29/12/2011

Căng thẳng trên biển Đông năm 2011

Việt Hà, Phóng viên RFA

Phần 1

Năm 2011 có thể nói là một năm của những căng thẳng trên biển Đông với một loạt các vụ va chạm, kéo theo một loạt các phản ứng về mặt ngoại giao giữa các nước có liên quan.

VIETNAM-CHINA-MARITIME-MILITARY

Đảo Phan Vinh thuộc quần đảo Trường Sa. AFP photo

Trung Quốc hung hăng

Tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông giữa Trung Quốc với các nước Việt Nam và Philippines đã trở nên hết sức căng thẳng trong năm 2011 với một loạt các sự kiện được các nhà phân tích cho là nghiêm trọng nhất kể từ sau khi bản tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông được ký kết vào năm 2002 giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.

Vụ việc nghiêm trọng đầu tiên phải kể đến là vào ngày 25 tháng 2, hai tàu cá của Philippines khi đang hoạt động cách đảo Palawan của Philippines khoảng 140 hải lý đã bị một tàu chiến có hỏa tiễn điều khiển của Trung Quốc đe dọa và yêu cầu phải rời khỏi khu vực này ngay lập tức.

Không lâu sau đó, vào ngày 2 tháng 3, 2 tàu hải giám khác của Trung Quốc đã đe dọa và yêu cầu một tàu thăm dò của Philippines phải rời khỏi khu vực hoạt động gần Bãi Cỏ Rong ngoài khơi đảo Palawan.

Chỉ khoảng 3 tháng sau, vào ngày 26 tháng 5, đã xảy ra một vụ đụng độ nghiêm trọng khác khi tàu hải giám Trung Quốc mang số hiệu 84 cắt cáp tàu thăm dò Bình Minh 02 của PetroVietnam khi tàu này đang hoạt động tại lô 148 nằm trong vòng 200 hải lý từ bờ của Việt Nam.

Điều đáng nói là vụ đụng độ này xảy ra chỉ khoảng 10 ngày trước khi diễn đàn đối thoại Shangri-La hàng năm được tổ chức từ ngày 3 đến 5 tháng 6 tại Singapore với sự tham gia của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates và người đồng nhiệm Trung Quốc là Bộ trưởng Lương Quang Liệt.

Trung Quốc đang muốn cho chúng ta thấy rằng họ là một cường quốc đang nổi lên và chúng ta phải tôn trọng cái gọi là quyền trên biển của họ cũng như sức mạnh trên biển của họ.

GS Renato Cruz De Castro

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã đưa vụ cắt cáp tàu Bình Minh 02 vào trong phát biểu của mình tại diễn đàn đối thoại Shangri-La. Ông bày tỏ quan ngại về sự kiện này và yêu cầu các bên duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông. Thậm chí Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates cũng lên tiếng khẳng định quyền lợi quốc gia của Mỹ trong vấn đề tự do hàng hải trong khu vực.

Thế những chỉ chưa đầy một tuần sau Shangri-La, vào ngày 9 tháng 6, một tàu hải giám khác của Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò của tàu Viking II thuộc PetroVietnam khi tàu này đang hoạt động trong lô 136/3 thuộc khu vực thềm lục địa của Việt Nam.

Tiếp theo sau hai vụ đụng độ này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng nói rằng đây là những hành động có tính toán kỹ lưỡng của Trung Quốc nhằm mục đích biến các khu vực không tranh chấp thành có tranh chấp để thực hiện kế hoạch đường lưỡi bò hay đường chữ U trên biển Đông.

Nhận định về những hành động liên tiếp này của Trung Quốc trong những tháng đầu năm 2011, giáo sư Renato Cruz De Castro, giáo sư môn quan hệ quốc tế thuộc đại học De La Salle của Philippines nói:

"Rất nghiêm trọng, nó cho thấy sự leo thang hơn nữa trong việc khẳng định sức mạnh trên biển của Trung Quốc. Nếu chúng ta nói về đối thoại Shangri La, tất nhiên chúng ta có thể bàn về chuyện biển Đông và các vấn đề liên quan ở đó, nhưng những gì đang xảy ra bây giờ là thực tế. Trung Quốc đang muốn cho chúng ta thấy rằng họ là một cường quốc đang nổi lên và chúng ta phải tôn trọng cái gọi là quyền trên biển của họ cũng như sức mạnh trên biển của họ".

