19/04/2012

Quan điểm về tổ chức hoạt động và các giải pháp quản lý các diễn đàn của trí thức

Tô Văn Trường

Bài viết này bao gồm các chương mục:

I. Quan điểm nhận thức (phần mở đầu)

1. Định nghĩa về trí thức

2. Phản biện xã hội

3. Diễn đàn

4. Diễn đàn khoa học

II. Tình hình chung về Diễn đàn

III. Sự cần thiết và mục tiêu của Diễn đàn trí thức

IV. Tổ chức và quản lý về Diễn đàn trí thức

- Nguyên tắc tổ chức

- Giải pháp về tổ chức

- Phương pháp hoạt động

- Chủ trì Diễn đàn

V. Vai trò của VUSTA Diễn đàn của trí thức

VI. Kết luận và kiến nghị

I. Quan điểm nhận thức

Bộ Khoa học Công nghệ đang tiến hành xây dựng Đề án “Diễn đàn khoa học của trí thức khi tham gia các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định các chủ trương, chính sách, các dự án phát triển kinh tế-xã hội”.

Câu hỏi đầu tiên liên quan đến sự cần thiết vì sao lại xây dựng diễn đàn? Mục tiêu cụ thể của Diễn đàn này là gì? Tiêu chí lựa chọn các nội dung hoạt động của Diễn đàn? Cơ chế nào để diễn đàn hoạt động? Mối quan hệ của Diễn đàn đối với các tổ chức khoa học khác, trước hết là VUSTA. Từ những vấn đề này thì mới đề xuất được hình thức của Diễn đàn cũng như cơ cấu tổ chức, thể chế hoạt động của nó. Nhưng thật ra có lẽ quan trọng nhất lại là cần biết "chỉ đạo" của Bộ Chính trị, Ban Tuyên giáo Trung ương là gì? Tôi tự hỏi Diễn đàn với mong muốn để (1) Cởi trói, tự do tư tưởng, huy động trí thức tham gia vào phát triển đất nước? Hay là (2) Tạo ra một khung mới để quản lý, giám sát trí thức? Mối liên hệ giữa hoạt động của diễn đàn và các tổ chức tư vấn như thế nào? Quan điểm của lãnh đạo về trí thức và tư vấn? v.v.

Tôi nhớ một nhà bác học khai sáng của phương Tây nói đại ý "Có cách gì làm người cầm quyền tăng thêm được tri thức về những việc họ phải quản lý và làm cho người thừa hành thêm hứng thú khi họ tuân lệnh", v.v. Có thể hiểu là hoạt động của trí thức đòi hỏi ý thức sáng tạo với tinh thần trách nhiệm cao. Đặt vấn đề tự do tư tưởng vì nếu không có nó không có sản phẩm có giá trị sáng tạo. Các nước phương Tây có thành tựu lớn chính là nhờ được giải phóng cá nhân, các nhà khoa học tự do suy nghĩ, sáng tạo, phản biện. Các giải Nobel chủ yếu ở Mỹ vì họ có cơ chế tôn trọng tự do sáng kiến của cá nhân.

Cha ông ta đã nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” và câu này đã được viết trang trọng trước cửa “Nhà Việt Nam” tại Shanghai World Expo 2010 (Triển lãm Thế giới tại Thượng Hải, Trung Quốc năm 2010) bằng bốn thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Hoa thu hút sự chú ý đặc biệt của khách thăm quan các nước.

Các cụ ta còn khẳng định “Hào kiệt thời nào cũng có”! Như vậy là ông cha ta luôn coi hiền tài và hào kiệt là nguồn lực đặc biệt quan trọng và vô tận, quyết định sự thịnh suy, hưng vong của đất nước.

Một thời, trên công luận nói nhiều về “think tank”. Trong tiếng Anh: ‘think’ là suy nghĩ, ý tưởng, ‘tank’ là cái thùng, cái bồn cho nên có thể hiểu ‘think tank’ là bồn trí tuệ hay là kho tri thức. Ở các nước đặc biệt là Mỹ và châu Âu (kể cả Trung Quốc) ‘think tank’ xuất hiện từ lâu và hoạt động rất hiệu quả.

‘Think tank’ tập trung một số trí thức, chuyên gia về một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực nào đó để thực hiện xây dựng một số chính sách hay chiến lược nhằm cố vấn, tư vấn, định hướng chiến lược cho một tổ chức hay đối tượng khách hàng nào đó. Có thể có think tank tổ chức phi lợi nhuận hoặc lợi nhuận. Giá trị của ‘think tank’ có thể thuộc về hiệu quả và chất lượng kết quả tư vấn chính sách hay chiến lược của nó mà chỉ có thực tiễn mới có câu trả lời. ‘Think tank’ còn là nơi tập hợp “các nguồn lực chất xám tinh túy của quốc gia” (tôi thích định nghĩa thế này về think tank hơn là “bồn trí tuệ”).

‘Think tank’ là sự cộng hưởng của nhiều khối óc ở nhiều lĩnh vực là sự sẻ chia trí thức để dồn nội lực của bao khối óc vào một tâm điểm: làm giầu dân tộc về mặt vật chất và tinh thần. Người Mỹ có một câu nói rất hay: “America is a melting pot”. Người ta dịch: “Nước Mỹ là nước đa sắc tộc”. Đấy chỉ là bề nổi của câu này, song ngụ ý sâu xa hơn, đó là think tank. Bao nhiêu văn hóa, trí thức, trí tuệ khi đã hội tụ ở nước Mỹ thì không còn tản mạn và hòa chảy thành một khối.

Lãnh đạo giỏi còn là biết sử dụng, tận dụng nhiều ‘think tank’ giỏi, biết tập hợp nhiều nguồn lực chất xám tinh túy này, cùng với một lòng nhiệt tâm, hết lòng vì dân, vì nước. Do vậy, lãnh đạo giỏi phải biết khơi gợi, tạo điều kiện cho các tổ chức think tank phát triển mạnh. Biết “gạn đục, khơi trong” trong việc sử dụng lời khuyên, tư vấn, cố vấn của think tank. Lãnh đạo giỏi không chỉ là ở sử dụng think tank mà cả trong bộ máy của Chính phủ, bộ máy Nhà nước như thời Cụ Hồ mới là đắc sách.

Nhìn ra thế giới, các bài học kinh nghiệm của họ về việc tổ chức và hoạt động các "bồn trí tuệ" của Chính phủ cùng như hoạt động trong xã hội dân sự là:

1) Chỉ tư vấn có hiệu quả cho người biết trân trọng và biết làm việc với chuyên gia tư vấn (chuyên gia tư vấn là tên gọi khiêm tốn của "cố vấn"). Không dễ có người có tâm và có tầm như thế.

2) Chỉ tư vấn có hiệu quả khi có những người thật sự xứng đáng về phẩm chất và tài năng là chuyên gia tư vấn. Không dễ có người có tâm và có tầm như thế.

3) Chỉ tư vấn có hiệu quả khi quốc gia có những thể chế chính trị, kinh tế, xã hội thích hợp (chủ yếu là về tự do, dân chủ đạt tới mức cần thiết).

Thiếu một trong ba điều kiện trên đây là đủ để dẫn đến không thành công hoặc thành công giả tạo. Tuy nhiên, còn một yếu tố nữa rất quan trọng chính là dân tộc ấy, trình độ phẩm chất bản thân dân tộc ấy quyết định sản sinh ra người cầm quyền tốt, cố vấn tốt. Dân tộc nào cũng thế, cũng phải chịu trách nhiệm trước loài người về lịch sử của bản thân mình, được tôn vinh những điều tốt đẹp và bị chỉ trích, trừng phạt về những điều xấu xa, tội ác.

Trên thực tế thì những người có hiểu biết nói riêng và người dân nói chung cần phải thấm nhuần một điều là “thấy chết không thể không cứu”, “thấy cháy nhà không thể không dập lửa”. Việc cần phải làm thì không thể không làm. Vì một điều đơn giản là nếu chần chừ không làm thì người khác sẽ làm hỏng, làm sai, thậm chí làm hại người lành. Khi đó thì tội người biết mà không làm, không nói càng nặng hơn. Lúc đó hối thì đã muộn. Bởi vậy, nếu có ba điều kiện nêu trên thì việc tư vấn, góp ý càng tốt hơn, hiệu quả hơn. Hay nói cách khác sự phát triển, thành công của xã hội chúng ta phụ thuộc vào cả hai phía của tư vấn: bao gồm trình độ của người quản lý, và trình độ của người tư vấn (bao gồm cả trí thức và toàn dân) cộng thêm mức độ của dân chủ.

Chúng ta đang trên con đường xây dựng xã hội dân chủ, nên cần từng bước hoàn thiện quá trình này. Dù khó khăn nhưng từng bước chúng ta sẽ tiến dần lên. Không thể đợi đến khi có dân chủ hơn thì mới thực hành tư vấn, phản biện. Ngược lại, chính trong quá trình thực hành tư vấn, phản biện thì cả hai phía: quản lý và người dân sẽ dần dần hoàn thiện hơn về trình độ, cũng như hiểu nhau hơn (bao gồm có được những thể chế phù hợp hơn).

Chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi nếp nghĩ theo cách cũ. Cụ thể là chúng ta vẫn quen trông mong, chờ đợi vào một “người cầm quyền tốt”, hay như cách nói trước đây là “một minh chủ”. Trên thực tế là chúng ta cần một nền dân chủ, và chúng ta không cần “một minh chủ”. Chúng ta cần một thể chế tốt cho phép xã hội đó hoạt động tốt với hệ thống tư vấn, phản biện, cho dù người cầm quyền đó là ai. Người cầm quyền là quan trọng nhưng không phải là quyết định tất cả. Điều quyết định lại thuộc về ý kiến của toàn dân, của tư vấn phản biện. Tức là thuộc về một xã hội dân chủ.

Thập niên 90, Thủ tướng Võ Văn Kiệt (bí danh Sáu Dân) thấy cần thiết có một số chuyên gia tư vấn cho mình ở cương vị và trách nhiệm Thủ tướng Chính phủ, ngoài hệ thống tổ chức sẵn có của nhà nước, độc lập suy nghĩ và phát biểu không bị bất kỳ sức ép nào. Ông Sáu Dân với tầm nhìn xa, và thực tế, trực tiếp cử một số trí thức tâm huyết, có năng lực đi nghiên cứu tại chỗ ở Mỹ, Canada, Pháp, Đức và tham khảo tài liệu về tổ chức tư vấn của Chính phủ Nhật Bản, Chính phủ Thái Lan. Kết quả của các chuyến đi công tác thể hiện trong báo cáo rất cụ thể về việc thành lập chuyên gia tư vấn cho Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ là người 5 không: (1) Không nằm trong hệ thống tổ chức thứ bậc của nhà nước; (2) Không đại diện cho ai; (3) Không ai được đại diện cho mình; (4) Không là cấp trên của ai; và (5) Không là cấp dưới của ai. Đây là các chuyên gia tư vấn của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ, không nói về các loại chuyên gia tư vấn khác.

