18/12/2012

Biển Đông: Nước ASEAN nào 'thần phục' hay 'thách thức' Bắc Kinh ?

Trọng Nghĩa

Trong báo cáo tại một cuộc hội thảo khoa học ở Singapore trong hai ngày 15-16/12/2012, giáo sư Carlyle Thayer (Học viện Quốc phòng Úc) đã bước đầu tìm hiểu về quan điểm từng nước Đông Nam Á, dám đối đầu với Trung Quốc ra sao trên vấn đề tranh chấp chủ quyền ngoài Biển Đông. Kết luận của ông là ở giữa hai cực Philippines và Cam Bốt, các nước còn lại thường kết hợp cả hai đối sách mà rõ ràng nhất là Việt Nam.

clip_image001

Các Ngoại trưởng ASEAN tại Hội nghị AMM-45 ở Phnom Penh ngày 09/07/2012, hội nghị đầu tiên không có thông cáo chung vì bất đồng trên vấn đề Biển Đông. REUTERS/Samrang Pring

Đối với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN, sự kiện nổi bật của năm 2012 có lẽ là tình trạng chia rẽ về thái độ cần có trước Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông bị bộc lộ công khai trước công luận thế giới. Câu hỏi thường được đặt ra là quan điểm của từng thành viên ASEAN ra sao ? Nước nào “kính cẩn” trước Trung Quốc và ai dám “đối nghịch” với Bắc Kinh ? Diễn biến trong thời gian gần đây cho thấy là Cam Bốt có thể được xếp vào trong nhóm thứ nhất, còn Philippines đứng đầu nhóm thứ hai…

2012: Năm ASEAN bộc lộ công khai sự chia rẽ

Trong năm 2012, ASEAN đã công khai cho thấy là nguyên tắc đồng thuận của mình bị phá vỡ theo một kịch bản hai hồi: Hồi thứ nhất tại Hội nghị Ngoại trưởng vào tháng Bảy, và hồi thứ hai tại Hội nghị Thượng đỉnh đầu tháng Mười một.

Tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN thứ 45 ở Phnom Penh, lần đầu tiên trong lịch sử gần nửa thế kỷ của mình, Hiệp hội Đông Nam Á đã không ra được Tuyên bố chung đúc kết hội nghị các Ngoại trưởng. Chủ tịch đương nhiệm của ASEAN là Cam Bốt đã không ngần ngại dùng đến biện pháp tột cùng kể trên để ngăn chặn việc tranh chấp Biển Đông giữa 4 thành viên ASEAN với Trung Quốc được ghi vào bản tuyên bố chung của khối.

Theo các nhà phân tích, Cam Bốt đã làm như vậy theo yêu cầu của Trung Quốc, nước đã trở thành nguồn tài trợ chủ chốt cho chính quyền Phnom Penh trong thời gian gần đây, và từ bao lâu nay vẫn dùng mọi biện pháp để cho các hành động quyết đoán của Bắc Kinh nhằm áp đặt chủ quyền trên Biển Đông không bị nêu lên trước các diễn đàn khu vực hay quốc tế.

Sự chia rẽ bị phơi bày tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN đã buộc Indonesia phải cố sức hàn gắn. Là thành viên có uy tín nhất trong Hiệp hội Đông Nam Á, ngay sau đổ vỡ tại Hội nghị Phnom Penh, Jakarta đã nỗ lực làm trung gian hòa giải, nhằm thống nhất lập trường của tất cả 10 thành viên trên hồ sơ gây bất đồng là Biển Đông.

Thế nhưng, cố gắng của Indonesia đã không thành công, và tại Hội nghị Thượng đỉnh vào tháng 11/2012, tình trạng chia rẽ của ASEAN lại bị nêu bật trở lại, khi kết luận của Chủ tịch đương nhiệm là Cam Bốt - về việc toàn khối ASEAN đã nhất trí không quốc tế hóa hồ sơ Biển Đông - đã bị nhiều thành viên công khai bác bỏ.