Vào ngày 15 tháng 6, Philippines cho biết hải quân nước này đã nhổ một số cọc lạ tại các bãi đá ngầm trong khu vực tranh chấp trên biển Đông. Phát ngôn viên của Hải quân nước này nói với báo giới là các cọc gỗ này không có dấu hiệu cho thấy thuộc về nước nào.

Trước đó, tại diễn đàn đối thoại Shangri la, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines cho biết nước này đã phát hiện một tàu của Trung Quốc đổ vật liệu xây dựng và thả phao ở vùng gần Amy Douglas Bank phía tây nam bãi Cỏ Rong mà Philippines đòi chủ quyền. Nhận định về hành động này, tiến sĩ Ian Story thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore cho biết:

"Tuyên bố chung của các bên về ứng xử trên biển Đông hồi năm 2002 chỉ rõ là cấm các bên chiếm đóng các đảo và bãi đá chưa chiếm đóng. Từ năm 2002, tất cả các bên đều tuân thủ điều này. Nhưng nếu đúng là Trung Quốc đã đổ vật liệu và có dự định xây dựng trên đó thì cho đến giờ đó là hành động vi phạm DOC nghiêm trọng nhất kể từ năm 2002".

Phản ứng của các nước

VIETNAM-ASEAN-NAVY-CHIEFS-CHINA

Trưởng hải quân các nước khu vực Đông Nam Á tại Hà Nội vào ngày 27 Tháng 7 năm 2011. AFP

Những động thái liên tiếp này của Trung Quốc đã bị một số nhà nghiên cứu trong khu vực gọi là hung hăng và hiếu chiến. Thậm chí đã có lo ngại về khả năng một vụ đụng độ quân sự có thể xảy ra tại đây như đã từng xảy ra trước kia vào năm 1988 giữa hải quân Việt Nam và hải quân Trung Quốc tại đảo Gạc Ma. Trả lời đài Á châu Tự do vào tháng 6 vừa qua, Giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Úc nhận định:

"Không loại trừ khả năng một đụng độ kiểu như vậy, những nhà phân tích chính trường Trung Quốc cho biết có nhiều người tham gia vào việc đưa ra quyết định tại Trung Quốc. Có đến 5 cơ quan chịu trách nhiệm về vấn đề biển, chưa kể hải quân của quân đội nhân dân Trung Quốc.

Các phân tích gia cho rằng những nhà lãnh đạo Trung Quốc đang phải đối đầu với những vấn đề trong nội địa cho nên dẫn đến cái gọi là thái độ không chắc chắn từ phía Trung Quốc. Bởi vì rõ ràng là ở Trung ương thì lãnh đạo Trung Quốc muốn giảm nhẹ vấn đề, đi theo cách hòa bình hơn tuy nhiên chúng ta thấy các căng thẳng vẫn xảy ra cho nên theo tôi Bắc Kinh đã mất một phần kiểm soát vấn đề ở đây".

Tiếp theo sau những hành động lấn áp của Trung Quốc, vào ngày 13 tháng 6, hải quân Việt Nam diễn tập bắn đạn thật ngoài khơi miền Trung gần đảo Hòn Ông. Bộ Ngoại giao Việt Nam lúc đó nói rằng đây là hoạt động luyện tập thường niên của hải quân Việt Nam trong khu vực.

Tổng thống Philipines vào hồi tháng 5 cũng lên tiếng quan ngại về những căng thẳng trong khu vực và nói đến khả năng gia tăng trang bị quốc phòng cho mình để phòng vệ trước những đe dọa tiềm tàng từ Trung Quốc. Ông cũng kêu gọi đồng minh quân sự Mỹ bảo vệ nước này trước khả năng tấn công từ bên ngoài.