Người chuyên gia tư vấn không nhận lệnh, không báo cáo, không kiến nghị, không đệ trình. Người chuyên gia tư vấn cho lời khuyên và lời can. Khuyên làm việc tốt cho dân, cho nước. Can làm việc hại cho dân, cho nước. Thủ tướng trân trọng gửi công thư mời đến từng người mà Thủ tướng muốn mời làm chuyên gia tư vấn cho mình. Từng người viết thư trả lời đồng ý hoặc từ chối. Người Thủ tướng và người chuyên gia tư vấn, theo quyết định của mình, do những cân nhắc của mình, bất cứ lúc nào cũng có thể cảm ơn nhau, và kết thúc công việc tư vấn. Ông Sáu Dân rất hoan nghênh tất cả những điều trên đây và theo đó mà tổ chức từ tháng 10 năm 1993 tổ chuyên gia tư vấn của mình, gồm hơn 40 anh chị em là chuyên gia tư vấn, trong đó có cả ba chuyên gia Việt kiều đang sinh sống và làm việc ở Mỹ, Đức và Nhật Bản. Đến năm 1997, ông Phan Văn Khải làm Thủ tướng thay ông Sáu Dân, đã kế thừa và phát triển kinh nghiệm của ông Sáu Dân, chuyển Tổ chuyên gia tư vấn thành Ban Nghiên cứu đổi mới kinh tế, xã hội và hành chính của Thủ tướng, gọi tắt là Ban Nghiên cứu.

Có ý kiến cho rằng vì sao sau “Tổ chuyên gia tư vấn” thì đến “Ban nghiên cứu”, lại không tiếp tục phát huy hoạt động tư vấn độc lập, không chỉ cho các đời Thủ tướng, mà là Chính phủ, các Bộ, Ban, Ngành nói chung? Làm như thế, để các hoạt động tư vấn đó không chỉ phục vụ cho một địa chỉ, một “minh chủ”, mà cho xã hội nói chung. Bởi vì đó là hoạt động bình thường phục vụ cho nhu cầu của một xã hội bình thường, chính là con đuờng đi đến xã hội dân chủ.

Chúng ta đều biết trên thế giới này không có chính phủ nào tránh được sai lầm khi đưa ra các chủ trương, chính sách. Nếu lãnh đạo biết lắng nghe, phân tích, sàng lọc các ý kiến tư vấn của các tổ chức độc lập thì chắc chắn mức độ sai lầm sẽ giảm đi đáng kể!

Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Khoa học và Công nghệ chắc chắn thấu hiểu vai trò vị trí và tầm quan trọng của người trí thức trong xã hội nên đã quan tâm thiết lập Diễn đàn khoa học của trí thức khi tham gia các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định các chủ trương, chính sách, các dự án phát triển kinh tế-xã hội.

1. Định nghĩa về trí thức

Trí thức đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của nền văn minh nhân loại, không những về mặt khoa học kỹ thuật mà còn cả về kinh tế, chính trị và văn hóa. Người đời thường nói có những khái niệm định tính, không thể định lượng. Sản phẩm xã hội là sản phẩm nhờ tài năng của trí thức đóng góp vào sự phát triển nhưng không phải của riêng trí thức. Trí thức, có vai trò gói gọn trong tạo ra các sản phẩm tri thức (intellectual property) như các lý thuyết, các bài thơ, áng văn, các tác phẩm hội họa, các sáng chế phát minh, v.v. Thay đổi xã hội đặt trong tay các nhà chính trị, các tổ chức xã hội, các đảng phái. Phải nói thật, các chính trị gia ở nước phát triển này rất giỏi, thường là tầng lớp tinh túy của xã hội, học từ các trường rất xịn, họ giỏi, IQ rất cao. Nhưng chẳng ai định nghĩa họ là trí thức hay không.

Theo tôi hiểu xã hội học phương Tây có một cái hay và cũng là cái dở là không bao giờ chỉ có một định nghĩa. Trong bài nghiên cứu bất kỳ, thường thấy có phần gọi là Literature Review, trong đó liệt kê một loạt các định nghĩa cách hiểu của nhiều học giả khác nhau, tất nhiên có một số guru trong lĩnh vực thì người ta thường trích dẫn và ưu tiên trước. Tự do học thuật cho phép người ta thích theo trường phái nào người ta thích, không giống như toán học 1+1 phải bằng 2. Chính vì vậy, việc cứ phải tìm ra một định nghĩa trí thức là gì quả thật cũng khó, mà nhiều khi đi vào chi tiết cũng không cần thiết.

Như lý thuyết của công ty Apple, cái gì đơn giản nhất nhiều khi là hay nhất. Cứ coi trí thức là những người sử dụng trí óc vào nghề nghiệp của mình hay công việc bản thân, nhưng sản phẩm tạo ra không thể đánh giá đơn thuần bằng các tiêu chuẩn rõ ràng hoặc sản phẩm rõ ràng. Việc dùng trí óc phải bao gồm suy nghĩ và nhận định. Sản phẩm đầu ra gọi là sản phẩm tri thức (intellectual property). Vậy thì cứ đơn giản hiểu trí thức là người tạo ra ‘intellectual property’. Mà luật sở hữu tri thức đưa ra những gì là sản phẩm tri thức, thì tức khắc những người tạo ra chúng là trí thức.

Ở các nước phát triển, thực tế không hề có chuyện phân chia giai cấp. Họ chỉ phân chia theo nghề nghiệp, chủng tộc và tôn giáo. Tuy nhiên, không ai chê nghề của ai cả, vì lương được trả cao, một số việc chân tay lương cao hơn làm việc trí óc. Giá trị cuộc sống được đánh giá theo nhiều tiêu chí, trong đó có tiền và địa vị, nhưng cũng có những giá trị khác, như có ích cho cộng đồng, cho tôn giáo.

Gần đây, tôi được biết trên thế giới, người ta phân loại trí thức, xét về quan hệ của trí thức với chế độ chính trị, xã hội và với giới cầm quyền, cả trường hợp trong quốc gia đã hình thành giới trí thức và trường hợp trong quốc gia chưa hình thành giới trí thức:

- Những trí thức có mặt trong những người tạo lập ra chế độ, những trí thức ấy thường giữ vị trí trọng yếu trong giới cầm quyền.

- Những trí thức là bạn và đối tác lâu dài của chế độ và của giới cầm quyền.

- Những trí thức là bạn đường (compagnons de route) được hình thức mời hoặc tự xếp đặt của chế độ và của giới cầm quyền, trong từng chặng đường, thậm chí từng vụ, từng việc.

- Những trí thức dửng dưng, không phản đối cũng không ủng hộ chế độ và giới cầm quyền, chuyên tâm làm công việc theo sở thích của mình, không bao giờ đi bỏ phiếu trong cấc kỳ bầu cử, kể cả tổng tuyển cử, nếu là trí thức có đức độ, tài năng, danh tiếng và uy tín lớn thì luôn luôn được chế độ và giới cầm quyền kính trọng, coi như thượng khách của chế độ, của giới cầm quyền.

- Những trí thức là kẻ hầu hạ, tôi tớ, nịnh bợ, cầu danh cầu lợi trong việc răm rắp tuân theo ý muốn của giới cầm quyền, kể cả khi phải muối mặt làm những việc xấu xa, bẩn thỉu. Có những người cho rằng những kẻ ấy không thể được coi là trí thức, nhưng sự thật thì không dễ loại những kẻ ấy như thế, trong số họ có những kẻ không chỉ nhiều mưu mẹo, nhiều thủ đoạn, mà còn thật sự có tài, rất giỏi giang, uyên bác.

- Những trí thức luôn luôn ở tư thế phê phán, chỉ trích, phản bác chế độ, vạch trần sự hèn kém, đồi bại của kẻ này, người khác trong giới cầm quyền, thậm chí sự hèn kém, đồi bại của toàn bộ giới cầm quyền.

- Những trí thức là kẻ thù từ tâm trí đến xương tủy của chế độ, của giới cầm quyền, không đội trời chung, tìm mọi cách để lật đổ giới cầm quyền, thủ tiêu chế độ chính trị, xã hội hiện hành, tạo lập một chế độ mới, một giới cầm quyền mới.

Việc tranh cãi ai là tri thức vào thời điểm này, khi thế giới đang ở thế kỷ 21 rồi, có lẽ chỉ có ở Việt Nam. Vì Việt Nam đang nghèo, cơ chế chính trị còn nhiều bất cập, các giá trị cuộc sống đang đảo lộn. Cái này giống như thời kỳ cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18, các thanh niên và giới học giả tranh cãi nhau ai là trí thức, và chỉ có trí thức mới đủ năng lực lãnh đạo cách mạng Pháp. Hay như thời kỳ đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam dưới chế độ thực dân Pháp cũng vậy.

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức cho đến nay vẫn chưa định hình. Hiền tài đương nhiên là trí thức. Người xưa, quan niệm trí thức là người được học rộng, biết nhiều, có trình độ đào tạo cao hơn mặt bằng chung của xã hội. Theo từ điển:Trí thức là người sử dụng trí tuệ làm việc, nghiên cứu, phản ánh, dự đoán hoặc để hỏi và trả lời các các câu hỏi liên quan hàng loạt những ý tưởng khác nhau. C. Mác định nghĩa: Trí thức là người nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì hiện hữu. Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào.

Ngày nay, theo quan điểm chính thống, trí thức là những người lao động trí óc. Thái độ của trí thức là thước đo sự tiến triển của chế độ. Gs Cao Huy Thuần, Đại học Picardie (Pháp), định nghĩa: “Ai đánh thức không cho xã hội ngủ, người ấy là trí thức bất kỳ họ là ai”. J.P. Sartre, triết gia lừng danh người Pháp, đã nói: “Nếu ai đó chế tạo ra quả bom nguyên tử, thì người đó là bác học, chỉ khi nào ông bác học ý thức được cái khí giới giết người ghê gớm ấy, đứng lên hô hào chống bom nguyên tử, lúc đó ông ta là trí thức.

Đất nước ta, từ xưa đến nay lúc nào cũng nhiều người hiền tài, tuy nhiên từng thời kỳ, từng lúc mà nguồn hiền tài đó được khơi ra như thế nào. Có nghĩa là khi được quan tâm, trọng dụng thì hiền tài sẽ có, tri thức sẽ nhiều. Người có học vấn thường có khả năng phán đoán và nhận định tình hình sáng suốt hơn người thường. Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm và xây dựng đất nước phát triển rất hiệu quả nhờ tầng lớp trí thức lãnh đạo biết khơi dạy, hòa đồng cùng với nhân dân xả thân vì nghiệp lớn. Bài “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt xác định chủ quyền của đất nước “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” hay bản hùng văn lịch sử của Nguyễn Trãi “Bình Ngô đại cáo”, là minh chứng cho sự sáng suốt của các tiền nhân biết coi trọng và sử dụng trí thức là các nhà quân sự, nhà tư tưởng chiến lược của thời đại.

