02/07/2015

Suy tư

Trần Quang Cơ

Lời giới thiệu của Nguyễn Vĩnh (Nguyên Vụ trưởng, Tổng biên tập báo Quốc Tế, Bộ Ngoại giao)
TRÂN QUÝ MỘT NHÂN CÁCH
(Ghi nhớ về một “bài viết cuối cùng” của Nguyên Thứ trưởng thứ nhất
Bộ Ngoại Giao Trần Quang Cơ, khi đó ông 83 tuổi)
Lứa chúng tôi gọi bác Trần Quang Cơ[1] một cách thân tình là anh Cơ. Cả hồi còn làm việc cũng như lâu nay anh nghỉ hưu; và ngay cả mấy năm gần đây ông già tuổi hạc quá nửa “bát thập” rồi thì chúng tôi vẫn cứ một cách xưng hô tình cảm như thế với anh.
Trong bộ ngoại giao, anh Cơ nhiều năm liên tục giữ trọng trách, từ vụ trưởng, đại sứ, thứ trưởng, thứ trưởng thứ nhất (sau này gọi là thứ trưởng thường trực). Về đảng, anh là ủy viên trung ương từ 1986 đến 1994; và có thời điểm được Bộ chính trị dự kiến trao anh trách nhiệm làm bộ trưởng ngoại giao thay ông Nguyễn Cơ Thạch nghỉ hưu “bất thường”. Nhưng khi đó anh Cơ một mực xin được “không đảm đương” chức vụ cao hơn này.

Anh Cơ còn có ý thức “nhường ghế” cho lứa anh em ít tuổi trong Bộ để mình lui dần về tuyến sau, yểm trợ lớp kế nhiệm, cho đến khi anh rút hẳn nơi hậu trường, rồi về nghỉ hưu hoàn toàn. Nói thế bởi đến đầu năm 1994, tại Hội nghị Đảng khóa VII giữa kỳ, anh Cơ đã tự nguyện xin rút khỏi BCH trung ương, được chấp nhận; và ngành ngoại giao khi ấy đã được bầu bổ sung một ủy viên trung ương trẻ hơn là thứ trưởng Lê Mai.
Cử chỉ và cách hành xử đó rõ là hiếm gặp ở những cán bộ lãnh đạo cao cấp khác. Tấm gương Trần Quang Cơ được mọi người trong ngành chúng tôi hết sức quý trọng và nể phục.
Bạn bè và đồng nghiệp đến thăm nhà ngoại giao lão thành Trần Quang Cơ (ngày 20/4/2014). Tác giả Nguyễn Vĩnh đứng ngoài cùng bên phải. (Ảnh của tác giả)
Trong 40 năm công tác của tôi thì có thời kỳ từ 1993-1997 được làm việc trực tiếp dưới quyền anh Trần Quang Cơ. Đó là quãng thời gian tôi chuyên trách làm công việc chuẩn bị tổ chức cho Hội nghị thượng đỉnh Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội (tháng 11/1997), nhưng là lần đầu tiên tại Việt Nam.
Tôi nhớ lại hồi ấy, sau một vài người giới thiệu, tháng 4/1993 anh Trần Quang Cơ đã thay mặt lãnh đạo Bộ Ngoại giao điều động tôi tham gia cùng với một nhóm gọn nhẹ của Bộ triển khai các công việc chuẩn bị hội nghị. Từ một vị trí lãnh đạo báo Quốc Tế, cơ quan báo chí của Bộ Ngoại giao, tôi sang làm Vụ phó Vụ các Tổ chức quốc tế chuyên trách chuẩn bị cho hội nghị Pháp ngữ. Khi ấy Vụ này do chị Tôn Nữ Thị Ninh làm Vụ trưởng. Bỏ lại một công việc lý thú là báo chí không phải tôi thích thú gì nhưng trước việc đã được điều động, tôi nhanh chóng thích ứng với công việc mới.
Phải nói gần như trước đó anh Cơ biết rất ít về cá nhân và năng lực của tôi. Nhưng sau vài lần trực tiếp giao việc và kiểm tra, anh nói với một người mà sau này nói lại cho tôi, là anh ấy đã có một lựa chọn con người và công việc thích hợp khi quyết định thuyên chuyển và giao việc cho tôi.
Thời điểm 1993-1994 đó, nước ta chưa tổ chức một hội nghị cấp thượng đỉnh có nhiều nguyên thủ quốc gia (tổ chức Pháp ngữ có hơn 50 nước tham gia) tới dự bao giờ nên cái gì cũng bỡ ngỡ. Điều đó giải thích vì sao chúng ta phải chủ động để ra hẳn mấy năm chuẩn bị tập dượt và đào tạo nhân lực. Càng về sau càng thấy đó là một quyết định đúng đắn của Bộ Ngoại giao.
