29/03/2012

Thư gửi ông Husák

Václav Havel

Phạm Nguyên Trường dịch

Phần 3

Trong một xã hội thực sự sống động bao giờ cũng có những chuyện bất ngờ. Tương tác giữa những hoạt động và sự kiện đang xảy ra, giữa những phong trào công khai và không công khai, tạo ra một dòng liên tục những tình huống độc đáo, những tình huống này lại thúc đẩy phong trào và tạo ra những phong trào mới. Sự phân cực đầy bí ẩn và sống động của tính liên tục và thay đổi, của những điều bình thường và ngẫu nhiên, của những điều có thể dự đoán được và những điều bất ngờ, có ảnh hưởng trong chiều kích của thời gian và được sinh ra trong dòng sự kiện. Đời sống của xã hội càng có tổ chức cao thì chiều kích thời gian của nó cũng được tổ chức cao, sự độc đáo và tính không lặp lại của nó trong dòng thời gian cũng nổi bật hơn. Dĩ nhiên là đến lượt nó, điều này lại làm cho người ta dễ dàng suy ngẫm về tính chất liên tục của nó, hình dung ra nó, nghĩa là, như một dòng chảy không thể đảo ngược của những tình huống không thể lặp lại, và nhìn lại quá khứ như thế, để hiểu một cách rõ ràng hơn tất cả những gì bị chi phối bởi luật lệ trong xã hội. Cuộc sống của xã hội càng phong phú thì chiều kích thời gian của xã hội, chiều kích thời gian của lịch sử càng dễ nắm bắt hơn.

Nói cách khác, ở đâu có không gian cho hoạt động xã hội thì ở đó cũng hình thành không gian cho ký ức xã hội. Xã hội sống động là xã hội có lịch sử.

Nếu trong lịch sử thành tố của tính liên tục và tính nhân quả liên kết mật thiết như thế với thành tố của tính không lặp lại và không dự đoán trước được thì chúng ta cũng có thể hỏi lịch sử chân thực – nguồn gốc không thể xóa bỏ của “hỗn loạn”, cội nguồn của sự bất ổn định và cái tát vào luật pháp và trật tự – có thể tồn tại trong cái thế giới được cai trị bằng chế độ “tăng entropy” hay không?

Câu trả lời là rõ ràng: không thể. Trong chế độ như thế, việc trừ khử đời sống đồng nghĩa với việc chặn đứng thời gian, nghĩa là lịch sử biến mất khỏi tầm nhìn của nó.

Đất nước của chúng ta cũng thế, người ta có cảm tưởng rằng đôi khi ở đây không còn lịch sử nữa. Từ từ nhưng chắc chắn, chúng ta đang đánh mất ý thức về thời gian. Chúng ta bắt đầu quên chuyện gì xảy ra khi nào, cái gì xảy ra trước và cái gì xảy ra sau, đánh mất cảm giác là nó có ý nghĩa đối với chúng ta. Khi tính độc đáo biến mất khỏi dòng chảy của các sự kiện thì tính liên tục cũng không còn, mọi thứ cùng hòa chung vào một hình ảnh đơn độc xám xịt của một và chỉ một chu kỳ và chúng ta nói: “Chẳng có gì xảy ra hết”. Ở đây cũng thế, trật tự chán ngắt đã được áp đặt: tất cả mọi hoạt động đều được tổ chức một cách hoàn toàn và vì vậy mà cũng hoàn toàn tẻ nhạt. Sự tẻ nhạt của ý nghĩa của thời gian biểu lộ trong xã hội chắc chắn cũng giết chết nó trong cuộc sống cá nhân. Không còn được lịch sử xã hội hay lịch sử của cá nhân trong xã hội hậu thuẫn, cuộc sống cá nhân lùi về mức của thời tiền sử, nơi thời gian chỉ tìm được nhịp điệu của nó từ những sự kiện như ngày sinh, ngày kết hôn và chết.