Mặc dù chế độ phong kiến chỉ cho phép sĩ phu tiến thân trong chốn quan trường nhưng các bậc trí thức hiền tài khi thấy ý kiến của mình không được Vua tôn trọng, đã sẵn sàng rũ áo, từ quan về ở ẩn. Ông Chu Văn An nổi tiếng là bậc Thánh hiền, ngay khi đỗ Thái học sinh, ông từ chối làm quan, không màng danh lợi, về quê mở trường dạy học có nhiều môn sinh. Vua Trần Minh Tông biết tài của Chu Văn An mời ông vào triều dạy học cho thái tử và các con đại thần. Đến đời vua Trần Dụ Tông thấy nhiều đại thần xung quanh Vua là nịnh thần, tham quan, nhà giáo Chu Văn An đã dũng cảm dâng sớ, hạch tội và xin chém 7 kẻ tội thần. Vua không nghe, ông liền treo ấn, từ quan về ở ẩn. “Thất trảm sớ” nổi tiếng của nhà giáo Chu Văn An vẫn còn được truyền tụng mãi đến muôn đời sau. Thời Vua Quang Trung, biết rõ Ngô Thời Nhậm có tật nhưng vẫn sử dụng vì biết ông ta có tài. Tiếc thay, bậc minh quân tài giỏi như vua Quang Trung lại đoản thọ nên nghiệp lớn vẫn còn dở dang.

Năm 1930, thời kỳ đầu của cách mạng, tư tưởng của một số người có thẩm quyền xuất phát từ nền kinh tế “tiểu nông” lạc hậu, nên đã ấu trĩ đề ra chính sách sai lầm coi trí thức như kẻ thù cần đả phá với khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Thời thế tạo ra anh hùng. May mắn cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh xuất hiện với tư duy, tầm nhìn sáng suốt, khôn ngoan nhờ tích lũy và sàng lọc theo thời gian trong những năm tháng lăn lộn ở xứ người đã cảm hóa, thuyết phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, một nhân tố cực kỳ quan trọng để gọi dạy sức mạnh đoàn kết dân tộc, từ bỏ cuộc sống “nhung lụa”, bất chấp hiểm nguy, vào bưng, ra chiến khu đi theo kháng chiến tiêu biểu như Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Hữu Thọ, v.v. Khi thành lập Chính phủ kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có công thư “Tìm người tài đức” đăng báo để công khai, minh bạch vì Bác sợ rằng “không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những người tài đức không thể xuất thân”. Bác Hồ đã làm công tác cán bộ trên cơ sở dựa vào thành ý và minh tâm của dân để tuyển chọn và sử dụng người tài, chứ không cho rằng công tác tổ chức là chỉ thuộc về Đảng, làm trong nội bộ Đảng rồi đưa ra thuyết phục, thường là áp đặt, để dân chấp nhận.

Sau này, một số người có thẩm quyền với cách nhìn hẹp hòi, thiển cận về lý lịch, thành phần đã chuyên quyền, bỏ qua không đào tạo và sử dụng nhiều người có năng lực cần thiết cho công cuộc tái thiết đất nước. Họ chưa thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý”. Ngày nay, cơ chế và tuyển chọn cán bộ vẫn còn “chuyên quyền”, dễ thấy nhất là sự hẹp hòi, thiển cận không dám dùng và không biết dùng những người có thực tài ngoài Đảng. Thời đại ngày nay, do nền kinh tế thị trường, những trí thức có năng lực thực sự và tự trọng cao, không còn chí thú theo đuổi, cố bám vào cái ghế quyền lực để tiến thân. Có những lúc các cụ ta phải kêu lên:

“Nhân tài như lá mùa thu

Tuấn kiệt như sao biển sớm”

Đó là lúc báo hiệu đất nước sẽ suy vong, lòng người ly tán. Nếu dùng hình ảnh về “hiền tài”, ta thấy tre rừng thì rất nhiều lại mọc cheo leo trên sườn núi, oái oăm thay cây tốt nhất, to và thẳng nhất thường mọc ở giữa bụi rất khó tìm, khó chặt và khó mang về nhà hơn là các cây tre bao quanh cong queo, thậm chí lại có mắt sâu. Bởi vậy, nhiều người cho rằng, nếu Đảng và Nhà nước không có cơ chế tuyển chọn công khai, minh bạch (trí thức thích thi thố tài năng) và chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc thích hợp thì rất khó tuyển chọn được những người hiền tài cho đất nước. Người được tuyển chọn trong vòng luẩn quẩn “chuyên quyền” đó, dễ dẫn đến một số người lọt vào “mắt xanh” của Đảng nhưng lại không đủ tâm và tầm để sử dụng nguồn nhân lực có trí tuệ, người giúp việc tài giỏi hơn mình.

Cổ nhân đã dạy: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” có nghĩa là ngay cả người tầm thường cũng phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của đất nước. Trí thức lại càng phải có trách nhiệm hơn thế! Ngày nay, tiếp tục truyền thống của cha ông, trí thức cần được rèn luyện để trở thành hiền tài có vai trò và trách nhiệm cống hiến tài năng vào tiến trình phát triển đất nước. Người khôn học kinh nghiệm lịch sử, kẻ dại học kinh nghiệm bản thân. Thời xưa, có những nhà vua anh minh đề ra chức “gián quan” được miễn tội chém đầu để can ngăn những việc không đúng, không nên làm của Vua. Trí thức thời nay là tầng lớp tinh hoa của xã hội, sáng tạo ra các giá trị tinh thần, tôn trọng chân lý phải biết làm phản biện chính là hình ảnh của “gián quan” thời xưa nhưng được nâng lên tầm cao mới theo tư duy của xã hội dân chủ và phù hợp với thời đại toàn cầu hóa của nền kinh tế tri thức.

Chúng ta tin vào sức năng động tự thân của dân tộc, sự sáng tạo và bền bỉ của giới trí thức như ngọn lửa bùng lên để những người có trọng trách biết suy nghĩ, trọng dụng, quy tụ, sử dụng đội ngũ trí thức, nhất là các bậc trí thức lão thành, tâm huyết có kinh nghiệm, bản lãnh hiến kế cho tiến trình xây dựng đất nước. Các bậc trí thức hàng đầu của đất nước, theo quy luật của tạo hóa sẽ có lúc phải ngừng nghỉ, đó là khoảng trống mênh mông để lại.

Nhìn xa, hiền tài phải được hướng tới lớp người trẻ tuổi bởi vì họ mới là lớp người có khả năng tiếp thu cái mới, sáng tạo, phụng sự đất nước khi còn sung sức. Khơi nguồn hiền tài từ lớp trẻ, đặc biệt là tuổi trẻ trí thức là con đường lâu dài và đúng đắn nhất. Cần tạo môi trường cho trí thức làm việc, phát huy năng lực, đãi ngộ xứng đáng công sức, thành quả họ mang lại. Tuy nhiên, vẫn có luồng ý kiến, trí thức chân chính không cần đãi ngộ, họ sẽ tự biết tìm cách để sáng tạo và tự sử dụng mình vào những công việc hữu ích cho tổ quốc. Có thực tế, “luật bất thành văn”, trong hệ thống xét duyệt, bổ nhiệm cán bộ cao cấp của Nhà nước không có chỗ dung thân cho những trí thức tài giỏi ngoài Đảng. Có nghịch lý, khá nhiều trí thức tiêu biểu cũng lại không thiết tha vào Đảng để làm con đường tiến thân!

Ngày nay, có thể hiểu hiền tài không chỉ là trí thức, mà là tất cả những ai có năng lực, có tâm huyết và khát vọng cống hiến cho đất nước, cho dân tộc.

Nếu những người làm công tác cán bộ thực sự thấu hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh thì giới tinh hoa của trí thức kể cả trong và ngoài Đảng lại đồng nghĩa với giới lãnh đạo thì chắc chắn đất nước sẽ hưng thịnh, hội nhập và xã hội sẽ ổn định, phát triển vững bền.

2. Phản biện xã hội

Đối với bất kỳ quốc gia nào, tăng trưởng kinh tế bền vững phải luôn gắn với quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội hợp lý, được lòng dân. Chiến lược ấy sẽ là cơ sở quan trọng cho lập quy hoạch phát triển và kế hoạch thực hiện theo từng giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài. Kinh nghiệm của các nước tiên tiến, muốn khai thác tài nguyên một cách khôn ngoan, sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả và đạt mục tiêu một cách tối đa thì phải coi trọng vai trò của phản biện. Chất lượng của phản biện phụ thuộc vào quan điểm, ý thức, khả năng chuyên môn và tầm nhìn của người phản biện.

Cuộc sống là quá trình vận động luôn đòi hỏi sự hoàn thiện. Sự hoàn thiện là cái đích mà chúng ta hướng đến, trong đó có vai trò đóng góp quan trọng của công tác phản biện khoa học và phản biện xã hội.

Tôi không biết ai là người đầu tiên đặt ra từ phản biện vì nhiều người cho rằng nó xuất xứ từ chữ “counter-argument”. Chúng ta đều biết rằng người phản biện không phải bao giờ cũng là người chống lại bằng cách vạch ra những sai hỏng, những yếu kém của đề án, của công trình, mà nhiều khi người phản biện đồng tình, hoan nghênh, ca ngợi đề án hoặc công trình, và bao giờ người phản biện cũng nêu cả hai mặt ưu điểm và khuyết điểm của đề án, của công trình, rồi đề ra giải pháp khắc phục. Theo đó phê phán không chỉ có nghĩa là phản đối, mà có nghĩa rộng hơn cùng với vạch ra sai hỏng và khuyết điểm còn bao gồm cả bình luận, đánh giá, phát hiện, biểu dương, tiếp thu những ưu điểm và khơi gợi những ý tưởng mới để tiếp tục khai phá.

Phản biện là nhu cầu tất yếu của cuộc sống. Phản biện vô cùng cần thiết đối với bất cứ xã hội nào để ổn định và phát triển bền vững. Phản biện xã hội là sự đóng góp một cách khách quan, từ nhiều góc độ nhằm giúp cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách có cái nhìn toàn diện, đầy đủ và chính xác hơn vì lợi ích của cả dân tộc, của đất nước.

Vấn đề phản biện xã hội được đề cập rất nhiều trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước, đơn cử như Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam ghi rõ “Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 125). Quan trọng và rõ ràng hơn, thể hiện sự khẳng định của Đảng là: "Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ” (như trên, trang 135). Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) chuẩn bị trình Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: "Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội". Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020" chuẩn bị trình Đại hội XI cũng nhấn mạnh: "Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là về các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển quan trọng. Quy định chế độ cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trước nhân dân". Dự thảo Báo cáo chính trị chuẩn bị trình Đại hội XI có câu: "Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân, thực hiện dân chủ ở cơ sở, giám sát và phản biện xã hội."