Bắt đầu công việc, hầu như đụng vào việc gì cũng ngỡ ngàng, đơn giản vì chưa gặp một việc tương tự thế bao giờ. Anh Cơ ở cương vị lãnh đạo vĩ mô nhưng do xuất thân từ người lính, nhiều năm là chuyên viên rồi cấp Vụ giải quyết trực tiếp công việc, nên ở anh không có sự quan liêu, chung chung. Anh là người đầu tiên ở cấp lãnh đạo Bộ nắm và điều khiển công việc chuẩn bị âm thầm này.
Hồi mới có bộ khung, chính anh đã sớm nghĩ sao đó phải lập ra một ủy ban cấp quốc gia để chuẩn bị mọi việc. Bởi một bộ ngoại giao tài giỏi mấy cũng không sao đảm đương được. Phải có đại diện cấp lãnh đạo Bộ của các ngành khác, sơ tính qua phải hơn chục ngành, như giáo dục đào tạo, văn hóa thông tin, tài chính, khoa học công nghệ, an ninh, rồi UBND Hà Nội – địa phương họp hội nghị; và dứt khoát cần có nơi như văn phòng chính phủ làm “hạt nhân”. Quả như vậy, sau này khi Ủy ban Quốc gia được thành lập, do Phó thủ tướng đứng đầu, có lãnh đạo bộ ngoại giao (lúc đó anh Cơ đã rút về hậu trường, Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin ở vào vị trí này) và lãnh đạo các bộ ngành khác tham gia… đã đặt trụ sở làm việc thường trực cho Ban thư ký của UBQG tại ngay Văn phòng Chính phủ. Cách nhìn nhận của anh Trần Quang Cơ như vậy là rất sát hợp và có tầm trông xa cho công việc.
Trên tôi có nói “âm thầm” thì càng đúng với anh Trần Quang Cơ. Bởi khi công việc triển khai tích cực sắp tới ngày gặt hái kết quả, rồi hội nghị diễn ra sau đó rất thành công, gây ấn tượng mạnh trong Cộng đồng Pháp ngữ về khả năng tổ chức của Việt Nam thì anh Trần Quang Cơ trước đó đã lui về tuyến sau, tiếp đó về nghỉ hưu… Nguyên do anh cho là mình lớn tuổi, không sử dụng biệt lệ để tại vị. Anh Cơ đã không gặt hái thành tích, hưởng vinh quang khi hội nghị thành tựu dù anh đã góp phần xứng đáng tổ chức và xây dựng đội ngũ chuẩn bị cho hội nghị cấp cao này từ những ngày đầu tiên, tức đặt những viên gạch đầu tiên.
Trước mặt ông Trần Quang Cơ là ông Lưu Văn Lợi, Nguyên Trưởng Ban Biên giới của Chính phủ; người đứng bên trái là ông Trần Tam Giáp, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ai Cập, hiện là Chủ nhiệm CLB cán bộ hưu trí Bộ Ngoại giao. (Ảnh của tác giả)
Nhìn rộng để gút lại thì trong cả hoạt động ngoại giao, làm chính sách cũng như xây dựng ngành, anh Trần Quang Cơ đều làm việc với sự tận tụy và nghiêm túc cao nhất. Anh trực tính và thường đòi hỏi cao nơi các cấp dưới. Phần mình anh rất gương mẫu và hết sức có trách nhiệm trong các quyết định đã quyết, là người giữ vững và bảo vệ nguyên tắc. Nhưng trong đời thường anh Cơ sống cởi mở thân tình, cư xử thân tình và nhân hậu với mọi người. Điều đó khiến nhiều cán bộ ngoại giao quý mến anh và đánh giá rất cao nhân cách và phẩm chất nơi anh. Anh về hưu lâu rồi nhưng nhiều anh chị em lứa sau vẫn nhớ anh, một lòng kính trọng yêu mến anh…
Hồi đó, trong những lần thông tin qua lại với nhau, hoặc email hoặc điện thoại (tôi có “điểm tin” cho anh Cơ một thời gian dài, bởi như anh nói khi không mệt muốn đọc thì chỉ có đọc trên màn hình máy tính, chọn cỡ chữ phóng to lên được, chứ in trên giấy thì mắt mờ không thấy), anh có chút tâm sự là thời gian này, sau những đêm mất ngủ do tuổi già và bệnh tật, anh có viết ra những điều đã ngẫm nghĩ kỹ, đã cân nhắc suy tư của bản thân mình. Anh bảo chuyển những điều đó cho tôi, đơn giản là quý tôi thì “coi như một điều tâm sự” với một người ở thế hệ đi sau. Anh Cơ còn bảo có điểm nào, câu chữ gì trong bài cần góp ý, cần sửa thì cứ sửa giúp cho anh…
Ngay hồi đó tôi đọc ngay và đọc đi đọc lại nhiều lần bài viết của anh. Thấy rõ ràng Trần Quang Cơ vẫn một bộ óc và trái tim nhiệt huyết, ngay cả tuổi tác rất cao và bệnh tật hành hạ, anh vẫn dành những suy nghĩ suy tư của mình cho không chỉ bản thân, gia đình mình mà anh còn dành nó cho các vấn đề thuộc nhân quần xã hội. Đặc biệt nhất là anh vẫn dành phần nhiều, với bao nỗi trăn trở và tâm huyết nhất cho các suy tư về đối ngoại – công việc suốt một đời anh Trần Quang Cơ đã phụng sự.