Việc mất ý nghĩa của thời gian xã hội dường như đã đẩy xã hội trở lại tình trạng nguyên thủy, nơi, hàng ngàn năm trước, nhân loại chỉ còn một cách đo thời gian duy nhất là dựa vào biểu hiện của vũ trụ và thời tiết, với bốn mùa lặp đi lặp lại và những nghi thức tôn giáo đi kèm với chúng.

Khoảng trống do chiều kích làm người ta bất an của lịch sử dĩ nhiên là phải được lấp đầy. Cho nên sự rối loạn của lịch sử chân thực được thay thế bằng sự ngăn nắp của lịch sử giả hiệu, tác giả của nó là các nhà lập kế hoạch chứ không phải là cuộc sống của xã hội. Người ta cung cấp cho chúng ta những giả sự kiện chứ không phải là sự kiện chân thật, cuộc đời chúng ta trôi lăn từ ngày lễ kỉ niệm này sang ngày lễ kỉ niệm khác, từ lễ hội này sang lễ hội khác, từ cuộc duyệt binh này sang cuộc duyệt binh khác, từ đại hội hoàn toàn nhất trí này sang những cuộc bầu cử hoàn toàn nhất trí khác, và cứ thế lặp lại; từ ngày Báo chí sang ngày Pháo binh, và ngược lại. Không phải vô tình mà – nhờ sự đánh tráo lịch sử như thế – chúng ta có thể xem lại tất cả những việc xảy ra trong xã hội, cả trong quá khứ lẫn tương lai, bằng cách đơn giản là ghé mắt nhìn vào quyển lịch. Và sự tương đồng đến phát ớn của những nghi thức lặp đi lặp lại cung cấp cho ta thông tin giống như chính ta có mặt trong các sự kiện đó.

Như vậy là, chúng ta đã có một trật tự hoàn hảo – nhưng giá phải trả là quay lại thời tiền sử. Nhưng ngay cả trong trường hợp như thế cũng cần phải cảnh báo: trong khi đối với tổ tiên của chúng ta những nghi lễ được lặp đi lặp lại bao giờ cũng mang ý nghĩa hiện sinh sâu sắc thì đối với chúng ta đấy chỉ còn là những thủ tục được thực hiện vì mục đích của chính nó mà thôi. Chính phủ làm những thủ tục đó để duy trì cảm giác là lịch sử đang chuyển động. Còn dân chúng chịu đựng những tình cảm đó là để tránh rắc rối.

Chế độ "entropic" có một phương tiện làm gia tăng entropy tổng quát trong lĩnh vực ảnh hưởng của nó, mà cụ thể là bằng cách tăng cường sự kiểm soát tập trung, làm cho chính nó càng ngày càng cố kết hơn, và ràng buộc xã hội bằng thao túng một chiều. Nhưng mỗi bước theo hướng đó chắc chắn cũng sẽ làm tăng entropy của chính nó.

Mỗi cố gắng nhằm làm cho thế giới trở thành bất động cũng đồng thời làm cho chính nó trở thành bất động, làm cho nó không còn khả năng đương đầu với những hiện tượng mới mẻ hoặc chống lại những trào lưu tự nhiên của cuộc sống. Như vậy là, chế độ "entropic" phải chịu số phận là sẽ trở thành nạn nhân của chính cái nguyên tắc gây ra bệnh hoại tử của chính nó, mà đấy lại là nạn nhân dễ bị tổn thương nhất, bởi vì trong cơ cấu của nó không có bất kỳ động lực nào có thể giúp nó trực diện với chính mình. Ngược lại, cuộc sống – với thôi thúc chống lại sự gia tăng của entropy mà không gì có thể đè nén được – càng ngày càng kháng cự một cách thành công hơn và sáng tạo hơn nhằm chống lại hiện tượng bị cô lập, càng làm cho chính quyền bạo ngược xơ cứng nhanh hơn.

Trong khi cố gắng làm tê liệt cuộc sống thì chính quyền lại làm tê liệt chính mình và trong dài hạn, nó sẽ không còn khả năng làm tê liệt cuộc sống được nữa.