Đối với tất cả các nhà quan sát, ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc trong khu vực, kèm theo chiến lược mua chuộc một số thành viên ASEAN để bảo vệ cho quyền lợi của Bắc Kinh, hai yếu tố này không xa lạ gì với sự chia rẽ trong nội bộ ASEAN về lập trường cần có để đối phó với Trung Quốc trong hồ sơ Biển Đông.

Thoạt nhìn thì có vẻ như là mâu thuẫn chủ yếu xuất hiện giữa một bên là các nước bị Trung Quốc lấn lướt trên Biển Đông, như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, và bên kia là 6 nước còn lại, không liên quan gì đến tranh chấp ngoài biển khơi. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ thì vấn đề phức tạp hơn do mối lợi kinh tế, thương mại mà Bắc Kinh có thể mang lại cho vùng Đông Nam Á.

Trong bản báo cáo tại cuộc hội thảo về “Đông Nam Á và Trung Quốc trong thế kỷ 21” do Đại học Mỹ Stanford và Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nam Dương (Nanyang) tại Singapore đồng tổ chức trong hai ngày 15‐16/12/2012, Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales), đã bước đầu xem xét quan điểm của từng nước ASEAN đối với cuộc tranh chấp ngoài Biển Đông với Trung Quốc.

Báo cáo mang tựa đề “Thần phục hay Thách thức: Đông Nam Á, Trung Quốc và Biển Nam Trung Hoa (Deference / Defiance: Southeast Asia, China, and the South China Sea)”, nêu rõ ý định của tác giả là phân tích sơ bộ về «cách thức phản ứng của các quốc gia Đông Nam Á đối với sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông». Theo giáo sư Thayer: «Phản ứng của Đông Nam Á đi từ thái độ thách thức đến thần phục và nhiều khi kết hợp cả hai phương pháp tiếp cận này».

Trong phần dẫn nhập, báo cáo của Giáo sư Thayer ghi nhận là ASEAN chỉ thực sự bắt đầu đàm phán ngoại giao với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông từ khi xảy ra sự cố Trung Quốc chiếm đóng bãi Vành Khăn (Mischief Reef) từ tay Philippines vào năm 1995. Kết quả của các vòng thương thảo này là bản Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký kết năm 2002. Các cuộc đàm phán vẫn tiếp tục cho đến giữa năm 2011 khi ASEAN và Trung Quốc nhất trí được về bản Hướng dẫn Thực hiện DOC.

Có điều là kể từ năm 2007, và tiếp tục cho đến nay, Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn trong việc thúc đẩy đòi hỏi chủ quyền của mình ngoài Biển Đông, đặc biệt nhắm vào Việt Nam. Giáo sư Thayer ghi nhận:

«Hành động quyết đoán của Trung Quốc bao gồm việc gây áp lực ngoại giao trên các công ty dầu mỏ ngoại quốc để họ không giúp đỡ Việt Nam trong việc phát triển tài nguyên dầu khí tại các vùng có tranh chấp, và gia tăng hành động hiếu chiến chống lại tàu thuyền Việt Nam trong vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa.

Năm 2009 đánh dấu một bước ngoặt… Trung Quốc chính thức đưa ra lần đầu tiên tấm bản đồ chín đường gián đoạn, đòi hỏi chủ quyền trên 80% Biển Đông. Các cơ quan dân sự của Trung Quốc sau đó đã nỗ lực hoạt động để khẳng định thẩm quyền (của Bắc Kinh) đối với những vùng biển này.

Điều đó đã dẫn đến nhiều sự cố giữa Trung Quốc với Philippines và Việt Nam, trong đó có hành động đuổi một chiếc tàu thăm dò dầu khí ra khỏi vùng biển mà Philippines tuyên bố chủ quyền, và cắt các dây cáp trên tàu khảo sát địa chấn trong khu đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam».