Bài viết của anh được ghi dưới là thời gian anh hoàn thành “tháng Chạp năm 2010”, tôi chợt nghĩ thế là những dòng chữ kia được viết ra “ở đầu một thế kỷ mới” với một người từng trải trên con đường ngoại giao vinh quang và gian khó. Dù sang đầu thế kỷ mới nhưng cái bài toán đối ngoại hóc búa nhất xem ra “không mới”, vẫn cũ, vẫn một thách thức khổng lồ với nước non!…
Bài chỉ gói gọn hơn 6 trang A4, chưa đến 4.000 từ, nhưng trong đó chất chứa những suy tư “tổng kết” cả một đời người của anh. Một ông già 83 tuổi, bệnh tật đau ốm luôn luôn vẫn giữ được tấm lòng thành với cuộc đời và nghề nghiệp ngoại giao.
Đọc xong bài tôi càng quý mến và kính trọng tác giả bài viết. Hồi đó tôi đã xin phép tác giả và trao đổi với tác giả một số đoạn cần lược bớt và biên tập đôi chỗ để tập trung vào các ý tưởng chính yếu mà bài viết muốn nêu lên. Hồi đó cũng rất muốn đưa bài viết lên trang blog cá nhân của mình như một sự chia sẻ với bạn bè, đồng nghiệp gần xa đã một thời thân thiết và quen biết anh Trần Quang Cơ, nhưng do còn lấn cấn vài ba điểm trong nội dung, rồi một vài chi tiết còn muốn được tìm hiểu thêm cho tường minh…, nên bài viết của anh Cơ tôi vẫn chưa đưa lên blog. Sau thời gian đó những gì cần thiết đã được chính tôi tìm hiểu, nghiên cứu rất cẩn thận và bổ sung cho bài viết nói trên của anh Trần Quang Cơ. Mấy năm gần đây rất mừng là anh Cơ vẫn “trụ” với bệnh tật được, mấy lần được chị Vượng vợ anh, mời đến nhà chơi tôi vẫn chuyện trò, chia sẻ về bài “Suy tư” với anh…, nên bẵng đi…

Người đứng bên phải ông Trần Quang Cơ là ông Nguyễn Trung, nguyên Trợ lý Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan (Ảnh của tác giả)
Hôm trước cùng anh Trần Tam Giáp[2], nhiều năm nay là Chủ nhiệm CLB hưu trí Bộ Ngoại Giao vào thăm anh ở phòng cấp cứu Bệnh viện Hữu nghị thì biết là mọi chuyện đã muộn. Chẳng còn cơ hội được nghe anh nói và nói gì với anh nữa…, càng tiếc nuối cuối tháng trước đã không đến vui với ngày sinh nhật của anh mà anh Giáp dự nói là anh tỉnh táo và khỏe hơn hẳn! Còn buổi thăm bây giờ anh trên giường bệnh, được nghe và nhìn chị Vượng nói về lần cấp cứu này (anh bị đột quỵ nhiều lần), thì càng thấy sự chăm sóc của chị và gia đình cùng thầy thuốc với anh là hết sức hết lòng rồi, nhưng chắc là khó qua khỏi…
Giờ đây nhà ngoại giao lão luyện Trần Quang Cơ đã vĩnh viễn đi xa, được sự gợi ý và động viên của nhiều bạn bè và đồng nghiệp, tôi thấy nên viết ít dòng này và công bố bài viết đầy tâm huyết và có giá trị ở giai đoạn cuối đời của Ủy viên trung ương Đảng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại Giao Trần Quang Cơ.
 Nguyễn Vĩnh
–––––
[1] Ông Trần Quang Cơ, sinh ngày 22/5/1927 tại xã Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, trú quán tại ngõ 23 đường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội, đã từ trần hồi 23g45 ngày 25/6/2015  tại Hà Nội, hưởng thọ 88 tuổi.