Đọc những câu trên đây trong văn kiện của Đảng, so sánh những câu ấy với nhau, đối chiếu với những việc làm của Đảng, của Nhà nước và với thực tế gần năm năm qua, từ giữa tháng 4 năm 2006 đến cuối tháng 10 năm 2010, thấy rõ có nhiều điều rất đáng suy ngẫm. Đảng và Nhà nước đã khởi xướng, khuyến khích xã hội dân sự và động viên người dân phản biện xã hội. Với sự tham gia của nhân dân, Đảng và Nhà nước xây dựng và nghiêm chỉnh thực hiện quy chế xã hội dân sự và người dân phản biện xã hội, nội dung chủ yếu của quy chế ấy là: khi nhận được ý kiến phản biện xã hội, Đảng và Nhà nước nghiên cứu kỹ và trả lời chính thức, tùy loại vấn đề, sau một thời gian nhất định, phần nào đồng ý thì đưa vào chương trình hoạt động và thi hành ngay, phần nào chưa đồng ý thì đối thoại bình đẳng, thẳng thắn với tổ chức hoặc người phản biện xã hội để đi đến đồng thuận. Xã hội dân sự không bao gồm cá nhân từng người. Tác nhân phản biện xã hội rộng hơn xã hội dân sự, là các tổ chức của xã hội dân sự và cá nhân từng người, trong đó có thể có, và ở ta đã từng có, sự phản biện xã hội của cả những công chức nhà nước và cả các nhân sĩ là đảng viên.

Nhân dân tiến hành phản biện xã hội đích đáng, có hiệu quả cao là một công trình lâu dài, gắn liền với dân tâm, dân trí, dân sinh, dân quyền được nâng cao, gắn liền với sức chủ động và sáng kiến của dân tộc, với sự tận tụy và tài năng của những người phục vụ dân tộc trong công cuộc phản biện xã hội này. Phản biện xã hội đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, và nhất là đòi hỏi sự chuẩn bị chuyên nghiệp, trí tuệ, quan niệm đúng, cách làm đúng, bước đi thiết thực, không phải là ồn ào, sốc nổi kiểu phong trào và chiến dịch mà có thể thành công. Suy cho cùng phản biện xã hội là ý thức trách nhiệm của công dân đối với sự phát triển của đất nước.

Trong xã hội dân chủ, phản biện là trách nhiệm của cả cộng đồng, của mọi người dân, trong đó vai trò của các nhà khoa học rất quan trọng. Phản biện khoa học, và ngay cả phản biện xã hội không phải là bài toán đơn giản cấp số cộng mà là sự đúc kết tinh hoa, kinh nghiệm thực tiễn của cả cộng đồng, có ý nghĩa vừa mang tính thực tiễn, vừa mang tính khoa học. Tuy nhiên, chính phản biện đôi khi cũng nằm trong vòng xoay của nghịch lý. Vấn đề là cái nghịch lý đó diễn ra theo chiều nào, hướng cái thiện, cái đẹp, cái đúng về đâu. “Lý luận hình như đúng để chứng minh một điều mà ai cũng biết là sai” hay “Lý luận hình như sai để chứng minh một điều mà ai cũng biết là đúng”. Đấy chính là cái ranh giới rất khó vượt qua và khó thông cảm giữa người phản biện và người “được phản biện” nếu không lấy cái thiện ý làm đầu.

3. Diễn đàn

Hiểu theo nghĩa rộng thì diễn đàn dùng để chỉ nơi (không phải là địa điểm vật chất cụ thể) dùng để trao đổi các ý kiến (gọi tắt là thông tin) của các cá nhân hoặc đại diện của tổ chức về các chủ đề nào đó. Hình thức cụ thể của diễn đàn có thể là:

- Trường hợp hình thức của diễn đàn là các cuộc họp (hội nghị, hội thảo, đại hội) trong một không gian có kích thước nhất định (hội trường, giảng đường, nhà hát, sân vận động...), trong đó có vị trí cố định dùng cho cá nhân (diễn giả) trình bày các ý kiến của mình (phát biểu), có vị trí dùng cho bộ phận điều khiển cuộc họp (đoàn chủ tịch) và có vị trí dùng cho những người nghe đến dự cuộc họp. Diễn đàn trong hình thức này có đặc điểm bị hạn chế về thời gian (vài giờ đến một số ngày nhất định), về phạm vi không gian (trong khuôn khổ của hội trường, sân vận động...) và có sự khống chế của tổ chức nhất định (thể hiện bởi quy định về chủ đề và nội dung, lịch trình, quyền điều khiển... của tổ chức chủ trì cuộc họp).

- Trường hợp hình thức của diễn đàn là một phương tiện vật chất được sử dụng để chuyển tải ý kiến của cá nhân hoặc đại diện tổ chức (gọi là vật mang thông tin) như các phương tiện thông tin đại chúng (báo giấy, sách, tạp chí, báo điện tử - mạng thông tin điện tử, truyền hình, đài phát thanh...). Hình thức vật mang thông tin không bị hạn chế hoàn toàn về thời gian (báo chí, báo mạng điện tử hàng ngày hoặc theo định kỳ như báo tuần, tạp chí, sách được tái bản), về phạm vi không gian (trong xã hội ở quy mô địa phương, cả nước và thế giới...), nhưng vẫn có sự khống chế bởi các quy định của pháp luật trong lĩnh vực thông tin, báo chí, xuất bản của một quốc gia.

Toạ đàm trao đổi ý kiến trên đài phát thanh, đài truyền hình là dạng đặc thù của hình thức này.

-Trường hợp hình thức đặc thù khi một tổ chức (tổ chức xã hội, kinh tế...) chuyên nghiệp được đăng ký dưới tên gọi là ” Diễn đàn A”, hoạt động theo chức năng tổ chức các hội nghị, hội thảo và phát hành xuất bản phẩm là kết quả của diễn đàn. Diễn đàn trong trường hợp này là sự trùng hợp và kết hợp của 2 hình thức trên (1.1 và 1.2). Diễn đàn trong trường hợp này bị khống chế bởi các quy định có tính pháp lý của Tổ chức Diễn đàn (về mục đích, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, tư cách pháp nhân...) và các quy định của pháp luật trong lĩnh vực thông tin, báo chí, xuất bản đối với xuất bản phẩm của tổ chức này.

4. Diễn đàn khoa học

Là diễn đàn có nội dung trao đổi về các vấn đề khoa học và với sự tham gia của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực liên quan đến chủ đề của diễn đàn.

Đối với loại hình 1, diễn đàn khoa học bao gồm các hội nghị, hội thảo, các toạ đàm khoa học và có thể là đại hội của một hội khoa học.

Đối với loại hình 2, diễn đàn khoa học bao gồm các báo, tạp chí (viết và điện tử) khoa học tổng hợp, chuyên ngành khoa học hoặc các báo, tạp chí khác có các trang, chuyên mục về các lĩnh vực khoa học.

Đối với loại hình 3, có thể lấy trường hợp tổ chức Diễn đàn kinh tế thế giới – World Economic Forum (WEF) – ở Thụy Sỹ làm ví dụ điển hình.

II. Tình hình chung về diễn đàn

Có ý kiến cho rằng, hiện tại chúng ta chưa có diễn đàn cho trí thức. Nhưng tự phát hình thành trên báo mạng một vài hình thức giống diễn đàn với các chủ đề tản mạn, bàn cãi tính đúng sai của một mặt nào đó trong xã hội. Sự bàn cãi còn mang nhiều cảm tính, có tính chất định tính và thiếu tính định lượng. Các diễn đàn nói trên trở nên sôi động và bùng nổ khi một sự kiện nào đó xảy ra như là kết quả tất yếu của xung đột mâu thuẫn đã chín muồi, cho nên tác dụng của nó còn rất hạn chế, tốt lắm chỉ là đạt được sự điều chỉnh chính sách của nhà cầm quyền với mục đích giảm mâu thuẫn xung đột và mang lại sự hả hê cục bộ.

Các thông tin trên diễn đàn này thường đa dạng, đa chiều, dạng nào, chiều nào cũng mạnh mẽ và sắc bén nhưng nguy hiểm ở chỗ xấu che, tốt khoe. Vì vậy muốn tiếp thu cũng không đơn giản. Không phải tất cả đều đen cả. Thật ra, bất cứ nhà cầm quyền nào cũng muốn nhân dân ủng hộ mình, cũng muốn đất nước mình hùng mạnh. Chỉ có điều làm được hay không, có phải hi sinh lợi ích bản thân hay không. Ở các nước có nền dân chủ thực sự, càng có nhiều diễn đàn càng tốt, bởi trên diễn đàn chỉ là sự phô bày tư tưởng chứ không phải là hành động bùng phát theo tư tưởng ấy.

Tình hình chung ở nước ta có cái lệ, diễn nhưng không có đàn. Hoặc cứ đàn tràn lan mà không có diễn giải. Nhất là tình trạng “cơm nguội chan nước lã” trong một diễn đàn có chủ đề, chuyên đề hẳn hoi, nhưng không tập trung, không xoáy vào trọng tâm, xong diễn đàn vẫn không bật ra được vấn đề cốt lõi. Cái kiểu đăng ký hoặc giao theo nội dung (đề tài) cho từng diễn giả, viết xong, Ban Tổ chức duyệt, được thì mới cho đọc. Đó là sự áp đặt rất chủ quan và tự làm mất hiệu quả cũng như giảm hẳn chất lượng diễn đàn. Thế nên, đáng buồn và cần suy ngẫm, ở ta sao lại thành nếp quen: hội thảo, có hội, nhưng ít thảo. Diễn đàn, có đăng đàn, nhưng không cho diễn, mà chỉ cho đọc những cái đã viết sẵn, chẳng phát tiết, mở mang thêm gì. Có tọa đàm, nhưng chỉ tọa, không thấy đàm được mấy. Chúng ta có quá nhiều các loại hội, mặt trận tổ quốc, nhưng cái quan trọng nhất là tính độc lập thì khó.

Để cho Đề án thực sự có giá trị đi vào cuộc sống, chúng ta cần trao đổi tất cả các suy nghĩ của mình trước khi bắt tay vào công việc. Có ý kiến cho rằng ở Việt Nam không thể có “diễn đàn khoa học của trí thức” bởi vì từ khi lập nước từ năm 1945 đến nay Việt Nam chưa hề có “khoa học xã hội” theo đúng nghĩa của nó mà chỉ minh họa cho Nghị quyết của Đảng! Duy nhất có cuộc tranh luận công khai tự do tư tưởng ở chiến khu Việt Bắc giữa ông Quang Đạm (phái Mác xít) và ông Vũ Trọng Khánh (Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên của Chính phủ Cụ Hồ) về nhà nước tam quyền phân lập, vai trò độc lập xét xử của tòa án, tính giai cấp của luật pháp, v.v. Cuộc tranh luận này kết thúc trước Đại hội II của Đảng năm 1951. Ông Nguyễn Đức Bình khi là Ủy viên Bộ Chính trị. Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cũng như gần đây vẫn công khai phát biểu: “Tranh luận thì cứ tranh luận nhưng phải dựa trên nền tảng của Học thuyết Mác-Lê Nin”, điều đó có nghĩa là chỉ duy nhất có một hệ tư tưởng!? Không phải các vị lãnh đạo cấp cao nào cũng đồng tình với quan điểm trên vì tôi biết câu chuyện có thật Thủ tướng Phan Văn Khải khi còn tại chức, có lần nói chuyện riêng với Hội đồng Lý luận cũng đã từng đề cập đến ba vấn đề cần tránh: (1) Độc quyền chân lý; (2) Áp đặt tư duy và (3) Quy kết tùy tiện.

Nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo là cần phải tập hợp được những ý kiến "lề trái" và tranh luận công khai, thẳng thắn với họ là cách thức tốt nhất để đất nước phát triển.

Trí thức là những người có một số kiến thức về một số lĩnh vực nào đó trong cuộc sống xã hội, những người này không ngừng học hỏi, nâng cao các kiến thức ấy lên và không ngừng tích lũy trong họ thành một nền tảng TRÍ TUỆ. Với cái nền tảng trí tuệ ấy, họ luôn khát khao tìm hiểu cái mới, tìm hiểu cái chưa biết trong thiên nhiên,trong xã hội,tìm hiểu cái mặt trái của những điều tưởng chừng đã biết nhằm tìm ra cách làm cho hiện tại tốt đẹp hơn lên, thế giới tốt đẹp hơn lên. Đến một lúc đủ chín muồi, họ sẽ đánh thức cộng đồng, đánh thức quần chúng, nhân dân cùng họ tiến hành thực hiện hành động để mọi thứ tốt đẹp hơn bằng cách mà họ tin rằng đã tìm ra. Trong quá trình thực hiện đó họ không quên truyền bá kiến thức cho quần chúng để thực hiện một cách hiệu quả hơn. Chẳng ai trao không cho dân quyền làm chủ. Quyền dân chủ phải tranh đấu lâu dài và gian khổ lắm. Muốn dân làm chủ thì trí của dân phải được nâng lên. Các diễn đàn bằng nhiều hình thức khác nhau cả báo chính thống và báo công dân trong thời gian vừa qua, góp ý về các dự án thủy điện Sơn La, dự án bô xít Tây Nguyên, dự án đập sông Tranh 2, dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, vụ anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, v.v. ít nhiều đánh thức cả hai phía nhân dân và nhà cầm quyền có hướng nhìn chung vì sự tồn vong và phát triển vững bền của đất nước. Các diễn đàn này giúp cho cả hai phía nhân dân và nhà quản lý 1) cung cấp thông tin chi tiết, khoa học về vấn đề đang được quan tâm, đang cần trao đổi, bàn bạc; 2) Trao đổi, tranh luận để qua đó giúp cả hai phía hiểu rõ hơn, suy nghĩ kỹ hơn, thấu đáo hơn; 3) Hiểu nhau hơn, khỏa lấp khoảng cách giữa hai phía, giúp tạo ra sự đồng thuận, đi đến quyết định được lòng người.

III. Sự cần thiết và mục tiêu của diễn đàn

Đất nước ta đang hội nhập, đổi mới, rất cần phát huy năng lực tư duy sáng tạo của giới trí thức, khoa học. Mặc dù hoạt động “tư vấn, phản biện và giám định” chưa được nhiều hoặc còn mang tính tự phát, bị động nhưng đã thể hiện rõ tác dụng, hiệu quả ở một số chương trình, đề án lớn như Thủy điện Sơn La, dự án đuờng sắt cao tốc Bắc Nam, bô xít Tây Nguyên, nhà máy điện hạt nhân, v.v.

Các chủ trương chính sách, chương trình phát triển kinh tế xã hội phần lớn được xây dựng và thực hiện không có hoặc không làm tốt việc tư vấn, phản biện và giám định, do đó, không thực hiện được, hoặc hiệu quả thấp, thất thoát lãng phí thời gian. Thử hỏi sau 37 năm thống nhất đất nước Việt Nam đã phát triển như thế nào? Tỷ lệ tăng trưởng, chỉ số IQ, trình độ văn hóa, v.v. cùng thời gian ấy chưa dám so với Nhật Bản, Hàn Quốc mà chỉ so với các nước Đông Nam Á và Nam Mỹ thôi đã thấy khoảng cách tụt hậu càng tăng lên có gia tốc. Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Trí thức bao giờ cũng cần có “sân chơi” đối thoại cần thẳng thắn và tôn trọng lẫn nhau. Cần một diễn đàn khoa học của trí thức để thông qua đó phổ biền những chủ trương, chính sách về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng các dự án phát triển xã hội mà Đảng, Nhà nước sẽ tiến hành trong tương lai.Thông qua diễn đàn này, Đảng và Nhà nước lắng nghe các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà hoạt động xã hội, các trí thức trên nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau. Các ý kiến đó là sự tung hô thì càng tốt (chả cứ Đảng mà ai chả thích), các ý kiến ấy là không đồng thuận thì sẽ cân nhắc và tu chỉnh, mà quá nhiều ý kiến phản đối thì cấp tốc nghiên cưú lại, xây dựng lại, hoặc xây dựng mới. Nhưng tuyệt đối trong diễn đàn này, không có chỗ cho sự công kích theo ý đồ cá nhân.

Liệu nhìn các con số thống kê nhức nhối dưới đây, trí thức Việt Nam có thể bàng quan, ngủ yên được không?

clip_image002

1. Tỷ lệ trẻ em chết đuối ở Việt Nam cao nhất khu vực Đông Nam Á. Cứ mỗi ngày lại có 10 trẻ em tử vong vì chết đuối, độ tuổi từ 7- 15.

clip_image003

2. Giá bất động sản Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới. Giá nhà đất tăng lên hơn 100 lần trong vòng 20 năm. Giá nhà ở trung bình cao hơn 25 lần so với thu nhập bình quân hàng năm của người lao động. Đồng thời, giá nhà ở Việt Nam lớn hơn gấp 5 lần so với các nước phát triển và gấp 10 lần so với nước chậm phát triển.

clip_image004

3. Giá cho thuê văn phòng tại Hà Nội và TP. HCM vào hàng đắt đỏ nhất thế giới. TP. HCM đứng ở vị trí 27 (417 euro/m2/năm) và Hà Nội ở vị trí 32 (371 euro/m2/năm). Ở Đông Nam Á, Hà Nội và TP. HCM chỉ đắt đỏ sau Singapore (thứ 6).

clip_image005

4. Lãi suất Việt Nam “khủng” nhất thế giới. Kể từ năm 2011 và quý 1/2012, lãi suất cho vay thông thường tại Việt Nam lên tới hơn 20%/năm, cao hơn gấp từ 3 - 4 lần so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia…

clip_image006

5. Việt Nam được xếp vào top 5 nước hạnh phúc nhất thế giới. Tuy nhiên đây mới chỉ là bề nổi. Hiện Việt Nam vừa mới vượt qua mức thu nhập thấp để lên mức trung bình. GDP/ năm bình quân đầu người của Việt Nam tính theo sức mua bằng 3/4 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/3 của Thái Lan, 1/5 của Malaysia.

clip_image007

6. Việt Nam là quốc gia có tổng số phương tiện trên đầu người cao nhất thế giới, đặc biệt là xe máy. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tai nạn giao thông ở Việt Nam được coi là cao nhất thế giới. Mỗi ngày trung bình có 31 người chết vì tai nạn.

clip_image008

7. Việt Nam là một trong hai nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới nhưng gạo Việt Nam lại rẻ nhất trong số năm nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới, theo thứ tự là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Mỹ và Pakistan.

clip_image009

8. Cũng với sự giúp đỡ của Google Trends có thể thấy người Việt đam mê công nghệ nhất thế giới. Thử với từ khóa "3G", Việt Nam lại đứng đầu danh sách những nước tìm kiếm từ khóa này. Thử với từ khóa "Iphon" (vì người Việt viết sai tiếng Anh) thì Việt Nam đứng số 1, còn với từ khóa đúng là iPhone thì Việt Nam đứng thứ 3.

clip_image011

9. Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về nạn gian lận click chuột trong quảng cáo (Click Fraud), lượng click gian lận chiếm tới 48.3% trong tổng lượng nhấp chuột, theo khảo sát năm 2009. Con số này bỏ xa Canada với 27.7%, Hoa Kỳ thứ ba với 25.6%. Các công ty dùng dịch vụ quảng cáo mạng phải trả tiền quảng cáo theo số lượng các cú click chuột, gian lận này khiến họ phải chịu thiệt hại nghiêm trọng.

clip_image012

10. Giá xe hơi ở Việt Nam đang đắt nhất thế giới, gấp hơn 2 lần so với các nước phát triển và khoảng 1,5 lần so với các nước trong khu vực. Để sở hữu chiếc Honda Civic 1.8, khách hàng Hà Nội phải bỏ ra trên 925 triệu đồng, đắt gấp hai lần chi phí của người dân New York, Mỹ.

clip_image013

11. Giá bán lẻ sữa ở Việt Nam đang ở mức cao nhất thế giới: giá bán lẻ trung bình là 1,4 USD/lít, trong khi Trung Quốc là 1,1 USD, Ấn Độ: 0,5 USD, các nước Âu - Mỹ từ 0,5-0,9 USD/lít. Hiện giá sữa ở Việt Nam cao gấp đôi Malaysia và gấp 1,5 lần so với Thái Lan.

clip_image014

12. Giá thuốc tây tại Việt Nam thuộc hàng đắt nhất thế giới. Theo khảo sát năm 2010 của Tổ chức Y tế Thế giới với bảy nhóm thuốc thông dụng (trong đó có kháng sinh) cho thấy, giá thuốc tại Việt Nam cao gấp từ 5 đến 40 lần so với thế giới.

clip_image016

13. Việt Nam là nơi có giá thuốc lá rẻ nhất thế giới cũng là nơi có thể mua thuốc lá dễ nhất thế giới. Hiện giá bán tối thiểu đối với mỗi bao thuốc lá điếu bao cứng là 4.050 đồng và bao mềm là 3.450 đồng. Tỷ lệ nam giới hút thuốc ở Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới với 47,8%. Việt Nam có hơn 40.000 người tử vong mỗi năm do thuốc lá.

clip_image018

14. Việt Nam đứng top 10 không khí bẩn nhất thế giới. Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123 trong bảng xếp hạng, chỉ xếp trên 9 nước khác. Về tổng thể môi trường, Việt Nam đứng vị trí 79. Yếu tố thứ ba, chất lượng nước ảnh hưởng đến sức khỏe, Việt Nam được xếp hạng 80. Lượng khói bụi và mức độ ô nhiễm tại Hà Nội gấp nhiều lần cho phép.

IV. Tổ chức và quản lý về Diễn đàn trí thức

Cơ chế thực hiện “tư vấn, phản biện và giám định xã hội” làm cho nhiều người không hiểu hoặc không làm được như mong muốn. Tư vấn, phản biện, giám định mà chẳng ai nghe, chẳng ai làm, chẳng ai chịu trách nhiệm thì có nghĩa gì? Tri thức phần đông lại có lòng tự trọng, tự ái (các anh cần thì các anh lấy ý kiến chúng tôi) nếu chúng tôi hăng hái góp ý thì các anh lại không làm, bỏ trong ngăn kéo hoặc làm chiếu lệ, có người hăng quá lại bị nhắc khéo, thậm chí vào “sổ đen”!

