemporary Southeast Asia, vol. 32, n° 3, Singapour, 2010.

(15) Carlyle Thayer, « The tyranny of geography : Vietnamese strategies to constrain China in the South China sea », International Studies Association, Montréal, mars 2011.