[2] Ông Trần Tam Giáp, nguyên Vụ trưởng Bộ Ngoại Giao, Nguyên Đại sứ nước ta tại Ai Cập.
 Những đêm ít ngủ, nằm nghĩ ngợi miên man, hết chuyện gần đến chuyện xa, từ vấn đề hẹp đến vấn đề rộng. Nghĩ về bản thân, về gia đình, rồi nghĩ về xã hội, đến hiện tình đối ngoại của nước mình. Tâm tư suy nghĩ đó là những suy tư cuối năm, và có lẽ cũng là những suy tư cuối đời của tôi. Viết cô đọng lại trong ít dòng dưới đây.
  1. Nghĩ về bản thân
Sang tháng sau, tôi đã bước vào tuổi 83 (tuổi ta gọi là 84). 83 năm thật là dài mà cũng thật là ngắn. Biết bao kỷ niệm tích tụ lại trong “83 x 365” ngày đó. Nhớ nhớ quên quên. Vui buồn lẫn lộn. Biết bao biến cố đã xảy ra trên thế giới, trong xã hội, trong gia đình cũng như với bản thân mình trong thời gian hơn tám thập kỷ đó…
Như có sự trùng hợp, vào những năm đầu đời và những năm cuối đời của tôi đều đã có những biến cố đau buồn xảy ra làm biến đổi cuộc đời tôi.
Hồi tôi mới 4, 5 tuổi, mẹ tôi rồi bố tôi kế tiếp nhau qua đời. Phút chốc tôi đã trở thành đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cuộc đời tôi tưởng như vô vọng, vì bố mẹ tôi khá đông con, 9 người cả trai lẫn gái, tôi lại là con út, mà gia đình tôi của ăn thì có, của để thì không. Nay bố mẹ chết đi, lấy gì để nuôi nhau. Trong hòan cảnh khó khăn đó, ba người anh lớn của tôi đã đứng ra gánh vác trọng trách đó. Anh cả tôi lúc đó mới 22 tuổi, anh thứ hai 18 tuổi, anh thứ ba 16 tuổi. Cứ như thế, tôi đã được các anh thay cha mẹ nuôi cho ăn học, khôn lớn lên thành người. Và Cách mạng tháng 8.1945 đã “đổi đời” cho tôi.
Còn biến cố cuối đời của tôi là vào giữa năm 1998, sau khi tôi vừa nghỉ hưu, một cơn đột quỵ do tai biến mạch máu não đã khiến tôi trở thành một kẻ tàn phế! Di chứng của tai biến mạch máu não 3, 4 năm gần đây càng phát triển theo hướng xấu đi nhanh chóng: từ chỗ tập tễnh đi lại bằng ba-toong, nay chân tay bên phải gần như bại liệt, rất khó cử động. Nhất là chân, từ đầu gối trở xuống, khiến cho việc đi lại, tự di chuyển khá vất vả. Đứng không vững, di chuyển vài bước là phải nhờ đến cái “gậy càng cua” làm bằng nhôm, hình vành móng ngựa có 4 chân của con mua cho. Bởi vì tôi tự đi không nổi, dễ bị ngã, mà ngã thì không tự mình đứng dậy ngay được.
Buồn nhất là tay phải không cầm nổi cây bút để viết. Khi ăn phải dùng thìa vì không cầm được đũa. Mắt mờ đi nhiều, thị lực chỉ còn 1/10, xem báo phải dùng kính “lúp”. Cố đọc một bài báo hay bằng kính lúp xong là mệt. Tóm lại, những việc rất đơn giản đối với một người già có sức khỏe bình thường thì với tôi lúc này lại rất khó khăn vất vả.
Tuy nhiên tôi cũng tự an ủi mình, dù sao bệnh này cũng chưa ảnh hưởng tới bộ phận não chỉ huy trí nhớ và tư duy vẫn còn hoạt động bình thường, tuy có bị ảnh hưởng đôi chút như nói năng, diễn đạt ý nghĩ của mình ra lời nói không còn mạch lạc, nhạy bén  như trước nữa.
Điều quan trọng nhất là cuối cùng tôi vẫn luốn giữ được tinh thần lạc quan. Nói đúng ra là biết an phận, biết chấp nhận tình trạng tàn phế của bản thân lúc này một cách “biết điều”. Có những lúc trượt chân suýt ngã hay quên lãng một cái gì, phải lê chân đi lại vất vả, cũng chỉ bật cười một mình hay lẩm bẩm tự mắng mình. Ưa nghe nhạc nhẹ, êm êm trước khi ngủ. Tất nhiên vẫn không sao tránh khỏi có những phút nghĩ ngợi buồn phiền. Nhưng với tình trạng sức khỏe như hiện nay mà không bi quan ủ rũ thì cũng là tốt rồi.