Diễn đàn để cho “danh chính ngôn thuận”, người muốn nói có quyền và có chỗ để nói, người muốn nghe có chỗ để nghe. Trí thức được “lắng nghe và thấu hiểu” hơn. Tuy nhiên, phải tránh hình thức, và nhất là không được áp đặt, truy chụp, phải dân chủ bình đẳng thật sự, phải được ghi nhận, và tôn vinh những hoạt động tư vấn, phản biện, giám định có hiệu quả.

Về lý thuyết diễn đàn khoa học không tạo ra đường lối chính sách bởi vì khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội có tính cực đoan, nhiệm vụ của các chính trị gia là dung hòa, đề ra đường lối chính sách. Tuy nhiên, tình hình thực tế ở Việt Nam đã đến lúc chúng ta nên nghĩ tới các nhà khoa học tham gia góp ý hoạch định xây dựng chính sách ngay từ lúc ban đầu. Quá trình xây dựng và phản biện gần như tiến hành song song ngay từ lúc đầu. Người ta cho rằng 80% ý tưởng mới phát sinh ra trong quá trình tranh luận giữa xây dựng và phản biện, 20% ý tưởng mới ấy biến thành những chính sách rất hay mà cả hai bên không ngờ tới. Quá trình tiến hành song song ấy sẽ cắt giảm được rất nhiều chi phí và thời gian, và hạn chế tối đa những rủi ro có thể.

Hiện nay, có tô vẽ mị dân cũng không được nữa, lãnh đạo Nhà nước đã hiểu được, cảm nhận được lòng dân và họ đang cố tìm cách cải thiện. Diễn đàn khoa học là của trí thức hay không tùy thuộc vào tính khoa học, tính thực tế, tính uyên thâm, tính lan tỏa và đặc biệt là tính thuyết phục của các luận chứng mà các trí thức đưa ra để có thể vạch rõ đâu là giả trí thức. Phải đúc kết các luận chứng khoa học ấy một cách ngắn gọn nhất, dễ hiểu nhất trong chừng mực có thể để phổ biến cho nhiều người hiểu và đồng thuận, không cần trích dẫn nhiều, đó là cách biến luận chứng của mình hợp với ý của dân. Biết nhặt ra trong cái đối tượng mình đang phản biện (với một thái độ thân thiện) những điểm đúng và cần trân trọng những điểm đó, vì có thể sử dụng ngay nó vào hiện tại hoặc vào thời gian khác, việc khác.

1. Nguyên tắc tổ chức

- Mềm mại linh hoạt, không cứng nhắc. Điều này là cần thiết. Nếu cứ cứng nhắc và không linh hoạt sẽ dễ lâm vào tình trạng bó buộc nhau. Và như thế khó thu hút được sự tham gia tư vấn.

- Nguyên tắc tự nguyện rất cao. Đây chính là chỗ thể hiện đặc tính của trí thức. Những người ít chất trí thức sẽ không tham gia. Tuy nhiên, cũng có những người tham gia theo kiểu cài cắm, thành phần.

- Hoàn toàn tự do tư tưởng không bị bất cứ ràng buộc nào. Điều kiện này liên quan đến điều khoản linh hoạt, không cứng nhắc. Phải thừa nhận là hoàn toàn tự do tư tưởng thì hơi khó trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, tự do đến mức nào là tùy vào người nói và người nghe. Tùy vào thiện chí, tùy vào tương quan. Dù sao thì điều kiện này rất cần được đặt ra. Còn thực tế đạt được đến đâu là tùy vào hoàn cảnh cụ thể.

- Tự trọng mình, tôn trọng nhau rất có văn hóa. Nghĩa rộng của văn hóa là bản chất lành mạnh, bản chất đẹp của con người. Điều kiện này cũng tương tự như điều kiện tự do tư tưởng. Tự tôn trọng và tôn trọng nhau là điều cần thiết, nhưng thực hiện được đến mức nào thì tùy thuộc hoàn toàn vào thực tế. Thực tế thì nhóm trí thức là một bộ phận của xã hội, và sẽ hành xử như ngoài xã hội người ta tôn trọng nhau thôi. Tự tôn trọng mình và được các bên liên quan tôn trọng. Điều này cũng tùy thuộc vào tương quan với các bên, trong đó kể đến các nhà quản lý, nhà lãnh đạo. Người ta vẫn có ý kiến e ngại rằng các vị trí thức cứ thích nói mà không nghĩ đến cái khó của nhà quản lý. Hoặc các nhà trí thức cứ thích thì nói, nhưng họ có biết thực tế nó khó thế nào đâu. Hoặc nói là trí thức nhưng trình độ họ có hạn, góp ý nhưng chẳng dùng được. Nhưng góp ý và tư vấn là cần thiết trong xã hội dân sự hiện nay. Cho dù trình độ có hạn nhưng cứ đem ra sử dụng cho đời sống xã hội, dần dần rồi trình độ sẽ lên theo. Dù sao thì tư vấn cũng giúp đỡ được phần nào cho quản lý. Hơn nữa việc tư vấn là một quá trình trao đổi ý kiến giữa các bên trong xã hội. Chính bằng diễn đàn này mà xã hội Việt Nam ta sẽ học dần cách đưa xã hội dân sự tham gia vào quản lý xã hội.

2. Giải pháp về tổ chức:

Diễn đàn có thể phân làm 3 nhóm.

· Nhóm 1: Lão thành

Trước hết hãy chỉ gồm các vị ít nhất 50 tuổi trở lên, là các vị chức sắc đã về hưu, đã từng có vị trí cao trong xã hội (Quốc hội, Chính phủ, Đảng...). Các vị này cần phải là có tư duy đổi mới, mong muốn đất nước phát triển, dám nói, dám nghĩ, dám làm. Theo truyền thống Việt Nam, người ta vẫn coi trọng người thâm niên, có quyền hoặc đã từng có quyền. Thứ đó, ở Việt Nam các vị chức sắc sau khi về hưu thì mới dám nói, dám làm. Thứ 3, những người này thuộc thế hệ "ít bị nhiễm" các vấn đề xã hội, tương đối trong sạch, "chính danh ngôn thuận".

Cần phải có nhóm người này thì may ra Diễn đàn, hay phong trào, mới có tiếng nói có trọng lượng, mới gây ảnh hưởng được tới hệ thống chính trị và chính quyền hiện nay, ít nhất là trong thời gian vài năm trước mắt. Nếu thật sự mời được các vị này thì rất tốt.

· Nhóm 2: Lớp khoa học trẻ

Bao gồm những người trẻ, có trình độ, tập hợp những người, những cá nhân xuất sắc được đào tạo cả trong và nước ngoài có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về Việt Nam, có so sánh đánh giá với kinh nghiệm của các quốc gia khác. Có một số trí thức Việt kiều cũng rất giỏi và rất nhiệt huyết, sẵn sàng bắt tay với các nhân sỹ trong nước.

· Nhóm 3: Phương tin thông tin

Bao gồm các hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí chính thống, báo chí công dân. Điều cốt yếu là phải làm rõ được tầm quan trọng của tự do báo chí, để từ đó có công cụ sắc bén:

- Nâng cao tình trạng công khai minh bạch.

- Thu hút trí tuệ vào các vấn đề trọng đại của cuộc sống và của đất nước.

- Nâng cao dân trí và các giá trị mà một xã hội, một đất nước đòi hỏi trên con đường phát triển của mình;

- Làm cho tiếng nói của báo chí phản ánh tiếng nói của quảng đại quần chúng nhân dân, quyền kiểm soát và giám sát của nhân dân đối với toàn bộ cuộc sống mọi mặt của đất nước; nói ngắn gọn làm cho báo chí là nơi chuyển tải tiếng nói của xã hội dân sự được giác ngộ cao, là một cách quan trọng để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của mình. Đáng mong ước hơn nữa là phải làm cho báo chí trở thành quyền lực của nhân dân!

- Xây dựng và hướng dẫn những giá trị mới để dẫn dắt dư luận, cổ vũ tinh thần yêu nước chân chính.

- Báo chí trở thành trường học của xã hội dân sự.

Sau khi làm rõ thì những chủ trương chính sách thuộc chính trị văn hóa, tư tưởng thì bao giờ yếu tố tôn trọng con người cũng phải đặt lên như một mục đích hướng tới. Nhìn lại, chỉ vì chúng ta lâu nay lảng tránh vấn đề nhân quyền, cũng như tòan lảng tránh những vấn đề cần động não nên đất nước mới gặp khó như ngày nay. Đừng sợ tự do ngôn luận, sự tự do này chính là cơ sở để Đảng nắm được ý nguyện của dân (để tập trung ý dân mà lãnh đạo), nắm được tình hình diễn tiến của xã hội để nhà nước quản lý một cách hiệu quả. Chúng ta đã từng sợ hãi nhiều thứ quá, và quả thật đau lòng khi sợ hãi nhân dân. Chúng ta che đậy nỗi sợ hãi ấy đi bằng vô vàn điều cấm kỵ mà không nghĩ rằng đó chính là sự biểu hiện của giấu dốt, của hèn nhát. Sự dốt nát, hèn nhát có bao giờ làm nên điều kì vỹ??? Thằng ăn cắp vẫn là thằng ăn cắp cho dù hắn có là tỉ phú thì cũng vậy thôi. Trong các dự án phát triển kinh tế xã hội, chưa có sự liên kết một cách sâu sắc giữa khoa học kĩ thuật và khoa học xã hội. Các nhà khoa học xã hội có thể nêu ra rất nhiều vấn đề về chất nhưng các nhà khoa học kỹ thuật sẽ chỉ ra rằng cần bao nhiêu thay đổi về lượng để ta có thể có chất tốt hơn và phù hợp hơn, hoặc chỉ ra rằng chỉ cần thay đổi về lượng ngần này thôi thì cái chất ta đang nâng niu kia bị phá vỡ. Hai lĩnh vực này cần hiểu nhau hòa quyện với nhau tạo thành khoa học nhân văn phục vụ hoạch định phát triển của đất nước.

Kết nối ba nhóm: Trước tới giờ, hai nhóm này có nhiều ý kiến đóng góp xây dựng cho Đảng và Nhà nước, tuy nhiên thường độc lập. Nhóm 1 đưa ra các ý kiến đóng góp rất được Chính quyền nể trọng, tuy nhiên vẫn mang tính kinh nghiệm, không hợp với tình hình mới. Chẳng hạn, không thể đưa ra các góp ý về hệ thống ngân hàng cần như thế nào, hay chính sách tiền tệ ra sao, hoặc Việt Nam cần sử dụng quyền lực mềm trong đối chọi với Trung Quốc ra sao. Nhóm 2 có nhiều ý kiến rất thực tiễn, rất khả thi với tình hình hiện nay, nhưng không, hoặc ít bao giờ được nghe bởi các vị cao cấp trong Chính phủ.