Tuy nhiên vào nửa sau của năm 2011, tình hình căng thẳng trên biển Đông có chiều hướng giảm bớt, tiếp theo sau việc ASEAN và Trung Quốc ký bản hướng dẫn thực hiện bản tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông vào ngày 21 tháng 7. Mặc dù bản hướng dẫn không có tính ràng buộc về pháp lý nhưng đã được Hoa Kỳ ca ngợi như một bước tiến trong việc xây dựng lòng tin giữa các bên, điều quan trọng để tiến tới việc đạt được một bộ quy tắc về ứng xử mà các bên đang mong đợi. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton viết trong bản tuyên bố của bà ngay sau khi bản hướng dẫn được ký kết như sau:

"Hoa Kỳ khen ngợi tuyên bố của ASEAN và Trung Quốc về việc thực hiện bản hướng dẫn để tiến tới xây dựng lòng tin và thực hiện các dự án hợp tác trên biển Đông. Đây là một bước đi đầu quan trọng hướng tới thực hiện một bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên biển Đông và thể hiện một quá trình được thực hiện qua đối thoại và ngoại giao đa phương".

Nửa cuối năm 2011 cũng chứng kiến những chuyến thăm ngoại giao giữa quan chức các nước Việt Nam, Philippines và Trung Quốc trong nỗ lực tìm kiếm các giải pháp giảm căng thẳng trên biển.

Mở đầu là chuyến viếng thăm chính thức Trung Quốc của Tổng thống Philippines, Benigno Aquino vào cuối tháng 8, đầu tháng 9. Sau cuộc gặp này, Tổng thống Phi cho biết lãnh đạo hai nước đều nhất trí về sự cần thiết phải có một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông và rõ ràng là không có sự gia tăng căng thẳng giữa các nước trong khu vực tranh chấp.

Vào tháng 10, tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Quốc và gặp gỡ với Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào. Chủ đề bàn thảo là biển Đông. Hai bên đã có thông cáo chung sau đó, trong đó nhấn mạnh hợp tác chiều sâu giữa quân đội và lãnh đạo hai nước và tiếp tục các đối thoại chiến lược cấp thứ trưởng hai nước. Hai bên cũng ký kết thỏa thuận nguyên tắc giải quyết vấn đề biển Đông theo nguyên tắc phù hợp với lợi ích căn bản và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực.

Hoa Kỳ khen ngợi tuyên bố của ASEAN và Trung Quốc về việc thực hiện bản hướng dẫn để tiến tới xây dựng lòng tin và thực hiện các dự án hợp tác trên biển Đông.

NT Hoa Kỳ Hillary Clinton

Vào ngày 20 tháng 12, ông Tập Cận Bình, Phó chủ tịch Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Theo các phân tích gia thì vấn đề biển Đông sẽ là một chủ đề được bàn thảo trong chuyến đi này của ông Tập Cận Bình nhằm giảm căng thẳng.

Đã có so sánh năm 2011 như một trận bóng đá mà nửa hiệp đầu Trung Quốc là người chơi hung hăng nhất và phạm lỗi. Tuy nhiên nửa năm sau là lúc người chơi Trung Quốc bớt dần hung hăng và các bên tập trung nhiều hơn vào các biện pháp ngoại giao.

Giáo sư Carl Thayer cho rằng có nhiều khả năng sẽ không có những xung đột tương tự năm 2011 vào nửa đầu năm 2012 và thậm chí là cả năm, nhưng để có thể giải quyết được vấn đề tranh chấp trên biển giữa các nước thì còn là một chặng đường rất dài. Mặc dù vậy vẫn có những hy vọng vào khả năng một bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc về pháp lý được hình thành, bởi năm 2012 cũng đánh dấu 10 năm bản tuyên bố về ứng xử của các bên được ký kết.

Phần 2

Cùng với sự gia tăng căng thẳng trên biển Đông, năm 2011 cũng là năm của những cuộc hội thảo quốc tế liên tục ở nhiều nước từ châu Á đến Hoa Kỳ trong nỗ lực tìm kiếm các giải pháp cho tranh chấp tại khu vực.

Tiến sĩ Trần Trường Thủy, thuộc Học viện Quan hệ Quốc tế Việt Nam, đang thuyết trình tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông ở Washington DC hôm 20-06-2011. RFA PHOTO

Quốc tế hóa vấn đề biển Đông

Năm 2011 đã là năm thứ 3, Việt Nam nỗ lực đưa vấn đề biển Đông vào các hội thảo quốc tế và cũng là năm được coi là có nhiều hội thảo quốc tế về biển Đông nhất được tổ chức ở nhiều nước giữa lúc có những căng thẳng gia tăng liên quan đến tranh chấp của các nước về chủ quyền trên biển Đông.