  1. Nghĩ về gia đình
Nói chung là ổn. Vì về mặt kinh tế và mặt tinh thần không có gì đáng than phiền.
May mắn nhất cho tôi là có vợ làm chỗ dựa khá vững chắc, về cả tinh thần lẫn vật chất, lúc này. Thật lòng mà nói, từ trước tới nay, mọi việc trong nhà, tôi gần như đều phó thác cho vợ. Từ việc nuôi dạy con cái đến việc quán xuyến gia đình, đối xử với họ hàng ngoại cũng như nội, đối với bà con hàng xóm láng giềng, nhất nhất đều do vợ tôi lo liệu tất tần tật và làm thật chu đáo, đối xử với mọi người rất có tình người.
Tôi có 3 con. Một gái, hai trai. Cả 3 đứa con đều đã khôn lớn và thành đạt cả rồi, không có khó khăn về kinh tế, sống lành mạnh cả. Tất cả những điều đó đều do công lao của vợ tôi cả. Công bằng mà nói, ngày nay, thời “gạo châu củi quế” này, chỉ trông vào đồng lương hưu của cả 2 vợ chồng thì làm sao sống nổi. Vậy mà gia đình tôi vẫn thuộc loại “phong lưu”. Ấy là nhờ vợ tôi đã biết tính trước lo sau cho cả gia đình.
  1. Suy tư về xã hội
Quả thực tôi đang suy nghĩ nhiều về vấn đề công bằng xã hội, điều mà từ khi biết nghĩ tôi luôn cho là nhất thiết phải có trong một xã hội tốt đẹp. Tôi không hề nghĩ đến chuyện “cào bằng” tất cả, mà chỉ nghĩ rằng cái tốt phải thắng cái xấu, người giỏi phải giữ vị trí quan trọng hơn người dốt, người trung thực phải thắng kẻ cơ hội lừa lọc. Hiện tại những điều đó hình như đang diễn ra ngược lại trong xã hội ta. Có phải suy nghĩ đó của tôi có quá lý tưởng hóa cuộc đời không?
Tôi cũng không quá bận tâm đến những chuyện như “lâm tặc”, “cát tặc”, “đinh tặc” … Tôi cho rằng thằng “tặc” ghê gớm nhất, cái ung nhọt lớn nhất và cũng là nhức nhối nhất trong xã hội ta hiện nay là “tặc” tham ô, nhũng nhiễu dân thường đã lan tràn từ trên xuống dưới khiến cho không thể có công bằng trong xã hội. Thật khác với tình hình xã hội ta ngày trước. Trước đây, nước ta tuy có khó khăn nhiều bề, nhưng trong sạch. Ngày nay, tham nhũng đẻ ra tham nhũng. Tham nhũng bây giờ được xem như một cách “đầu tư” rất thịnh hành, vì thu lợi nhuận cao và nhanh nhất. Những kẻ có quyền thế, hoặc là những tên cơ hội hay nhiều tiền của, chúng thường là những kẻ “thiếu tài nhưng nhiều mánh khóe, nhiều tiền”. Chúng bỏ tiền ra “mua quan”. Tiền bỏ ra càng nhiều tự khắc “mua” được  chức vụ càng cao, béo bở, rồi lập tức sử dụng cái quyền lực mới “mua” được ấy để thu lại số vốn đã “đầu tư” và thu lãi ngay bằng cách “bán chức”. Cứ như thế tạo ra tầng tầng lớp lớp “tham nhũng”. Lũ ròi bọ “tham nhũng” sinh đẻ ra nhanh như cỏ dại. Thử hỏi: vì sao giá nhà, đất đang “nóng” mà hiện nay lại “đóng băng”? Đó là vì lúc này là thời gian mà những ai có chức, có quyền đều phải tạm thời “im hơi, lặng tiếng” cho đến khi các “ghế” quan chức từ phường xã, quận huyện, tỉnh thành cho đến trung ương đã được chia chác xong thì tự khắc giá nhà đất sẽ lại “nóng” lên ngay.
Người ta cứ nói “chống tham nhũng”. Nhưng diệt sao được “tổ mối tham nhũng” khi những con “mối chúa” còn bình an vô sự, ăn no béo mầm! Loại “tham nhũng chúa” có vỏ bọc dầy lắm, có đủ dây rợ dọc ngang, khó gỡ cho ra đầu mối. Quá lắm thì chúng dùng đến nước cờ “thí tốt”, đổ hết tội lên đầu bọn “tham nhũng tép riu”, còn chúng thì vẫn thơm tho sạch sẽ!