Trong 10 nước Đông Nam Á, chuyên gia nghiên cứu Úc ghi nhận: Hai đối thủ chính dám thách thức Trung Quốc là Philippines và Việt Nam, hai nước có dấu hiệu thần phục Bắc Kinh là Thái Lan và Cam Bốt, trong lúc các quốc gia còn lại thì đứng giữa hai cực này, trong đó quan điểm của Singapore, Indonesia và Malaysia đáng chú ý hơn cả.

Cam Bốt - Thái Lan và ý hướng chiều lòng Trung Quốc

Thái độ thần phục Trung Quốc của Cam Bốt đã được rất nhiều nhà quan sát nêu bật. Báo cáo của giáo sư Thayer cũng nhắc lại các sự cố liên quan đến việc Cam Bốt lạm dụng quyền chủ tịch ASEAN để bác bỏ tất cả các yếu tố đi ngược lại quan điểm của Trung Quốc trên Biển Đông. Phần phân tích về Cam Bốt kết thúc như sau:

«Các nhà phân tích chưa thống nhất được với nhau về chi tiết và mức độ ảnh hưởng của Trung Quốc trong quyết định của Cam Bốt ngăn chặn thông cáo chung của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN AMM-45. Ông Kishore Mahbubani, một cựu cán bộ ngoại giao cao cấp của Singapore, đã viết: «Cả thế giới, trong đó có đa số các nước ASEAN, đều cho rằng lập trường của Cam Bốt xuất phát từ áp lực ghê gớm của Trung Quốc».

Theo phân tích gia Amitav Acharya (trên tờ báo mạng Asia Times): (Tại Phnom Penh) chỉ có một số rất ít là không nghĩ rằng sở dĩ Thủ tướng Cam Bốt Hun Sen từ chối đáp ứng yêu cầu của Philippines và Việt Nam, đó là vì một phần do áp lực của Trung Quốc. Theo một nguồn tin cao cấp, Trung Quốc đã đặc biệt nhắc nhở Cam Bốt rằng cựu hoàng (Norodom) Sihanouk... đã công nhận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.

Một học giả Trung Quốc thân cận với Bộ Công an nhà nước tiết lộ: «Chúng ta đã phối hợp rất tốt với Cam Bốt trong trường hợp đó [ngăn chặn các lời lẽ phản đối trong thông cáo chung của hội nghi AMM-45) và ... ngăn chặn một sự cố vốn đã có thể gây bất lợi cho Trung Quốc».

Một nước ASEAN khác cũng thuộc diện «kính cẩn» đối với Trung Quốc là Thái Lan. Theo ông Thayer Thái Lan không phải là một bên tranh chấp ở Biển Đông. Lập trường của nước này thường là thích ứng (với đòi hỏi) và chiều ý Trung Quốc.

Thí dụ rõ nhất được giáo sư Thayer nêu bật là vụ Thái Lan bị nghi ngờ là đã kiểm duyệt nội dung về Biển Đông tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN lần thứ hai tại New York vào tháng Chín năm 2010.

Khi ấy, Hoa Kỳ đã chuẩn bị một dự thảo thông cáo theo đó các vị lãnh đạo «phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực bởi bất kỳ bên tranh chấp nào để áp đặt đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông». Ba ngày trước Hội nghị, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố cho rằng các nước ASEAN không nên có lập trường chống lại các lợi ích của Trung Quốc. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc vào lúc ấy còn phản đối việc các nước không có liên quan đến Biển Đông lại can dự vào vấn đề này.

Kết quả là bản thông cáo chung Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ ASEAN lần 2 không nêu vấn đề sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực, thậm chí còn không đề cập đích danh đến Biển Đông.

Theo giáo sư Thayer, có tin cho rằng chính Thái Lan đã đóng một vai trò quan trọng trong việc «pha loãng từ ngữ» trong bản thông cáo chung để khỏi xúc phạm đến Trung Quốc.