Nói cách khác, cuộc sống có thể trở thành đối tượng của bạo hành, suy nhược và u mê kéo dài và toàn diện. Nhưng cuối cùng, không ai có thể vĩnh viễn ngăn chặn được nó. Dù chậm chạp, lén lút và thầm lặng, nhưng nó vẫn tiến lên. Mặc dù đã hàng ngàn lần bị làm cho vong thân với chính mình, nó vẫn luôn tìm cách phục hồi; mặc dù bị giết một cách tàn bạo, nó vẫn sống sót, và cuối cùng, vượt qua được bạo quyền từng tìm cách giết chết nó. Không thể khác được, trong quan điểm nước đôi của mọi chính quyền "entropic”, tức là chính quyền có thể đàn áp cuộc sống nếu có cuộc sống để mà đàn áp, và như vậy sự tồn tại của nó phụ thuộc vào cuộc sống, trong khi cuộc sống hoàn toàn không phụ thuộc vào nó. Chỉ có một sức mạnh có thể tiêu diệt được cuộc sống trên trái đất này, đấy là sức mạnh không biết đến thỏa hiệp: hiệu lực phổ quát của định luật thứ hai của môn nhiệt động học.

Nếu cuộc đời không thể bị tàn phá mãi mãi thì lịch sử cũng sẽ không dừng lại mãi. Dòng suối nhỏ chảy bên dưới cái vỏ cứng của sức ỳ và những sự kiện giả tạo đang chậm rãi và kín đáo xé dần lớp vỏ đó. Đấy có thể là một quá trình lâu dài, nhưng một ngày nào đó sẽ xảy ra hiện tượng: cái vỏ không còn trụ vững được nữa, nó sẽ bắt đầu rách ra.

Đấy là thời khắc mà một lần nữa một cái gì đó có thể nhìn thấy được bắt đầu xảy ra, một cái gì đó thật sự mới mẻ và độc đáo, một cái gì đó không nằm trong kế hoạch của giới cầm quyền, một cái gì đó làm cho chúng ta không còn bàng quan với những gì đang diễn ra và đấy là khi – một cái gì đó có ý nghĩa lịch sử thật sự, theo nghĩa là lịch sử đòi hỏi phải được lắng nghe.

Nhưng trong hoàn cảnh đặc biệt của chúng ta, làm sao lại có thể xảy ra sự kiện là “lịch sử đòi hỏi phải được lắng nghe”? Viễn cảnh như thế thực sự ngụ ý chuyện gì?

Tôi không phải là nhà sử học cũng không phải là nhà tiên tri, nhưng không thể không nói lên một vài nhận xét liên quan tới những “thời khắc” đó.

Ở những nơi mà, với mức độ nào đó, sự cạnh tranh công khai nhằm tranh giành quyền lực là bảo đảm duy nhất cho việc kiểm soát của xã hội đối với việc thực thi quyền lực và cuối cùng là bảo đảm cho tự do ngôn luận thì chính quyền dù muốn dù không cũng phải đối thoại thường xuyên và cởi mở với xã hội. Chính quyền buộc phải thường xuyên đánh vật với những câu hỏi mà cuộc sống đặt ra cho họ. Còn ở những nơi không có sự cạnh tranh như thế và vì vậy mà tự do ngôn luận trước sau gì cũng bị đè bẹp – như các chế độ “entropic” – thì chính quyền, thay vì thích nghi với cuộc sống, lại bắt cuộc sống thích nghi với nó. Thay vì thường xuyên đương đầu một cách công khai với những xung đột, những đòi hỏi và vấn đề, thì họ lại tìm cách che đậy chúng. Nhưng ở đâu đó bên dưới lớp vỏ bọc, những cuộc xung đột và đòi hỏi vẫn hiện diện, lớn lên và sinh sôi nảy nở, và khi thời khắc đến, khi cái vỏ bọc không đủ sức ngăn chặn nữa thì chúng sẽ bung ra. Đấy là thời khắc khi sức nặng của quán tính bị hất cẳng và lịch sử lại một lần nữa bước lên vũ đài.

Sau đó thì sao?