Do đó, khoảng cách giữa giàu – nghèo, giữa thành thị và nông thôn càng ngày càng lớn, xã hội càng bị phân hóa một cách nguy hiểm, những tệ nạn xã hội lan tràn hơn lúc nào hết.
Lòng tin của người dân đang bị xói mòn đi, mà khi đã mất lòng tin của dân thì xã hội sẽ mất ổn định.
  1. Suy tư về tình hình đối ngoại của nước ta
Trước hết cần suy nghĩ xem nước ta hiện đang ở trong bối cảnh quốc tế ra sao, có những thuận lợi và khó khăn gì phải xử lý. Vấn đế này có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến Việt Nam, đến vận mệnh của đất nước, đến lợi ích chính đáng của dân tộc ta.
Tình hình thế giới lúc này đã chuyển biến khác thời kỳ mà tôi viết “Hồi ức và Suy nghĩ” vào cuối thế kỷ thứ 20. Sau khi Liên Xô tan vỡ, “trật tự thế giới 2 cực” không còn, Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất. Có một thời gian cục diện thế giới có hình thái “một siêu đa cường”. Do chính sách đối ngoại sai lầm của chính quyền Bush cha và Bush con, của đảng Cộng hòa, rồi đến cuộc suy thoái tòan cầu khiến cho vị thế của Mỹ  bị sa sút trông thấy. Về quân sự thì sa lầy ở Iraq, rồi Afghanistan, về kinh tế thì cuộc suy thoái toàn cầu làm cho chính quyền đảng Dân chủ mới lên của Barak Obama lao đao. Hơn thế nữa, Mỹ còn là đối tượng chính của các tổ chức Hồi giáo cực đoan.
Trong khi đó Trung Quốc nổi hẳn lên về kinh tế, đứng hàng thứ 2 thế giới, vượt Nhật và chỉ sau Mỹ. Nhờ đó, Trung Quốc đã tranh thủ tăng cường nhanh chóng về mặt quân sự, nhất là về hải quân. Tất nhiên tham vọng bành trướng Đại Hán cũng từ đó mà phát triển mạnh. Hiện nay Trung Quốc đã gần như ngang hàng với Mỹ trong vai trò quyết định nhiều vấn đề quan trọng của thế giới. Tôi cho rằng ý đồ của nhóm lãnh đạo ở Trung Nam Hải là muốn nhân cơ hội này, thừa thắng từng bước vươn lên thành siêu cường số 1 thế giới, vượt lên trên cả Mỹ, với ý đồ tạo lập ra một “trật tự thế giới mang màu sắc Trung Quốc”. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng Trung Quốc chỉ  có thể gây khó khăn cho Mỹ trong lĩnh vực kinh tế, chứ trên các lĩnh vực khác khó có thể vượt Mỹ, nhất là về khoa học kỹ thuật.
Chính sách đối ngoại của Trung Quốc hết sức lắt léo. Đối với các cường quốc như Mỹ, Nhật, Liên minh Châu Âu, Nga, Ấn Độ, họ vừa hợp tác vừa kiềm chế bằng mọi thủ đoạn. Như trong các vấn đề Triều Tiên, Iran, Iraq, Afghanistan, họ luôn có thái độ lững lờ nước đôi. Bề ngoài thì ra vẻ hợp tác để cố gắng giải quyết các vấn đề này, song bên trong lại gần như ngấm ngầm khuyến khích các đối tượng đó khiến cho các đối thủ của mình, nhất là Mỹ, luôn phải lo đối phó với đủ loại thách thức, không thể phát triển lên được. Như việc CHDCND Triều Tiên đang cố chế tạo ra vũ khí hạt nhân, uy hiếp trực tiếp các đồng minh của Mỹ (Nhật Bản, Hàn Quốc). Tuy Trung Quốc là thành viên của nhóm 6 nước lớn lo việc đàm phán với Triều Tiên để thuyết phục nước này từ bỏ ý định trở thành một cường quốc hạt nhân. Song ai cũng biết là Triều Tiên hiện chỉ còn một đồng minh gần gũi là Trung Quốc, và có lẽ về mặt nào đó phụ thuộc vào Trung Quốc. Vậy liệu hiện tượng Triều Tiên vẫn kiên trì lập trường của mình có phải có tác động của Trung Quốc hay không?
Với Nga cũng vậy, Trung Quốc và Nga hiện nay có vẻ ăn ý với nhau về việc ngăn Hội đồng Bảo an LHQ thông qua nghị quyết trừng phạt Iran về việc Iran tiếp tục chế tạo vũ khí hạt nhân, nhưng thực ra 2 nước này vẫn dè chừng nhau. Trong thế kỷ trước, cuộc tranh giành quyết liệt giữa Liên Xô và Trung Quốc về vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới, rồi đến các vụ xung đột biên giới Trung – Xô những năm 1960, cả hai đều không dễ quên đâu.