Philippines ở tuyến đầu mặt trận chống Trung Quốc

Bài khảo cứu của giáo sư Thayer trước hết đi sâu vào phân tích hai trường hợp điển hình của hai nước dám thách thức Trung Quốc là Philippines và Việt Nam.

Philippines là nước có thể nói là đứng đầu bảng tạm gọi là xếp hạng các nước dám đương đầu với Trung Quốc. Nhận xét chung của Giáo sư Thayer như sau:

«Philippines đã trục xuất Hoa Kỳ ra khỏi các căn cứ quân sự (trên lãnh thổ của mình) vào đầu những năm 1990. Lực lượng vũ trang Philippines chủ yếu tham gia các nhiệm vụ trong nước. Hải quân và Không quân Philippines bị xuống cấp một cách thê thảm, không đóng góp được gì nhiều cho việc phòng thủ chống ngoại xâm.

Thoạt nhìn thì rõ ràng là Philippines không thể nào là một ứng viên dám thách thức các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông.

Thế nhưng, với việc Tổng thống Benigno Aquino III nhậm chức ngày 30/06/2010 (...), và việc Trung Quốc tăng hoạt động hải quân trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines (...), trong số tất cả các nước Đông Nam Á có tranh chấp ở Biển Đông, Philippines đã trở thành nước lên tiếng manh mẽ nhất chống lại các hành động quyết đoán của Trung Quốc, thông qua các phản đối bằng con đường ngoại giao, các cuộc thảo luận song phương, các tuyên bố khẳng định chủ quyền, việc khôi phục liên minh với Hoa Kỳ, hiện đại hóa lực lượng võ trang, và khu vực hóa cũng như quốc tế hoá tranh chấp».

Việt Nam: Trung Quốc vừa là ‘đối tác’ vừa là ‘đối tượng’

Về Việt Nam, sau một thời gian quan hệ băng giá với Trung Quốc, vào đầu thập niên 1990, Hà Nội bắt đầu chuyển hướng để thắt chặt bang giao với Bắc Kinh. Thế nhưng ngay từ năm 1992, Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh trên các vùng mà Việt Nam tuyên bố là của mình ngoài Biển Đông. Giáo sư Thayer nhắc lại:

«Năm 1992, sau khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao sau hơn một thập kỷ lạnh nhạt do vấn đề Cam Bốt, Biển Đông đã nổi cộm trở lại thành cái gai trong quan hệ hai bên.

Trong tháng Hai, Trung Quốc ban hành một bộ luật về lãnh hải, nhắc lại chủ quyền của họ trên Biển Đông. Cùng lúc, Bắc Kinh cho chiếm đóng bãi san hô ngầm Three Headed Rock (Đá Ba Đầu - thuộc cụm Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa). Qua tháng Năm, Trung Quốc cấp cho công ty Mỹ Crestone Energy quyền thăm dò của tại bãi Tư Chính (Vanguard Bank), và đến tháng Bảy năm 1992, Trung Quốc đã trồng một cột mốc đánh dấu lãnh thổ trên rạn san hô Đá Lạc (Gaven Reef South). Các nơi này đều đã được Việt Nam tuyên bố chủ quyền».

Cho dù vậy, theo giáo sư Thayer, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chủ trương củng cố quan hệ với Trung Quốc trên cơ sở vừa «hợp tác», vừa «đấu tranh» và chung sống hòa bình, như đã đề ra từ Hội nghị Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 6/1992, một chính sách được làm rõ thêm tại Hội nghị trung ương lần thứ 8 tháng 7/2003 với khái niệm «đối tác» và «đối tượng» áp dụng trong quan hệ đối ngoại.