Chắc chắn là chính quyền còn đủ mạnh, đủ sức ngăn chặn những cuộc xung đột mang tính sống còn, không cho chúng xuất hiện dưới dạng những cuộc thảo luận công khai hay công khai tranh giành quyền lực. Nhưng họ không thể đủ sức chống lại áp lực này được nữa. Cuộc sống sẽ ngoi đầu lên ở những chỗ có thể – trong những hành lang bí mật của quyền lực, nơi nó có thể đòi những cuộc thảo luận bí mật và cuối cùng đòi cạnh tranh bí mật. Dĩ nhiên là chính quyền không được chuẩn bị để làm điều đó: họ không có kiến thức để tiến hành những cuộc thảo luận thực sự với cuộc sống. Vì vậy mà họ hoảng loạn. Cuộc sống gieo mầm hỗn loạn vào những hội đồng của họ dưới dạng những cuộc cãi vã, mưu mô, cạm bẫy và đối đầu. Thậm chí nó còn đầu độc cả những cán bộ của họ: chiếc mặt nạ chết chóc của sự phi cá tính mà họ chính thức khoác lên người nhằm khẳng định sự đồng nhất với khối quyền lực thống nhất không tì vết kia bất ngờ rơi xuống, để lộ ra những con người bằng xương bằng thịt đang tranh giành quyền lực bằng biện pháp “nhân đạo” nhất và đang đánh nhau để tự cứu mình. Đấy là giờ khắc khét tiếng cho những cuộc cách mạng và bạo loạn cung đình, cho những thay đổi vị trí mà người ngoài thấy khó hiểu và bất ngờ và những thay đổi của những điểm chính trong những bài diễn văn soạn sẵn, là thời khắc khi những âm mưu và trung tâm bí mật có thật hay bịa tạc được tiết lộ, thời khắc khi những tội lỗi có thật hoặc tưởng tượng được nói ra và những khuyết điểm xưa cũ được đào lên, là thời khắc hất nhau ra khỏi công sở, phỉ báng nhau và thậm chí là có cả những vụ bắt giam và đưa nhau ra tòa nữa. Nếu như trước đây mọi người đều nói cùng một ngôn ngữ, sử dụng cùng những sáo ngữ, hoan nghênh hoàn thành thắng lợi của cùng mục tiêu, thì nay khối quyền lực bỗng nứt ra thành những cá nhân riêng lẻ, những kẻ vẫn nói cùng ngôn ngữ ấy nhưng lại dùng miệng lưỡi của mình để tấn công nhau. Chúng ta đã ngạc nhiên nhận thấy rằng một số người trong bọn họ – những kẻ thua trong cuộc đấu tranh bí mật nhằm giành quyền lực – không bao giờ thực sự coi trọng mục tiêu của mình và không bao giờ hoàn thành trọn vẹn những mục tiêu đó – trong khi những kẻ thắng là những người thực sự nhắm đến điều họ nói và là những kẻ duy nhất có khả năng đạt được mục tiêu của mình.

Cuốn lịch của những sự kiện giả trong nhiều năm càng được thiết kế một cách hữu lý bao nhiêu thì ảnh hưởng của sự bùng nổ bất ngờ của lịch sử chân thực càng phi lý bấy nhiêu. Tất cả những thành tố độc đáo, có một không hai và bất thường, từng bị đàn áp trong một thời gian dài, tất cả những điều huyền bí từng bị phủ nhận trong một thời gian dài, đồng loạt lao ra khỏi những vết nứt. Nơi trước đây, suốt nhiều năm trời, chúng ta không hề được biết ngay cả những bất ngờ bình thường nhất, nhẹ nhàng nhất, thì nay cuộc sống là một điều bất ngờ to lớn – và nó xứng đáng được như thế. Và toàn bộ sự hỗn loạn của lịch sử, từng bị che dấu bên dưới cái trật tự giả tạo trong nhiều năm, bất ngờ phun trào ra ngoài.