Trrước mắt trọng điểm bành trướng của Trung Quốc là Việt Nam. Hướng bành trướng của Trung Quốc là xuống phía Nam, mà Việt Nam lại là chướng ngại vật lớn cản trở tham vọng bành trướng đó nên Trung Quốc đang có kế hoạch thôn tính Việt Nam bằng mọi thủ đoạn. Họ tiến hành cái tôi tạm gọi là “thôn tính mềm”, không gây ầm ĩ như cuộc chiến tranh chớp nhóang tháng 2/1979, mà dùng những thủ đọan hiểm độc hơn nhiều: đó là vừa dùng sức mạnh quân sự để uy hiếp trắng trợn, vừa dùng tiền tài mua chuộc; vừa phá từ trong phá ra, vừa bao vây từ ngoài lấn vào. Bao vây tứ phía. Trước hết là phía Đông.
Tham vọng của Trung Quốc là làm chủ cả Biển Đông. Muốn thế trước hết phải uy hiếp và khống chế Việt Nam là nước có bờ biển thông ra Biển Đông dài nhất. Từ ngòai xa, họ xâm chiếm các quần đảo Hòang Sa, Trường Sa của ta. Đến gần, trong vịnh Bắc Bộ, họ ngang nhiên vạch ra vùng “lưỡi bò”, nói đó là thuộc lãnh hải Trung Quốc, nhất là từ phía Đông. Biển Đông là miếng mồi ngon mà trước mắt Trung Quốc đang muốn “ăn sống nuốt tươi” vì nhược điểm lớn của họ là rất thiếu nguồn nhiên liệu để phát triển. Mà thềm lục địa của Việt Nam trông ra Biển Đông lại rất dài và rất nhiều nguồn dầu khí có trữ lượng rất lớn chưa được khai thác.
Còn trên bộ, phía Tây nước ta đã bị người anh em “4 tốt” dễ dàng cắm chốt vào vùng Tây Nguyên của ta bằng cách đầu tư và đưa người sang khai thác quặng bô-xít và chế biến nhôm. Như thế, họ vừa chiếm lĩnh được một địa bàn chiến lược, từ đó khống chế được cả 3 nước Đông Dương, vừa thực hiện chính sách thu gom tài nguyên thiên nhiên trên thế giới, như họ đang làm ở châu Phi, để tích trữ, coi đó sẽ là một thứ vũ khí lợi hại để uy hiếp về mặt kinh tế các đối thủ sau này. Nên biết rằng Trung Quốc không thiếu những mỏ quặng bô-xít để chế ra nhôm, nhưng họ để dự trữ và bảo vệ môi trường nước họ nên họ để dành chưa đụng đến.
Phía Nam, Trung Quốc đang đe dọa nguồn sống của dân ta ở tòan bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long bằng cách xây đập làm nhà máy thủy điện lớn, ngăn nguồn nước ngọt ngay từ thượng lưu sông này.
Còn phía Bắc, họ gặm đất đai nước ta từng mảng như Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, … Thật xót xa khi ta không còn có thể nói là “Đất nước Việt Nam trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” nữa, mà có lẽ phải nói là “từ các cột mốc phân biên giới Việt Nam với Trung Quốc đến mũi Cà Mau”! Đau hơn nữa, mới đây, ngày 17/2/2009, họ đã trâng tráo tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm của cuộc vũ trang xâm nhập vào vùng biên giới nước ta hồi tháng 2 năm 1979 mà họ mệnh danh là “cuộc đánh trả tự vệ Việt Nam”. Họ còn làm lễ tưởng niệm những tên giặc đã chết khi xâm lấn đất ta. Trong khi đó hàng vạn liệt sĩ của ta hy sinh trong khi anh dũng chống quân xâm lược “đại Hán thế kỷ 21” thì âm thầm nằm đó, không một cơ quan truyền thông nào của ta nhắc tới, hoăc có nghĩ tới mà không dám nói ra, vì sợ “ảnh hưởng đến đại cục”?!?
Không chỉ dừng lại ở đó, Trung Quốc còn đang dùng nhiều thủ đoạn để xâm nhập sâu vào Lào và Campuchia, nhằm bao vây cô lập Việt Nam. Ngay đầu năm 2011, có tin Trung Quốc vừa tung tiền ra để thuê của Lào một khu đất nông nghiệp trong 75 năm để xây dựng ở đó một thành phố cho người Trung Quốc di cư sang sống dài hạn ở đó.