Chính trong thời điểm đó mà vào tháng 3/1999, tại một hội nghị cấp cao của hai đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam, phương châm «16 chữ vàng» trong quan hệ song phương đã được đề ra, và cụ thể hóa thành chính sách nhân Hội nghị Thượng đỉnh giữa hai nước vào năm 2000. Theo giáo sư Thayer, đó là nền tảng chi phối bang giao Việt Trung cho đến tận ngày nay, mà đỉnh cao mới nhất là việc nâng cấp quan hệ song phương lên hàng «đối tác hợp tác chiến lược» vào năm 2009.

Tuy vậy, Việt Nam không phải là nước đã hoàn toàn «thần phục» Trung Quốc do tranh chấp giữa hai bên trên vấn đề Biển Đông. Giáo sư Thayer phân tích:

«Việt Nam sử dụng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc để thể hiện sự ‘kính cẩn’ thông qua một mạng lưới liên hệ dày đặc của các cơ chế Đảng, Nhà nước, Quốc phòng và các cơ chế đa phương nhằm lôi kéo Trung Quốc vào trong một mạng lưới hợp tác song phương, với hy vọng dự phóng được các hành vi của Trung Quốc.

Tuy nhiên, do việc Biển Đông đã được chứng minh là một vấn đề khó giải quyết, Việt Nam đã tìm cách ‘khoanh vùng’ tranh chấp này, tránh không cho hồ sơ đó phương hại đến các khía cạnh khác của quan hệ song phương rộng lớn hơn.

Tóm lại, Việt Nam phát huy hợp tác với Trung Quốc trong khi vẫn thách thức/ đấu tranh chống Trung Quốc về các đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông».

Báo cáo của giáo sư Thayer đã phân tích chi tiết, với nhiều dẫn chứng cụ thể, về cách Việt Nam áp dụng chiến lược nêu trên trong đối sách với Trung Quốc thông qua các quan hệ giữa hai đảng, hai Nhà nước, hai quân đội.

Đối với giáo sư Thayer một mục tiêu cụ thể của Hà Nội trong việc duy trì quan hệ hữu hảo với Bắc Kinh là «tìm kiếm được sự bảo đảm từ Trung Quốc rằng họ sẽ không dùng hoặc đe dọa dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông».

Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn tiếp tục đối phó với các hành động lấn lướt của Trung Quốc nhằm áp đặt đòi hỏi của Bắc Kinh trên các vùng thuộc Biển Đông mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Theo giáo sư Thayer, đó là «những phản ứng có cân nhắc, thể hiện thái độ thách thức/đấu tranh» chống lại các động thái quyết đoán của Trung Quốc.

Việt Nam với 5 phương thức đối đầu với yêu sách của Bắc Kinh

Phản ứng này có thể được phân ra thành 5 năm loại hình: Phản đối thông thường bằng con đường ngoại giao ; quốc tế hoá tranh chấp thông qua các diễn đàn đa phương; tái khẳng định công khai về chủ quyền; tự hiện đại hóa nền quốc phòng, và tăng cường quan hệ một cách có cân nhắc với Hoa Kỳ.

Về vấn đề quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông, giáo sư Thayer đã đặc biệt ghi nhận thành công của Việt Nam thời giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2010, đã liên tục nêu được hồ sơ Biển Đông tại hai diễn đàn quốc tế quan trọng là Diễn đàn An ninh Khu vực ARF và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng ADMM+, tập hợp 10 thành viên Đông Nam Á và 8 đối tác đối thoại của họ: Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Liên bang Nga và Hoa Kỳ.

«Trước cuộc họp ADMM +, Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN đã nhất trí rằng các vấn đề liên quan đến Biển Đông sẽ không nằm trong chương trình nghị sự chính thức, và sẽ không được nêu lên trong bản tuyên bố đúc kết hội nghị. Tuy nhiên, không có giới hạn hoặc điều kiện tiên quyết nào được đặt ra đối với 8 Bộ trưởng các nước ngoài ASEAN.