Chúng ta vẫn thường thấy những chuyện đó! Chúng ta thường chứng kiến những chuyện đó trong những quốc gia của chúng ta! Cỗ máy tưởng chừng như hoàn hảo, không thể nào sai sót, chỉ trong một đêm đã vỡ ra thành từng mảnh mà chẳng cần một cú hích nào. Hệ thống tưởng chừng như một vương triều không bao giờ thay đổi, một thế giới không bao giờ cáo chung vì không gì có thể thách thức được quyền lực của nó, bỗng sụp đổ mà không hề báo trước. Và chúng ta sửng sốt nhận ra rằng nó không phải như chúng ta từng nghĩ.

Thời khắc khi cơn lốc đó xuyên thủng ngôi biệt thụ mốc meo của quyền lực đã hóa đá đó, dĩ nhiên không đơn giản là cội nguồn của sự ngạc nhiên đối với tất cả những người nằm bên ngoài thành lũy của quyền lực. Vì tất cả chúng ta cũng luôn luôn dính líu với nó, dù là gián tiếp. Nó chẳng phải là áp lực lâu năm và thầm kín của cuộc sống, luôn luôn gặp phản kháng, nhưng cuối cùng đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của cả xã hội, những vụ xung đột và căng thẳng của nó đôi khi cũng cho thấy nền tảng của quyền lực ư? Không có gì đáng ngạc nhiên là xã hội tiếp tục tỉnh ngộ trong những thời khắc như thế, gắn bó với chúng, chấp nhận chúng một cách đầy cảnh giác, được chúng kích thích và tìm cách lợi dụng chúng! Hầu như trong mọi trường hợp, những cơn chấn động đó đều gây ra hi vọng hay sợ hãi đủ mọi kiểu, tạo ra – hay tưởng rằng tạo ra – cơ hội cho việc thực thi những xung lực và tham vọng khác nhau của cuộc sống và đẩy nhanh đủ mọi loại phong trào trong xã hội.

Nhưng hầu như trong mọi trường hợp, tình hình như thế – do sự rối loạn quyền lực gây ra những xung đột trái tự nhiên với cuộc sống – bao giờ cũng có những nguy cơ không lường trước được.

Tôi sẽ cố gắng làm rõ một nguy cơ như thế.

Nếu hàng ngày một người nào đó vẫn thầm lặng nhận lệnh của người chỉ huy không có trình độ, nếu hàng ngày anh ta vẫn long trọng thực hiện những hành động mang tính nghi thức mà anh ta cho là kỳ quặc, nếu anh ta vẫn trả lời những bảng câu hỏi trái với ý kiến thực sự của anh ta và là những câu hỏi được chuẩn bị nhằm phủ nhận anh ta ở chỗ công cộng, nếu anh ta không cảm thấy khó khăn khi giả vờ đồng cảm hay thậm chí yêu thương với những điều mà anh ta bàng quan hay ghê tởm, thì điều đó không có nghĩa là anh ta đã đánh mất một trong những cảm nhận quan trọng nhất của con người, mà cụ thể là cảm nhận về phẩm giá.

Ngược lại: thậm chí nếu người ta không bao giờ nói về nó thì người ta cũng biết rõ cái giá mà họ phải trả để có được sự hình yên và thanh thản ngoại tại: phẩm giá con người thường xuyên bị lăng nhục. Muốn làm yên lòng mình, họ càng ít phản kháng trực tiếp bằng cách quên nó đi hay tự lừa mình bằng cách nghĩ rằng nó chẳng có giá trị gì hay đơn giản là nghiến răng lại – thì trải nghiệm càng khoét sâu thêm vào tình cảm của họ. Người có thể phản đối sự lăng nhục thì cũng dễ quên, nhưng người có thể chịu đựng một cách lâu dài chắc chắn sẽ nhớ mãi. Trên thực tế, người ta chẳng quên cái gì hết. Tất cả những nỗi sợ hãi mà người ta từng chịu đựng, sự giả vờ mà người ta buộc phải làm, tất cả những trò hề làm người ta cảm thấy đau đớn và hèn mạt, và tồi tệ nhất là cảm giác phải phơi bày sự hèn nhát của mình – tất cả những điều này đọng lại và tích tụ ở đâu đó trong tầng sâu thẳm nhất của ý thức xã hội và lặng lẽ lên men ở đấy.