Còn ở Campuchia, Trung Quốc bây giờ dùng bọn Sam Rainsy thay Khơ me đỏ để gây hận thù giữa nhân dân Campuchia và Việt Nam. Bọn này phá cột mốc phân đường biên giới VN-CPC và phá quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Đồng thời Trung Quốc cũng vẫn len lỏi gây ảnh hưởng trong bộ máy chính quyền của Thủ tướng Hun Sen .
Còn bên trong nước ta, họ dùng chiến thuật hiểm độc, chiến thuật “con mối”, cứ lặng lẽ mà đục ruỗng nước ta bằng nhiều thủ đoạn, như mua chuộc và tha hóa cán bộ ta, … rồi cuối cùng thì nuốt chửng, mà ta lúc này (như trên đã nói) với tệ tham nhũng hòanh hành khắp nơi – không loại trừ có bàn tay của Trung Quốc – đã như một khúc gỗ mục. Êm ái như vậy nên dù gần đây ta đã đẩy mạnh chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, ta không còn cô lập như trước, ta có nhiều bạn hơn. Việc ta tăng cường lực lượng hải quân, không quân để lo bảo vệ vùng biển và hải đảo của ta, cũng như tăng cường quan hệ với thế giới bên ngoài, nhất là với các cường quốc như Nga, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản. Đó là những bước đi tuy hơi chậm nhưng còn phù hợp với tình hình. Việc ta tăng cường sức mạnh quân sự, chủ yếu về hải quân, không quân, tuy so với Trung Quốc chẳng bõ bèn gì, nhưng cũng biểu lộ được quyết tâm chống trả của ta nếu đối phương gây hấn. Còn việc ta tăng cường quan hệ ngoại giao với quốc tế làm cho thế giới quan tâm đến Việt Nam hơn, song trong trường hợp mà kẻ thù nham hiểm chỉ dùng thủ đọan “xâm lược ngấm ngầm”, không lộ rõ không biểu hiện là Việt Nam bị “ngọai xâm” thì các nước có cảm tình với ta sẽ không có lý do gì để can thiệp cả.
Còn ở Biển Đông, Trung Quốc hết sức chống việc quốc tế hóa vấn đề để ngăn không cho Mỹ nhảy vào. Họ cũng không muốn phải đối phó với 10 nước Asean. Trung Quốc khăng khăng phải đàm phán giải quyết những tranh chấp trên Biển Đông bằng đàm phán song phương vì tách từng từng chiếc đũa một thì dễ bẻ gẫy hơn. Vì vậy ta thấy rõ yêu cầu chiến lược của Mỹ ở Biển Đông và đáp ứng hợp tác với Mỹ về mặt quốc phòng, cũng như gắn bó chặt chẽ với các nước thành viên khác trong Asean là một bước đi cần thiết, đúng hướng.
Tuy nhiên tôi cho rằng rút cục chỉ có chính nhân dân ta mới thực sự cứu được nước ta thôi. Nhưng trên dưới phải một lòng, như thời Hội nghị Diên Hồng ngày xưa. Đảng phải dựa vào Dân, Dân vững lòng tin cậy vào Đảng thì dân tộc ta mới thực sự có sức mạnh để bảo vệ đất nước. Tiếc thay hiện nay điều đó còn là sự mong đợi của chúng ta.
Trong thời chiến, quân sự là mặt trận chính để bảo vệ Tổ quốc. Còn trong thời bình như hiện nay thì thực sự ngoại giao phải là mặt trận hàng đầu có nhiệm vụ bảo vệ đất nước, bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân tộc. Vì chỉ trong bối cảnh hòa bình, ngoại giao mới sẵn đất dụng võ. Mục tiêu chính của ta thời gian này là Hòa bình để Phát triển. Nhờ triển khai mạnh chính sách ngoại giao đa phương hóa – đa dạng hóa việc kết bạn bè nên vị thế nước ta ở châu Á và cả trên thế giớí lúc này đã tăng lên rõ rệt, bạn bè quốc tế của ta đông hơn lúc nào hết. Đó là điểm sáng trong lúc này vì đó chính là điều khiến cho kẻ thù phài kiêng nể, khi nghĩ tới chuyện tiếp tục “lấy thịt đè người”, cậy mình là nước lớn uy hiếp ta. Ta sẵn sảng hợp tác hữu nghị với các nước, song có hợp tác cũng phải có đấu tranh. Với Mỹ cũng vậy, ta mong muốn tăng cường hợp tác về nhiều mặt nhưng vẫn cần đấu tranh về vấn đề nào trái với lợi ích của ta, như vấn đề  chất độc da cam. Với Trung Quốc cũng vậy, ta không thể nên  chỉ quá nặng về hợp tác và nhân nhượng để thiên hạ đánh giá là ươn hèn, mà nhẹ mặt đấu tranh.
Tháng Chạp năm Canh Dần 2010
T.Q.C.