Trong cuộc họp, 7 nước bao gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Malaysia, Singapore và Việt Nam đã bày tỏ thái độ quan ngại về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Đúng theo dự trù, tuyên bố chung cuộc đã bỏ qua mọi tham chiếu liên quan đến Biển Đông, nhưng Việt Nam đã sử dụng quyền Chủ tịch để ban hành một tuyên bố chính thức nêu rõ :

Hội nghị ghi nhận rằng các thành viên quan tâm đến hợp tác an ninh hàng hải và đồng ý rằng cần có các nỗ lực tập thể để giải quyết những thách thức của nạn hải tặc, buôn người, và thiên tai trên biển. Một số đại biểu đã đề cập đến các thách thức an ninh truyền thống như tranh chấp ở Biển Đông. Hội nghị hoan nghênh những nỗ lực của các bên liên quan để giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình phù hợp với tinh thần của Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 và công nhận các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, bao gồm cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS 1982)».

Về chủ trương tái khẳng định công khai chủ quyền trên Biển Đông, các sự kiện được giáo sư Thayer xem là nổi bật trong năm 2012 là các diễn biến chung quanh việc Việt Nam thông qua bộ Luật Biển ngày 21/06/2012, một tuần lễ sau khi cho hai chiến đấu cơ Su-27 tuần tra hai tiếng đồng hồ trên quần đảo Trường Sa hôm 15/06/2012. Nguồn tin quân sự Việt Nam còn xác định rằng các cuộc tuần tra sẽ tiếp tục được tiến hành một cách thường xuyên.

Đối với giáo sư Thayer, đây là một phản ứng thách thức có tính toán chống lại các hành động quyết đoán của Trung Quốc.

Về bộ Luật Biển, theo giáo sư Thayer, lẽ ra bộ luật này đã được thông qua từ năm 2011, nhưng đã bị tạm hoãn để khỏi tác hại đến chuyến công du Trung Quốc của Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 10/2011, và chuyến ghé thăm Hà Nội vào tháng 12/2011 của ông Tập Cận Bình.

Theo các nguồn tin Việt Nam, Bắc Kinh đã biết trước việc Hà Nội chuẩn bị thông qua Luật Biển Việt Nam, và đã tìm cách cản ngăn, nhưng hoài công. Và phản ứng của Trung Quốc rất tức thời với việc Tập đoàn Dầu khí Hải dương Trung Quốc CNOOC ngang nhiên mời quốc tế đấu thầu 9 lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Về vấn đề hiện đại hóa quân đội, công việc này đã được Việt Nam thúc đẩy từ nhiều năm trước đây, và đặc biệt tăng tốc từ năm 2009, khi Trung Quốc công khai tỏ rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông với việc chính thức hóa tấm bản đồ hình lưỡi bò.

Theo nhận xét của giáo sư Thayer, nếu Nga tiếp tục là nguồn cung cấp vũ khí chính, Việt Nam cũng đã quay sang Israel, Hà Lan và Ấn Độ để đặt mua các phương tiện phòng thủ. Bên cạnh đó, các lãnh đạo Việt Nam cũng thúc đẩy Hoa Kỳ bãi bỏ các hạn chế áp đặt trên việc bán vũ khí cho Việt Nam, mà yêu cầu đã được chính bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh nhắc lại với đồng nhiệm Mỹ Leon Panetta nhân cuộc hội đàm tại Hà Nội vào tháng 6 năm 2012.

Trong phần kết luận, giáo sư Thayer cho rằng tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông có lẽ là thách thức lớn nhất đối với sự đoàn kết trong ASEAN vào lúc khối nước này muốn chuyển mình thành một cộng đồng gắn kết với nhau hơn. Tranh chấp Biển Đông không đối kháng các nước Đông Nam Á có đòi hỏi chủ quyền với Trung Quốc, mà còn đối lập cả ASEAN – trong tư cách một tập thể - với Bắc Kinh.

T.N.

Nguồn: Viet.rfi.fr