Hội thảo quốc tế đầu tiên về biển Đông thu hút được sự chú ý đông đảo của công luận phải kể đến là hội thảo về an ninh hàng hải tại biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tổ chức ở Washington trong hai ngày từ 20 đến 21 tháng 6. Đây là cuộc hội thảo quy tụ được rất nhiều các học giả quốc tế đến từ Việt Nam, Trung Quốc, Úc, Mỹ, Ấn Độ và châu Âu.

Cuộc hội thảo diễn ra giữa lúc những căng thẳng trên biển Đông đang gia tăng sau một lọat các vụ va chạm giữa tàu Trung Quốc và các tàu cá, tàu thăm dò của hai nước Philippines và Việt Nam. Phát biểu sau buổi hội thảo, Tiến sĩ Trần Trường Thủy, thuộc Học viện Quan hệ Quốc tế Việt Nam nói:

"Hội thảo này là một hội thảo rất hay trong việc nêu bật vấn đề biển Đông trong cộng đồng học giả quốc tế nói riêng cũng như trong cộng đồng thế giới nói chung, làm thế giới quan tâm càng nhiều đến biển Đông thì càng có lợi".

Đây cũng chính là quan điểm của Việt Nam ngay từ hội thảo quốc tế đầu tiên do Học viện Ngoại giao Việt Nam tổ chức vào năm 2009, tức là quốc tế hóa vấn đề biển Đông. Điều này cũng nằm trong chính sách của Việt Nam về vấn đề biển Đông theo lời của Tiến sĩ Trần Trường Thủy:

"Chính sách của Việt Nam được thực hiện trên cơ sở là hệ thống. Thứ nhất là công khai những vấn đề mà Trung Quốc chèn ép Việt Nam để cho thế giới thấy là các hành động phi pháp của Trung Quốc làm cản trở các hoạt động hợp pháp của Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Bằng cách như thế thì ta có thể thu hút được sự ủng hộ của công luận. Điều thứ hai là tùy theo tình hình và sự kiện làm ta có thể đưa các vấn đề ra diễn đàn ASEAN cũng như các diễn đàn quốc tế khác và càng nhiều tiếng nói nêu quan ngại đối với Trung Quốc thì Trung Quốc phải tính kỹ hơn các hành động của mình".

Hội thảo này là một hội thảo rất hay trong việc nêu bật vấn đề biển Đông trong cộng đồng học giả quốc tế nói riêng cũng như trong cộng đồng thế giới nói chung, làm thế giới quan tâm càng nhiều đến biển Đông thì càng có lợi.

TS Trần Trường Thủy

Ngay tại buổi hội thảo này, người ta có thể thấy có rất nhiều bài phát biểu từ các học giả quốc tế có phần nghiêng về việc lên án các hành động bị cho là hiếu chiến của Trung Quốc và thông cảm với Việt Nam, mà mở đầu là bài phát biểu của đại diện ASEAN là ông Termsak Chalermpalanupap khi ông này gọi hành động của Trung Quốc là ‘talk and take’ xin tạm dịch là ‘miệng nói mà tay thì vồ’.

Tiếp theo sau hội thảo tháng 6 của CSIS, Học viện Ngoại giao Việt Nam tổ chức hai hội thảo khác vào tháng 10 ở Manila, Philippines và tháng đầu tháng 11 ở Hà Nội, trong đó hội thảo vào tháng 11 là hội thảo lần 3 do Học viện Ngoại giao phối hợp cùng Hội Luật gia Việt Nam tổ chức hàng năm từ năm 2009 đến nay.

Giải pháp ngoại giao

Giám đốc Học viện Ngoại giao Đặng Đình Quý trong bài phát biểu khai mạc hội thảo tháng 11 ở Hà Nội đã nhìn nhận những hội thảo như vậy với sự đóng góp ý kiến, thảo luận của các học giả quốc tế nghiên cứu về biển Đông đã góp phần quan trọng đưa biển Đông vào ‘ra đa’ kiểm soát của cộng đồng quốc tế, giúp dư luận quốc tế có thông tin đầy đủ và nhiều chiều hơn.