Vì vậy, có thể hay không những thông điệp của nhóm 2 được truyền tải cho nhóm 1, và nhóm 3, sau đó được nhóm 1 phát ngôn, vận động tới các nhóm người cần sự tác động (có thể là các quan chức, có thể là một tầng lớp dân cư).

Quan trọng là có sự gắn kết của "lớp lão thành" và "lớp trẻ", tận dụng được ưu thế của hai bên. Trí thức có tiếng nói, nhưng nếu tiếng nói đó như nói vào hư không, không có tác dụng gì thì cũng rất đáng tiếc.

Cần lưu ý so sánh đến phương án khác: Có thể nên chia theo các nhóm ngành nghề, nhóm chủ đề. Cách chia này có lẽ gần giống với các ngành nghề của VUSTA. Lý do là vì: Thứ nhất các ngành nghề ngồi với nhau dễ bàn một cách sâu sắc, thấu đáo. Tất nhiên, những vấn đề lớn thường bao gồm liên ngành. Khi đó những ngành liên quan sẽ ngồi với nhau để cùng trao đổi, bàn bạc. Như vậy cách chia nhóm cũng rất linh động, nó tùy thuộc vào từng nội dụng, chủ đề cụ thể. Thứ 2, trong mỗi nhóm rất cần có đủ cả các thế hệ, trẻ, già, và có đủ cả truyền thông, và lobby nữa. Sự có mặt đa dạng này sẽ hỗ trợ lần nhau để bù đắp vào những khuyết thiếu của mỗi thế hệ. Thế hệ trẻ thì năng động, nhạy bén, ít bảo thủ. Thế hệ lão thành nhiều kinh nghiệm, uy tín, có tiếng nói, có kinh nghiệm. Và trong mỗi nhóm yếu tố truyền thông và lobby là yếu tố quan trọng, quyết định.

Sản phẩm của diễn đàn trí thức:

- Công việc của đất nước, của dân tộc. Điều này có thể là còn xa vời, nhưng vẫn phải hướng tới nó. Đó là công việc của đất nước là của chung toàn dân, trong đó có trí thức. Vì vậy lấy ý kiến của dân và của trí thức phải là điều bắt buộc cho các quyết sách. Tương tự như quyền phúc quyết của dân. Không phải đợi đến khi có nguy cơ giặc thì mới triệu tập hội nghị Diên Hồng.

- Đối ngoại quốc tế, thời đại ngày nay. Điều này thì lại là lợi thế của trí thức rồi. Những khi cần đối ngoại, và cần đem chuông đi đấm nước người thì trí thức được vời đến. Tuy nhiên, cũng không loại trừ những lúc vì “nhạy cảm” mà trí thức vẫn bị lờ. Điều khó nhất hiện nay là “nước lạ” lại cứ nắm được ót của ta. Dù sao thì cũng phải cố xoay xở trong hoàn cảnh nằm dưới móng vuốt của cọp.

3. Phương thức hoạt động:

Xây dựng bản quy chế hoạt động trên cơ sở tự do tư tưởng, không bị bất cứ ràng buộc, áp lực nào. Diễn đàn nhằm tham gia góp ý các vấn đề trọng đại của đất nước, các Chương trình, dự án, đề tài cấp nhà nước về xây dựng đường lối, cương lĩnh, thể chế, chính sách, chiến lược, v.v.. trong khuôn khổ các quy chế quản lý khoa học của Đảng và Nhà nước.

Có ý kiến không nên xây dựng một bản quy chế riêng cho Diễn đàn trí thức. Chúng ta đề cao pháp luật. Có lẽ nên hoàn thiện pháp luật và những quy định hiện có để có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tư vấn của trí thức nói chung, và diễn đàn nói riêng. Việc hoàn thiện pháp luật này có lẽ VUSTA sẽ là đơn vị có tiếng nói chính. Khi có được một khung pháp lý dân chủ, cởi mở thì không chỉ riêng Diễn đàn này mà còn có thể nhiều diễn đàn khác, và cả các tổ chức dân sự khác có thể phát triển. Và Diễn đàn này sẽ là một thử nghiệm ban đầu.

Diễn đàn là hình thức hoạt động tự nguyện nhằm tạọ ra môi trường học thuật để các chuyên gia trình bày, trao đổi, thảo luận, góp ý, phản biện những vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộc phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, và các vấn đề liên quan mà mọi thành viên quan tâm. Hướng hoạt động của Diễn đàn chủ yếu nhằm vào việc hình thành những đề xuất, góp ý kiến xây dựng đối với các chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Diễn đàn cũng là nơi sinh hoạt văn hoá tư tưởng, giao lưu tình bằng hữu cùng bổ sung thông tin và tri thức phù hợp đặc điểm và nguyện vọng của các thành viên. Mọi thành viên tham gia Diễn đàn có quyền tự do và bình đẳng ngang nhau trong hoạt động khoa học tại Diễn đàn, tự do phát biểu thẳng thắn ý kiến của mình, tôn trọng, lắng nghe và tranh luận với tinh thần xây dựng đối với những ý kiến khác, tự chịu trách nhiệm về các nội dung phát biểu và tài liệu trình bày của mình. Các quan chức trong Chính phủ cũng có thể là trí thức, mời họ tham gia tranh luận, từ đó họ được "mở rộng tầm mắt", học tập được cái mới, cách thức lãnh đạo tiên tiến hiện nay.

Về mặt lâu dài nên có những tổ chức chuyên nghiệp. Ở các nước phát triển họ có rất nhiều các thể loại Viện tư vấn hoạt động độc lập với nhà nước. Và các viện đó hoạt động đóng góp rất nhiều cho hoạt động quản lý và ra chính sách của nhà nước. Hiện nay ở Việt Nam có rất ít những viện như vậy. Việt Nam có đầy đủ các thể loại viện ở khắp các bộ, ngành. Tuy nhiên, những viện hưởng lương nhà nước sẽ có những khả năng khác với những viện tự hoạt động độc lập. Nếu Diễn đàn trí thức này hoạt động tốt có thể khuyến khích sự ra đời, phát triển của những viện nghiên cứu độc lập thì đó thực sự là một điều tuyệt vời. Hiện nay, nhân lực không phải là không có, vấn đề là tạo ra một cơ chế cởi mở. Đặc biệt là tạo ra “đầu ra” cho các nghiên cứu. Có nghĩa là những kết quả nghiên cứu được nhà nước sử dụng. Kinh phí cho nghiên cứu thì không phải là quá khó trong cơ chế thị trường. Các viện cũng phần nào có thể kiếm nguồn tài trợ được. Nhưng đó là nghĩ xa xôi, trước mắt Diễn đàn trí thức tạo ra một sân chơi bình đẳng là điều cần có. Không phân biệt sang hèn, không phân biệt đẳng cấp, không phân biệt thành phần xuất thân, không phân biệt mậu dịch – tư nhân (nó cũng giống như sự bình đẳng giữa các thành phần trong lĩnh vực kinh tế vậy). Nếu được như thế thì là một cuộc thay đổi lớn.

Một câu hỏi và cũng là một vấn đề mấu chốt liên quan đến sự “lắng nghe” của các cấp lãnh đạo. Mức độ lắng nghe như thế nào? Đó là điều mà trí thức hiện nay đa phần đang nghe ngóng. Thật ra thì đến giờ này mà vẫn nói rằng trí thức cần có một lãnh đạo biết lắng nghe thì cũng là điều ngây thơ, và lỗi thời. Không phải trách nhiệm của trí thức là dám nói thẳng. Không phải trách nhiệm của lãnh đạo phải lắng nghe. Mà là quản lý nhà nước, quản lý xã hội trong thời buổi này phải dựa trên công khai, dân chủ, cởi mở. Mọi thứ cần phải được công khai. Cả trí thức, và nhà quản lý đều phải công khai dự định và lập luận của mình. Cả trí thức và nhà quản lý phải dân chủ, cởi mở khi bàn luận về định hướng phát triển, hay chính sách quản lý… Công khai sẽ giúp có được nhiều ý kiến nhiều chiều. Mà càng nhiều chiều, càng có cơ hội dân chủ hơn. Chính quản lý nhà nước một cách công khai dân chủ, cởi mở là là xu thế thời đại. Đó là cách thu hút, tận dụng được hết các năng lực của toàn xã hội, nhằm thúc đẩy đất nước phát triển nhanh chóng hơn. Nhìn vào thực tiễn vừa qua, chẳng hạn như về dự án Bauxit, dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, mở rộng Hà Nội, điện hạt nhân… có thể thấy mục tiêu công khai, dân chủ, cởi mở là xa vời, nhưng các nhà lãnh đạo cũng đã nhận ra được xu thế của thời đại ngày nay. Diễn đàn trí thức sẽ đặt một viên gạch trên con đường đi đến mục tiêu đó. Còn hiện tại, ta vẫn nhìn thấy các kiểu định hướng, các kiểu “võ” “pha loãng thông tin”, “đánh lạc hướng dư luận”, hoặc thậm chí cho ngồi chơi xơi nước, hoặc còn có thể nặng hơn theo một vài cách nào đó. Cái chính là mức độ cởi mở như thế nào. Cái kiểu mở ra một chút rồi lại buộc lại cũng chẳng còn có đất nữa rồi. Dần dần, xu thể cởi mở sẽ tiến lên cùng sự đổi thay của đất nước

4. Chủ trì Diễn đàn:

Dù bất cứ Diễn đàn nào nếu ý kiến có chất lượng, nếu hay thật thì thế nào cũng có người nghe. Vấn đề là hiểu rõ sự phân công xã hội:

- Các chính trị gia có quyền quyết định và họ phải chịu trách nhiệm trước Hiến pháp và pháp luật, trước lịch sử về các quyết định của mình;

- Các học giả có trách nhiệm nói lên sự thật và cố thuyết phục các nhà hoạch định chính sách (nhưng đừng bao giờ kỳ vọng họ làm theo mình răm rắp, họ có đầu của họ, có nhiều nguồn tham vấn mà mình chỉ là 1 trong số ấy). Việc nói cho công chúng, cho đồng nghiệp, để khơi dậy sự thảo luận vẫn là quan trọng nhất.

Tùy theo từng chủ đề sinh hoạt, nhưng nguyên tắc là phải mời được các vị trí thức có tên tuổi, uy tín, các lão thành cách mạng có tâm và tầm để cuốn hút được các thành phần tham dự, đặc biệt là các chuyên gia tư vấn độc lập.

V. Vai trò của VUSTA – Diễn đàn của Diễn đàn

Vai trò của VUSTA (Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam) là một tổ chức chính trị xã hội được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Trong cơ cấu hiện nay, một vị Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng kiêm chức Phó Chủ tịch Hội đồng Trung ương VUSTA.