Rõ ràng là đấy là tình trạng không hay. Không được xử lí, vết thương sẽ mưng mủ; mủ sẽ tích tụ lại và căn bệnh lan truyền khắp cơ thể. Tình cảm tự nhiên của con người không chấp nhận quá trình khách thể hóa, thay vào đó, nó tích tụ lại trong tâm trí và chuyển dần thành sự câu thúc làm người ta đau khổ, thành chất độc chẳng khác gì chất carbon monoxide (CO) do quá trình cháy không hết tạo ra.

Không có gì ngạc nhiên là khi lớp vỏ bọc nứt ra và dung nham của cuộc đời tuôn trào ra ngoài thì sẽ xuất hiện không chỉ những cố gắng được cân nhắc kĩ lưỡng nhằm điều chỉnh những sai lầm cũ, không chỉ có những cuộc truy tìm sự thật và cải cách phù hợp với nhu cầu của cuộc sống, mà còn xuất hiện cả những triệu chứng của lòng hận thù, sự phẫn nộ và ước muốn đòi phải đền bù cho tất cả những sự nhục nhã mà người ta phải chịu đựng. (Những hình thức bốc đồng và quay quắt của ước muốn đó có thể xuất hiện từ cảm giác mù mờ là sự nổi dậy diễn ra quá muộn, khi nó đã mất hết ý nghĩa, không còn bất cứ động cơ trực tiếp nào và vì vậy mà không có nguy cơ trực tiếp nào, khi nó chỉ là thế phẩm cho một cái gì đó đáng lẽ phải xảy ra trong bối cảnh hoàn toàn khác).

Không có gì ngạc nhiên là những người có quyền lực trong nhiều năm đã quen với sự đồng ý một trăm phần trăm, đã quen với sự ủng hộ hoàn toàn và tuyệt đối, và giả vờ thống nhất hoàn toàn, sẽ bị choáng váng trước cơn bộc phát của những tình cảm bị đè nén trong thời khắc đó đến nỗi họ cảm thấy rằng đang đứng trước một mối đe dọa chưa từng có và trong tâm trạng như thế (tự coi mình là người cứu chuộc duy nhất của thế giới) sẽ coi mối đe dọa chưa từng có đó cũng là mối đe dọa với phần còn lại của thế giới cho nên họ không lưỡng lự kêu gọi hàng triệu binh sĩ ngoại quốc đến cứu mình và cứu cả thế giới.

Cách đây chưa lâu tôi đã trải qua một vụ bùng nổ như thế. Những người đã từng nhiều năm làm nhục và gây thương tổn cho quần chúng nhân dân đã bị sốc khi quần chúng tìm cách cất lên tiếng nói của mình, bây giờ lại gọi toàn bộ sự kiện đó là “sự bùng nổ cảm xúc”. Cảm xúc nào bùng nổ? Những người biết rõ những cảnh nhục nhã diễn ra rộng khắp và kéo dài đã tiên đoán được vụ bùng nổ, còn những người hiểu được cơ chế tâm lý xã hội, của phản ứng tiếp theo những cảnh nhục nhã đó chắc chăn phải cảm thấy ngạc nhiên hơn nữa trước sự bùng nổ tương đối bình lặng, khách quan và vẫn có dáng dấp trung thành như thế. Nhưng, như mọi người đều biết, chúng ta phải trả giá quá đắt cho thời khắc của sự thật đó.

Nhà cầm quyền hiện nay khác xa với những người từng cai trị trước vụ bùng nổ đó. Đấy không chỉ bởi vì những người kia, như người ta nói, là “nòi” còn những kẻ kế nhiệm họ chỉ là bọn bắt chước, không có khả năng nhận thức được rằng bọn “nòi” kia đã đánh mất bao nhiêu tính thần bí của họ, mà trước hết là vì một lý do khác

Vì trong khi chính quyền trước dựa trên cơ sở xã hội là sự ủng hộ đáng tin cậy, mặc dù có giảm sút, của một bộ phận dân chúng và sự hấp dẫn chân thực và lớn lao (cũng đã bốc hơi dần) của những lợi ích xã hội mà nó hứa hẹn, thì chế độ hiện nay chỉ dựa trên bản năng tự bảo vệ của nhóm thiểu số cai trị và nỗi sợ hãi của đa số bị trị mà thôi.