INDONESIA-ASEAN-ARF-DIPLOMACY

Ông Phạm Quang Vinh (P) và đối tác Trung Quốc Lin Zhen Min (T) tại cuộc họp về việc thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) tổ chức trên đảo Bali ngày 20 tháng 7 năm 2011. AFP

Đánh giá về những gì đã đạt được qua các hội thảo do Việt Nam tổ chức trong suốt 3 năm qua, Giáo sư Carl Thayer, người đã tham gia vào rất nhiều các hội thảo quốc tế về biển Đông trong khu vực cho biết:

"Việt Nam nói chung là đã thành công trong việc quốc tế hóa vấn đề biển Đông và những ảnh hưởng của nó có thể nhận thấy ở các hội thảo khác, và đã lôi kéo được sự quan tâm của những người gần gũi với các nhà làm chính sách. Cho nên xét về khía cạnh này thì Việt nam đã thành công".

Sự thành công bước đầu của các hội thảo do Việt Nam tổ chức kể từ năm 2009 đến nay cũng khiến một số nước có liên quan trong tranh chấp biển Đông tham gia tổ chức hội thảo. Vào các ngày 7 và 8 tháng 10, Đài Loan cũng đã tổ chức một hội thảo quốc tế về biển Đông có tên gọi các vấn đề liên quan đến luật pháp và chính sách tại biển Đông, quan điểm của châu Âu và Mỹ. Và theo nhận xét của Giáo sư Carl Thayer, một diễn giả tại hội thảo thì đây cũng giống như một phiên bản khác của các hội thảo mà Việt Nam đã tổ chức, chỉ có điều mục đích của Đài Loan khi tổ chức hội thảo này là muốn cho quốc tế thấy quyền lợi của nước này trên biển Đông.

Hiện Đài Loan đang chiếm giữ đảo Ba Bình là một đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa và vì vậy Đài Loan cũng có những quyền lợi tại khu vực đang tranh chấp này.

Việt Nam nói chung là đã thành công trong việc quốc tế hóa vấn đề biển đông và những ảnh hưởng của nó có thể nhận thấy ở các hội thảo khác, và đã lôi kéo được sự quan tâm của những người gần gũi với các nhà làm chính sách.

Giáo sư Carl Thayer

Các tháng nửa cuối năm 2011 cũng là các tháng của nhiều các hội thảo biển Đông khác tại các nước như Malaysia, Philippines và Trung Quốc. Ông Đặng Đình Quý trong bài phát biểu của mình tại hội thảo ở Hà Nội vào tháng 11 nhìn nhận năm 2009 chỉ có 3 hội thảo quốc tế về biển Đông thì đến năm 2010 số cuộc hội thảo như vậy đã tăng lên con số 7 và đến năm 2011 là 15 hội thảo.

Cùng với những hội thảo quốc tế về biển Đông diễn ra dồn dập vào các tháng cuối năm 2011, thế giới cũng nhìn thấy nhiều hơn các nỗ lực ngoại giao từ các nước có liên quan nhằm làm giảm căng thẳng và tìm kiếm giải pháp hòa bình cho tranh chấp. ASEAN và Trung Quốc đã đồng ý vào một bản hướng dẫn thực hiện bản tuyên bố chung về ứng xử của các bên trên biển Đông vào tháng 7. Đầu tháng 1 tới đây, Trung Quốc sẽ là nước chủ nhà cho cuộc họp đầu tiên của nhóm làm việc ASEAN Trung Quốc liên quan đến việc tìm kiếm một bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc.

Có rất nhiều khả năng những cuộc hội thảo tương tự sẽ diễn ra trong năm mới 2012. Và chắc chắn các hội thảo, nếu có, sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc trao đổi thông tin, và quốc tế hóa vấn đề biển Đông như Việt Nam mong muốn. Thế nhưng cho đến lúc này, có lẽ điều mà nhiều người trông đợi từ những hội thảo chính là những sáng kiến, hay ý tưởng mới để giải quyết tranh chấp đã kéo dài quá lâu.

V.H.

Nguồn: rfa.org