Thời gian qua, các vị lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng và Nhà nước đã đến làm việc thể hiện rõ ràng sự quan tâm đó và muốn VUSTA khẳng định vị trí và hoạt động hoạt động trong hệ thống các tổ chức chính trị xã hội của đất nước. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của VUSTA là tư vấn, phản biện và giám định các chương trình phát triển kinh tế xã hội lớn. VUSTA đã có những hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực này. Thông qua các tổ chức thành viên và trên nhiều diễn đàn do VUSTA chủ trì, trí thức nước ta đã có những tiếng nói tâm huyết, thẳng thắn và thiết thực trong quá trình xây dựng và thực hiện nhiều chương trình, dự án án kinh tế xã hội tầm cỡ.

Với vị thế thuận lợi là nơi tập hợp, thu hút đông đảo đội ngũ trí thức khoa học với một cơ chế và các hình thức hoạt động tương đối linh hoạt, thoải mái rõ ràng VUSTA xứng đáng là Diễn đàn của Diễn đàn trí thức.

Tuy nhiên, cho đến nay VUSTA vẫn chưa thực sự làm tốt chức năng tư vấn, phản biện, giám định như mong muốn của người dân vì hai lý do: Thứ nhất là các nhà trí thức, khoa học tập hợp dưới mái nhà VUSTA chưa tự tin và còn mặc cảm về thân phận mình nói chẳng ai nghe, nói nhiều cũng chẳng làm thay đổi được bao nhiêu! Thứ hai là có vẻ như hoạt động tư vấn, phản biện, giám định của VUSTA vẫn được định hướng, tổ chức và hoạt động theo kiểu cũ, tức là quá bài bản mà thiếu sự linh hoạt, thực sự được tự do tư tưởng. Do đó, cùng với việc tiếp coi VUSTA là cơ quan chủ trì, phối hợp tổ chức Diễn đàn của trí thức thì cũng phải tiếp tục tăng cường củng cố, kiện toàn cơ cấu, bộ máy và cải tiến các hình thức hoạt động của VUSTA sao cho “rộng rãi hơn, dân chủ hơn và thiết thực hơn”. Có như thế VUSTA mới thực sự là Diễn đàn của Diễn đàn trí thức và Diễn đàn trí thức mới thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trước những thách thức ngày càng lớn.

Việc sử dụng VUSTA như một cơ quan điều phối hay chủ trì phối hợp hoạt động của Diễn đàn trí thức là điều dễ hiểu trong hệ thống chính trị hiện nay. Tuy nhiên, một số hạn chế thấy rõ của VUSTA ở cơ chế quản lý, hình thức tổ chức và mức độ đầu tư. Cần làm thế nào để đảm bảo dân chủ, tự do thực sự, khơi dậy sự chủ động, mạnh dạn, hứng khởi sáng tạo và ý thức trách nhiệm của giới trí thức, khoa học tham gia Diễn đàn để tư vấn, phản biện và giám định các vấn đề trọng đại của đất nước.

image

VUSTA hiện nay,

VUSTA với mạng lưới tổ chức rộng rãi gồm Hội địa phương ở 63 tỉnh thành, hàng trăm Hội nghề nghiệp và các đơn vị 81 (các Viện, Trung tâm nghiên cứu, tư vấn khoa học thành lập theo Quyết định 81 của Thủ tướng Chính phủ), quản lý nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) trong nước kết nối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, rõ ràng VUSTA là cơ quan có lợi thế và tiềm lực duy nhất đảm đang trách nhiệm là cơ quan điều phối, chủ trì phối hợp hoạt động của Diễn đàn trí thức.

VUSTA có một tạp chí và hai tờ báo hàng ngày, là cơ quan ngôn luận có bề dày lịch sử và kinh nghiệm trong hoạt động truyền thông, đó là Tạp chí “Khoa học và Tổ quốc”, báo “Khoa học và đời sống”, báo “Đất Việt”. Đây là những bộ máy có thể đảm đương nhiệm vụ thông tin trực tiếp và kết nối với các hệ thống, phương tiện truyền thông khác của đất nước để truyền tải các thông tin của Diễn đàn trí thức.

Có ba việc cần phải làm:

- Xác định rõ ràng trong Điều lệ, Quy chế tổ chức của VUSTA chức năng, nhiệm vụ quan trọng nhất của tổ chức này là “tư vấn, phản biện và giám định xã hội”.

- Hoàn thiện, đổi mới cơ chế hoạt động của VUSTA, đảm bảo cho Diễn đàn trí thức thực sự “dân chủ, sáng tạo, hiệu quả”.

- Đầu tư đúng mức cho VUSTA về cơ sở vật chất, kỹ thuật, và đội ngũ chuyên nghiệp tổ chức hoạt động Diễn đàn, trong đó có đầu tư cho các cơ quan ngôn luận sẵn có của VUSTA để đỡ tốn kém do trùng lặp.

VI. Kết luận và Kiến nghị

· Kết luận:

Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng khóa 11 có đoạn viết: “Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Gắn bó mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Đảng và Nhà nước". Bởi vậy, việc thành lập Diễn đàn trí thức là cần thiết.

Việc giải thích hay phụ họa với Nghị quyết của Đảng là công việc thường xuyên của Ban Tuyên giáo Trung ương. Ngay cả Hội đồng Lý luận Trung ương mà minh họa Nghị quyết cũng đã không đúng rồi, huống chi là nhà khoa học và anh em trí thức. Trí thức là phản biện lại. Đúng thì hoan nghênh, chưa đúng thì phản biện với tinh thần trách nhiệm và xây dựng, do đó việc tổ chức Diễn đàn cho trí thức trên tinh thần dân chủ, tự do tư tưởng là việc làm hữu ích và cần thiết cho công cuộc chấn hưng đất nước.

Nhiệm vụ của Diễn đàn là “tư vấn, phản biện và giám sát các chủ trương chính sách, chương trình lớn của nhà nước". Nhưng phải làm để mọi người hiểu đúng mục đích đó, chứ không phải định hướng để kiểm soát, hạn chế khả năng độc lập suy nghĩ của trí thức.

Tư vấn tức là đưa ra lời khuyên, mách bảo, gợi ý. Phản biện tức là chỉ ra cái sai, cái chưa hoàn thiện. Giám định là theo dõi, đánh giá kết quả công việc. Còn Diễn đàn phải là nơi để người ta tự do tư tưởng trình bày, trao đổi, tranh luận công khai, bình đẳng, thẳng thắn về vấn đề được nêu ra. Bởi vậy, tại Diễn đàn ấy không ai bị truy chụp và cũng không ai được quyền truy chụp khi có những ý kiến trái chiều.

Lập Diễn đàn là tạo ra nơi để người ta nói, không phải nói theo ý người nghe muốn nghe, hoặc cho phép nói. Cố GS. Đặng Phong đã viết: “Ngoài Hồ Chí Minh, thì Phạm Văn Đồng cũng là một con người rất đáng kính về “văn hóa nghe”. Khi gặp những nhà chuyên môn, ông thường nói: “Người nói là anh, người nghe là tôi, nếu đảo ngược thì cần gì anh phải gặp tôi.”. Vậy khi thành lập Diễn đàn của trí thức, hãy suy nghĩ xem người nghe ngồi đâu? Người nói ngồi đâu (hay phải đứng nói)?.

Muốn có Diễn đàn có hiệu quả thực sự chứ không phải là nơi "gom" trí thức lại để quản lý, sai bảo thì phải đảm bảo dân chủ thực sự. Chỉ khi ấy mới phát huy tốt năng lực tư duy sáng tạo, trách nhiệm công dân của người trí thức, nhà khoa học. Để làm được việc ấy, trước hết phải đảm bảo cho những cơ quan, những người được giao nhiệm vụ xây dựng Đề cương, Quy chế hoạt động của Diễn đàn cũng phải có quyền dân chủ thực sự, có môi trường và không khí làm việc dân chủ thực sự.

Phản biện là một quá trình phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác nhau cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Lập luận phản biện một mặt phải rõ ràng, logic, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm, mặt khác lại luôn mang tính chủ quan của người phản biện. Ý kiến phản biện chưa chắc đã đúng, nhưng nó là ý kiến khác, độc lập của người phản biện. Nó đưa ra cái nhìn khác về cùng một vấn đề, tạo cho người có quyền quyết định nhiều khả năng tham khảo và cơ hội lựa chọn. Có thể phản biện trước và cả sau khi ra quyết định. Trước là để tránh sai lầm, sau là để phát hiện sai lầm.

Diễn đàn của trí thức có thể chất lượng phản biện chỉ đúng 60% nhưng chỉ 10% cái đúng ấy được lĩnh hội tiếp thu đưa vào cuộc sống cũng đã là thành công trong bối cảnh đất nước ta hiện nay. Nguồn trí tuệ của trí thức vẫn đang dâng lên, dòng nhân ái đang chảy mạnh, nhiều tấm gương biết làm, biết viết, biết nói, biết nghĩ để thúc giục nhân tâm, kiên nhẫn từng giờ, từng phút “vắt óc” nghĩ suy tạo ra năng lượng tích cực trong nhân gian. Đó cũng là nguồn lực sâu xa đang âm vang, cộng hưởng, sẽ tác động tới những nơi cần lắng nghe.

“Nồng nàn tâm huyết thưa thành quả

Gieo trăm gặt một thế cũng là

Được bao nhiêu cũng là được cả

Một thời khô héo một thời hoa” (Thơ Việt Phương)

· Kiến nghị:

Đề nghị Ban soạn thảo Đề án Diễn đàn trí thức tiếp tục nghiên cứu làm rõ mấy vấn đề quan trọng sau đây:

- Trí thức (con người) và tri thức (trí tuệ & khoa học) không bao giờ chịu sự chỉ đạo của ai cả, dù là lãnh tụ hay là Đảng, mà chỉ chấp nhận chân lý của khoa học là điều thôi thúc hay dẫn dắt mình.

- Nhiệm vụ của trí thức không phải chỉ có phản biện đúng/sai của một chủ trương chính sách hay quyết định. Quan trọng hơn thế, trí thức phải góp phần tìm lối ra, mở đường, nhất là nhiệm vụ dẫn dắt đất nước. Xin nhớ cho, dẫn dắt đất nước không bao giờ được coi là độc quyền của lãnh đạo. Thậm chí lãnh đạo cũng phải chịu sự dẫn dắt của trí tuệ & khoa học (nghĩa là của tri thức, thậm chí của giới trí thức).

- Cái gọi là lắng nghe phản biện, giao cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là người thu thập và tổ chức Diễn đàn xưa nay, thực chất là để quản và để nắm, để hạn chế sự lan tỏa của chân lý ra ngoài xã hội. Ngoại trừ hoạt động đáng kể của Hội đồng Tư vấn về Khoa học – Giáo dục, còn lại hầu hết các kết quả phản biện của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam liên quan đến diễn đàn và phản biện rất chung chung, hữu danh, vô thực.

Do đó, phải thay đổi tư duy và cách làm để VUSTA không đi theo “vết xe đổ” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực sự là Diễn đàn của trí thức, phản ánh chân lý trở thành sức mạnh của nhân dân.

T. V. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.