Trong những hoàn cảnh như thế, thật khó mà dự đoán được tất cả các kịch bản khả thi cho “thời khắc của sự thật”: dự đoán cách thức mà một ngày nào đó sự xuống cấp toàn diện và công khai của toàn xã hội có thể đòi được phục hồi. Và không thể nào đánh giá được phạm vi và chiều sâu của những hậu quả đầy bi kịch mà thời khắc đó có thể gây ra, có lẽ là chắc chắn sẽ gây ra, đối với hai dân tộc chúng ta.

Trong bối cảnh đó, thật đáng ngạc nhiên là cái chính phủ vẫn tự quảng cáo là khoa học nhất trong lịch sử lại không có khả năng hiểu được những qui tắc sơ đẳng của hoạt động của mình hay học ngay từ chính quá khứ của nó.

Tôi đã nói rõ rằng tôi không sợ cuộc sống ở Tiệp Khắc sẽ dừng lại hay lịch sử bị ngưng vĩnh viễn cùng với sự gia tăng quyền lực của những nhà lãnh đạo hiện nay. Mỗi hoàn cảnh lịch sử và mỗi thời đại lịch sử đều được nối tiếp bằng hoàn cảnh mới và thời đại mới, tốt xấu chưa biết, nhưng cái mới bao giờ cũng khác xa với hình dung của những người tổ chức và cai trị trong giai đoạn trước.

Tôi sợ một điều khác. Trên thực tế, toàn bộ bức thư này liên quan tới điều mà tôi thật sự lo sợ – những hậu quả kéo dàn và tàn nhẫn đến vô lý mà sự lạm dụng quyền lực hiện nay sẽ gây ra cho hai dân tộc chúng ta. Tôi sợ cái giá mà tất cả chúng ta buộc phải trả cho sự đàn áp quyết liệt lịch sử, phải trả cho sự ruồng rẫy tàn bạo và không cần thiết đời sống, đẩy nó xuống đáy của xã hội và xuống những tầng sâu nhất của tâm hồn con người, phải trả cho những thời cơ được sống một cách tự nhiên mà xã hội đã bị buộc phải bỏ qua. Và từ những điều tôi trình bày có thể thấy rõ là tôi không chỉ lo lắng về cái giá phải trả theo nghĩa những đau khổ mà người ta phải chịu mỗi ngày do sự tàn phá xã hội và thoái hóa của con người hay giá mà chúng ta phải trả cho sự xuống cấp kéo dài về mặt tinh thần và đạo đức của xã hội. Tôi còn lo lắng về cái giá hầu như không thể tính được mà chúng ta có thể phải thanh toán khi đời sống và lịch sử đứng lên đòi hỏi sự công bằng.

Mức độ trách nhiệm của nhà lãnh đạo chính trị trước đất nước chắc chắn là luôn luôn thay đổi và không bao giờ là tuyệt đối. Ông ta không bao giờ cai trị một mình, những người xung quanh ông ta phải chịu một phần trách nhiệm. Không nước nào sống trong chân không, cho nên chính sách của đất nước, ở mức độ nào đó, bao giờ cũng bị ảnh hưởng bởi chính sách của các nước khác. Rõ ràng là những nhà lãnh đạo trước bao giờ cũng phải trả lời nhiều việc vì chính sách của họ đã tạo ra những điều kiện dẫn tới tình hình hiện nay. Xã hội cũng phải trả lời nhiều việc, vì về mặt cá nhân, thông qua những quyết định cá nhân, từng người có trách nhiệm trong việc để xảy ra tình hình như hiện nay hay về mặt tập thể, như một toàn bộ lịch sử–xã hội, bị bó buộc bởi hoàn cảnh và đến lượt nó lại định ra giới hạn cho những hoàn cảnh đó.

Mặc cho những điều vừa nói, tức là những điều đương nhiên là được áp dụng cho hoàn cảnh của chúng ta cũng như cho bất kỳ hoàn cảnh nào khác, trách nhiệm của một nhà lãnh đạo chính trị như ông vẫn vô cùng to lớn. Ông đã đóng góp vào việc tạo ra bầu không khí mà tất cả chúng ta đang sống và vì vậy mà có ảnh hưởng trực tiếp đến cái giá mà cuối cùng xã hội ta sẽ phải trả cho quá trình củng cố hiện nay.

Người Czechs và người Slovaks, cũng như bất kỳ dân tộc nào khác, mang sẵn trong mình những tiềm năng cực kỳ khác nhau. Chúng ta đã có, đang có và sẽ tiếp tục có những người anh hùng, cũng như những tên chỉ điểm và phản bội của mình. Chúng ta có khả năng giải phóng trí tưởng tượng và sáng tạo, có khả năng nâng mình lên những tầm cao không ngờ được về mặt tinh thần và đạo đức, có khả năng chiến đấu cho sự thật và hi sinh vì người khác.

Nhưng trong chúng ta cũng có những tính cách làm cho mình trở thành thờ ơ, không quan tâm đến bất kỳ điều gì khác ngoài cái dạ dày của mình, hay dùng thì giờ để ngáng chân nhau. Và mặc dù tâm hồn con người không phải là cái bình muốn đổ thứ gì vào cũng được (xin lưu ý thái độ kiêu căng thể hiện trong một câu nói thường thấy trong những bài diễn văn chính thức, đấy là khi người ta nói rằng “chúng tôi” – tức là chính phủ – thấy rằng cần phải giáo dục ý tưởng này–này cho nhân dân), nhưng nó phụ thuộc rất nhiều vào những người lãnh đạo, xu hướng nào trong những xu hướng đối chọi nhau trong xã hội sẽ được động viên, những tiềm năng nào sẽ có cơ hội được thực thi, và tiềm năng nào sẽ bị đè bẹp.

Cho đến nay, những điều xấu xa nhất trong chúng ta đã được kích hoạt và mở rộng một cách có hệ thống – tính ích kỉ, dối trá, bàng quan, hèn nhát, sợ hãi, nhẫn nhục, và tìm cách tránh né mọi trách nhiệm cá nhân, không thèm quan tâm tới hậu quả.

Nhưng ban lãnh đạo đất nước hiện nay có cơ hội dùng chính sách của mình để tạo ảnh hưởng đối với xã hội bằng cách khuyến khích không phải mặt tiêu cực mà là mặt tích cực trong chúng ta.

Cho đến nay, ông và chính phủ của ông đã chọn con đường dễ dàng cho các ông, nhưng cũng là con đường nguy hiểm nhất đối với xã hội: con đường dẫn tới tình trạng mục nát ở bên trong để giữ cái hình thức bên ngoài, con đường tiêu diệt cuộc sống nhằm gia tăng sự đơn điệu, con đường làm cho cuộc khủng hoảng về tinh thần và đạo đức ngày càng trầm trọng hơn, và làm cho phẩm giá của con người ngày càng suy thoái hơn, nhằm bảo vệ quyền lực của chính các ông.

Nhưng, ngay cả trong những giới hạn đó, ông vẫn có cơ hội làm được nhiều việc, chí ít là cải thiện phần nào tình hình. Đấy có thể là con đường đòi hỏi nhiều cố gắng và vất vả hơn, lợi ích sẽ không thấy ngay, và sẽ gặp chống đối ở chỗ này chỗ khác. Nhưng vì lợi ích thực sự và tương lai của xã hội chúng ta, đấy sẽ là con đường có ý nghĩa hơn rất nhiều.

Do đó, là công dân của đất nước này, tôi công khai và thẳng thắn yêu cầu ông và những người đại diện hàng đầu của chế độ hiện nay xem xét một cách nghiêm túc những vấn đề mà tôi đã cố gắng lưu ý các ông, yêu cầu các ông đánh giá trách nhiệm lịch sử của các ông và có những hành động phù hợp.

V. H.

Nguồn: vaclavhavel.cz

P.N.T. dịch

Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN.