16/10/2015

Một cuốn sách về một cuốn sách

Trần Nghi Hoàng

14.10.2015

Mười lăm năm trước, Chuyện kể năm hai ngàn (CKNHN) như tiếng kêu bi thống của chú voi hiền lành bị lũ thợ săn vô nhân tính truy bức, với thân thể đầy thương tích. Tiếng kêu bi thống của chú voi hiền lành ấy vươn lên giữa đọa đày, và vang vọng hầu như đến khắp cùng thế giới. Đầu năm 2015, Hậu Chuyện kể năm hai ngàn (HCKNHN) hay Thời biến đổi Gene của Bùi Ngọc Tấn (BNT) được xuất bản tại Mỹ. Vẫn chú voi hiền lành ấy, nhưng bây giờ là tiếng thét đầy căm phẫn. Chú voi thoát chết sau những lần bị truy bức đã gìn giữ cho mình một cặp ngà dài quý giá mặc dù vẫn tiếp tục bị lũ thợ săn vô nhân tính bủa vây, chà đạp, mưu toan tuyệt diệt luôn cả cặp ngà quý giá ấy.

CKNHN viết về năm năm tù mà không tội của Bùi Ngọc Tấn (BNT). Trong HCKNHN BNT kể sau khi ra tù, ông và gia đình đã sống lầm than như thế nào. Ông trở lại với cây bút bằng những bản tin viết về công nhân và tàu cá của xí nghiệp đánh cá Hạ Long (Hải Phòng) ra sao. Từ đó là cơ duyên tái nghiệp cùng văn chương. Khởi viết Mộng du, cái tên thoạt kỳ thủy của CKNHN. Hành trình hoàn tất, sửa chữa và xuất bản CKNHN. Và CKNHN đã bị triệt hủy như thế nào.

Lời đề từ của HCKNHN như những vết dao cứa vào tim. Tôi đã quên tên tôi dưới mặt trời. Quên tuổi tôi cắm sâu lưỡi dao năm tháng. Thời gian băng hà sọ não tôi. Tôi tin đây là những câu trong một bài thơ của BNT. Vỏn vẹn ba câu thơ nhưng nói lên đầy đủ cái tàn khốc của nền cai trị khủng khiếp, vô nhân tính áp đặt lên con người. BNT đi tù năm 1968 trong vụ án xét lại. Ông ra tù năm 1973. Đến năm 1995 ông mới được cầm bút trở lại. Hai mươi hai năm câm nín. Hai mươi hai năm nuôi dưỡng chắt lọc. Hai mươi hai năm cùng vợ con và vô số “phó người” khác sống kiếp lầm than của những “con vật-người”. Trong CKNHN là những con người bị tù tội, bị tước đoạt nhân phẩm, sống kiếp con người - vật. Nghĩa vụ của những con người- vật là phục vụ chiến tranh và quyền lực, phục vụ một lũ thợ săn vô nhân tính. Bằng cái giọng thân mật và chân thành, BNT như một huynh trưởng hướng đạo nói câu chuyện lửa dặm đường với các sói. Nhưng đây là những câu chuyện làm nao lòng người, thậm chí có thể làm bạn mất ngủ. Có những câu chuyện tởm lợm đáng nôn mửa, nhưng cũng có những câu chuyện có thể làm cho bạn bật kêu lên: A, thì ra cuộc đời vẫn còn người tốt. Vẫn còn đẹp. Nghĩa là trong xã hội vẫn còn có những con người, những người thực sự là Người - người.

Tôi muốn nói với các con tôi, hãy sống cho ra một con người. Nhưng câu ấy chưa bao giờ được thốt ra. Tôi quá hiểu sống cho ra một con người khó khăn như thế nào, nguy hiểm như thế nào”. (HCKNHN-BNT)

Làm người là có quyền tự do. Là có quyền đòi cái quyền tự do của mình. Tuy nhiên, để sử dụng cái quyền tự do của con người, nhiều khi hết sức nguy hiểm.

BNT có cái nhìn bén nhạy về cuộc chiến. “Vào năm 1974, tôi không nhớ rõ, nhưng qua cái loa nón Ngã Sáu, một tin làm tôi bật cười. Các nhà báo ở Saigon biểu tình chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu bằng cách bị gậy giả làm ăn mày đi diễu phố.(…) Tôi nghĩ thầm, miền Nam không thể thắng được vì tự do biểu tình, lại cả tự thiêu nữa mới khủng khiếp. Vì tự do báo chí, tự do công kích chính quyền, phe nọ đảng kia, không thực hiện được như miền Bắc đã làm: chỉ có một luồng thông tin duy nhất từ những chiếc loa công cộng đường phố. Quản lý chặt dạ dày, hộ khẩu, duy trì tình trạng thiếu đói cả ở nông thôn và thành phố, chia nhau từng mét chỉ, nửa cây kim, nửa cái bát sành… Cuối cùng miền Nam đã thua nhanh hơn dự đoán. Chiến thắng thuộc về những người lì đòn hơn, vận dụng thời cơ tốt hơn. (…) chắc chắn có sự đóng góp không nhỏ của các loa công cộng. Chế độ quản lý bao cấp. Sự đóng góp của các nhà tù, của chính sách tập trung cải tạo. Một sản phẩm của chế độ độc trị. Và dĩ nhiên chân lý thuộc về kẻ chiến thắng. Không biết suốt ba mươi năm chiến tranh bao nhiêu người Việt đã chết, cả bên này và bên kia, bao nhiêu triệu người cầm súng và không cầm súng, tôi mong có một cuộc thống kê số xương máu Việt ấy, công bố trước thanh thiên bạch nhật để biết cái giá của cuộc sống hôm nay.
(HCKNHN-BNT)

Hết sức mỉa mai bởi một trong những nguyên nhân miền Nam thua trong cuộc chiến là vì chính quyền VNCH đã cho người dân được ít nhiều tự do, dân chủ, và miền Bắc đã thắng nhờ đường lối độc tài toàn trị. Chiến tranh là môi trường tiêu thụ xương máu con người, đặc biệt là xương máu của tuổi trẻ. Trong cuộc chiến, phe nào rộng rãi trong chi phí xương máu của phe mình hơn thì phe đó sẽ thắng.

BNT nhắc tới khẩu hiệu: Thóc không thiếu một cân. Quân không thiếu một người. Với chủ nghĩa cộng sản, trong thời chiến, người dân là những con số để đảng tố những canh xì phé xả láng bằng sinh mạng con người cho cuộc thắng bại. Hết chiến tranh, sinh mạng người dân còn rẻ rúng hơn cả thời chiến. Người dân bị cướp đất cướp nhà, bị giết trong đồn công an, bị tước đoạt nhân phẩm bất kỳ lúc nào… những điều đốn mạt như vậy cần phải được hiểu ra sao?

Tháng Tư năm 1975, chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến dài nhất thế kỷ trên thế giới chấm dứt. Tưởng chừng dân tộc Việt Nam sẽ bắt đầu được hưởng những ngày bình yên, nhưng không phải vậy. Một thảm họa khác chẳng thua gì chiến tranh đã phủ chụp lên đầu người Việt Nam.

Một cuộc thanh trừng rộng lớn đã được tiến hành. Một cuộc di tản chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Hàng triệu người miền Nam và cả miền Bắc đã bỏ nước vượt biển ra đi với xác suất sự sống chỉ chiếm số phần trăm ít ỏi. Chiến tranh kết thúc cùng với bao hậu quả mà thời gian khắc phục kéo dài cho đến hôm nay và còn kéo dài không biết đến bao giờ”.                                                                              (HCKNHN-BNT)

Cuộc chiến đã kết thúc, đất nước đã thống nhất. Tại sao hàng triệu người từ hai miền Nam, Bắc kéo nhau bỏ đi. Hết chiến tranh, không còn thời của những anh hùng liệt sĩ, những bà mẹ người chị kiên cường. Giá trị con dân Việt không còn đáng một xu. Người dân bên thua trận bỏ nước vượt biển, người dân bên phe thắng trận cũng bỏ nước vượt biển. Mặc dù ai cũng biết cuộc vượt thoát này được trả giá nhiều phần trăm bằng sinh mạng của mình. Người miền Nam ra đi vì thấy mình không còn chút dưỡng khí nào trên quê hương mình, còn người miền Bắc ra đi cũng chỉ là để tìm lấy chút dưỡng khí bởi xét cho cùng chính người miền Bắc phải chịu đựng cuộc sống thê thảm dưới chế độ cộng sản lâu dài và trước người miền Nam cả mấy chục năm. Cuộc sống mà BNT và bạn ông đã phải nói với nhau như thế này: “Khi tôi kêu lên, các ông ấy bần cùng hóa nhân dân ghê quá, Nguyên Bình nghiêm mặt bảo tôi: cuộc sống này gần với cuộc sống loài vật, đâu phải cuộc sống con người. Nguyên Bình nói đúng, cuộc sống này là một sự đày đọa. Hãy nghe một câu trong tham luận của một thuyền trưởng tàu đánh cá Hạ Long đọc tại đại hội công nhân viên chức: Tàu cá về, người xuống như dòi. Câu đó nói lên tất cả. Hơn thế, biết bao nhiêu người thèm được như chúng tôi, nhân viên một xí nghiệp thực phẩm. Ao ước được là dòi”. (HCKNHN - BNT)

Thế giới văn chương trong BNT, sức sáng tạo được nhào nhuyễn qua đau thương và đớn nhục trong ông, vì thế lại càng hồi sinh. Sức chịu đựng của vợ ông, sự cảm thông hồn nhiên vô điều kiện của các con ông lại còn là dưỡng chất và lực đẩy cho sức sáng tạo của BNT.

Sự kiện các nước cộng sản Đông Âu sụp đổ, sự trở mình của không khí văn chương trong nước sau vụ “cởi trói” cũng đã tiếp cho BNT ít nhiều hi vọng.

“…Thế giới giả dối độc ác đã sụp đổ rồi, bầu trời bằng đá xám đã sụp một phần rất lớn rồi. Trời xanh đã hiện ra, không thể nào đảo ngược được nữa. (…) Tôi thấy có lẽ mình phải viết. Có lẽ thôi chứ chưa cầm bút viết, cho đến khi giọt nước Nguyễn Quang Thân làm tràn cốc nước. (…) Sau hai mươi hai năm không viết và gần như không đọc, viết cái gì đây. Cuộc sống tả tơi quăng quật đầy đọa, tai ương đè nặng như một trái núi trên lưng cho đến tận hôm nay, nhưng tôi chưa muốn giở ngay kho tàng ấy. Cần phải có một thời gian nhìn lại, suy nghĩ, đánh giá, sắp xếp lại”.

Để thực sự viết trở lại và đặt chân vào thế giới “mộng du”, bắt đầu CKNHN, BNT đã trải qua không ít những trăn trở. Ông tự thú đã lâu rồi không đọc, gần như hoàn toàn không đọc, vì cuộc sống qua những trải nghiệm của chính ông với nỗi cùng cực của những lớp người dưới đáy xã hội khác xa với những hào nhoáng, giả dối đầy rẫy trong những cuốn sách cùng thời với ông.

“Cho đến khi viết được hai chục trang đầu quyển tiểu thuyết Mộng Du, sau này đổi tên thành CKNHN, tôi rụt rè đưa cho Thân đọc. Hải Phòng khi đó tôi chỉ có mình Nguyễn Quang Thân. Nguyên Bình, người bạn thân nhất của tôi đã chuyển về Hà nội. Cái tâm huyết của Thân làm tôi tin anh. Khi đưa cho anh mới chỉ là những dòng lia, nhớ đến đâu lia đến đấy. Nhân vật còn chưa có tên chính thức. Đưa Thân chiều hôm trước, sáng hôm sau tôi đạp xe đến Hội Văn nghệ Hải Phòng tìm anh, hồi hộp vì không biết anh đánh giá nó ra sao. Đưa trả tôi xếp giấy viết tay, Thân nói với tôi một câu tôi không hề chờ đợi, không hề ngờ tới: Cái này là của chung nhân loại mày ạ. Tên sách Mộng Du được, vừa phải, không gay gắt lắm. Gợi!

Phấn khởi, rất phấn khởi nhưng khó tin. Chỉ tôi mới hiểu nó vẫn còn chàng màng so với những gì tôi đã trải. Nhưng thôi cứ viết, khởi đầu như vậy là tốt, cứ viết. Viết và sửa. Cố gắng viết ra những điều mình nghĩ. Cố gắng làm một cái gì đó của toàn nhân loại, cần thiết cho nhân loại. Đến lúc ấy tôi mới đặt tên chính thức cho nhân vật. (…)

… Dòng văn học tù đày dường như đã kết thúc, bằng những hồi ký trong nhà tù đế quốc với những nhân vật được thần thánh hóa, lung linh huyền ảo, những cứu tinh đã sang trang cho cuộc sống, cho đất nước, nhân dân, và tôi, chính tôi là người viết tiếp dòng văn học tù đày tưởng đã chấm hết ấy. (…)Tôi viết về những khổ đau oan khuất vẫn tiếp diễn, sinh sôi và phát triển, những điều là dấu hiệu, là mục tiêu để cách mạng giương cao ngọn cờ vận động lôi kéo nhân dân tiêu diệt và tưởng đã tiêu diệt hoàn toàn nhưng hóa ra vẫn còn nguyên như cũ và cho đến giờ đã hơn cũ rất xa, chỉ thay đổi diện mạo, thay đổi ngôn ngữ, thay đổi y phục mà thôi. Tôi sẽ phơi bày ra ánh sáng một thế giới còn nằm trong bóng tối. Tôi sẽ cày lên những luống đầu tiên của một vùng đất còn hoang sơ trên cánh đồng gieo gặt của cách mạng, của cánh đồng gieo hạt giống tự do bón bằng xương máu nhưng lại trổ toàn quả đắng, đàn áp, bất công, gian dối, oan khuất”.(HCKNHN-BNT)

Từ những luống cày đầu tiên, BNT đã trẩy hoang vùng văn chương tù ngục. Ông đã thắp lên được một vùng nến sáng rực trên cái sân khấu của bóng tối ấy. Khởi viết CKNHN là BNT đã bắt đầu vác cây thánh giá của đời mình trên đôi vai còm cõi. Ông biết rất rõ con đường phía trước là con đường khổ nạn của đời ông nhưng tôi tin ông cũng biết rất rõ rằng đó chính là con đường vinh quang, con đường thành đạo của đời ông. Tại sao BNT viết truyện tù thành công, tại sao truyện tù của ông gây được tiếng vang trong độc giả tiếng Việt trên toàn thế giới? Đã có không ít những truyện tù được kể, trong những cuốn sách có thể dày tới cả ngàn trang, nhưng hiếm có cuốn nào trong số này thật sự nổi bật. Đó là những hồi ký, truyện kể về “cái tôi” của ai đó ở tù. Nhưng BNT viết CKNHN như một cuốn tiểu thuyết, nghĩa là vượt qua chuyện cá nhân BNT ở tù:

“…Khi tôi viết đến đoạn hút thuốc lào đêm, quy trình hút thuốc lào, đến cái động tác di tàn thuốc bắn theo hình vòng cầu cách xa hai mét và tiếp đó là câu, ‘hắn đã đạt được trình độ “xạ thủ” ấy’, tôi đạp xe đến Hội văn nghệ gặp Nguyễn Quang Thân hớn hở, tao viết được rồi. Tôi viết được rồi, tôi tự tin vì đã hài hước được. Tôi đã tách khỏi lực hút của người trong cuộc và bình tĩnh khách quan kể lại chuyện oan ức của chính tôi như kể lại chuyện của ai đó. Có vui có buồn và bao giờ chả vậy, khi sự việc đã qua được nhắc lại với những nét buồn cuời”. (HCKNHN-BNT)

Kể lại được ngay cả những chi tiết buồn cười, những chi tiết ngớ ngẩn trong cuộc sống tù đày oan khuất của mình, có nghĩa là đã thành công. Có nghĩa là đứng từ bên ngoài nhìn vào toàn diện cái bối cảnh mà mình đang ở tù. Lúc đó không còn là “cái tôi” ở tù nữa mà là cảnh tù tội đày đọa bất công trong một đời sống lớn, đời sống của cả một đất nước.

Trong HCKNHN, BNT lại rất tài tình trong việc hồn nhiên mang hầu hết các tầng lớp con người Việt Nam cùng thời vào trong tiểu thuyết. Từ những nhân vật có danh vọng chức vị như Đỗ Mười, Nguyễn Phú Trọng, những văn nô xênh xang mũ áo như Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, những tên nằm vùng đã trở thành lính gác cửa như Vũ Hạnh và vô số những nhân vật liên quan hay không liên quan tới văn chương, như những tên công an cao cấp hay hạ cấp luôn chăm chăm bảo vệ chế độ, hay cậu bé bán rong sách “cấm” cũng được BNT thân mật đưa vào tiểu thuyết của ông. BNT hóm hỉnh nghĩ, mình là người viết ra “sách cấm”, chú bé là người bán “sách cấm”, hóa ra mình và cậu bé cùng hội cùng thuyền.

BNT gặp được Bùi Văn Ngợi, giám đốc NXB Thanh Niên, mà theo ông, đây là một con người tuyệt vời. Bên cạnh Bùi Văn Ngợi là Phạm Đức, Cao Giang, biên tập viên Lê Hùng… những con người khí khái. Bắt đầu viết văn trở lại hay đúng ra, bắt đầu viết Mộng Du, tức là CKNHN, BNT ý thức rất rõ ràng, ông đang hai tay không đương đầu với một con quái vật khổng lồ ghê gớm, quỷ quyệt xảo trá, đó là đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Âm thầm sáng tác, âm thầm tìm cách in ấn, xuất bản… gửi nó tới bạn đọc, câu chuyện chỉ có vậy mà ly kỳ, gay cấn, khiến người đọc bao phen hồi hộp, bởi vì người viết và người in ấn dù chỉ một cuốn sách cũng bị theo dõi, truy bức theo kiểu của những kẻ lập hội kín mưu toan làm “cách mạng” lật đổ chính quyền. Nhiều đoạn làm cho người đọc tức nghẹn vì phẫn uất. Chỉ là một nhà văn già yếu, bệnh tật, hậu quả của những năm tháng tù tội, “vũ khí” duy nhất  là những con chữ từ khối óc và con tim chân thực, BNT đã chiến đấu ngang ngửa với nguyên cả một guồng máy bạo quyền của chế độ cộng sản phi nhân.

Ở BNT, sự chân thực và trong sáng là nguồn lực lớn cho nhà văn. Từ lúc khởi sự sáng tác, nhiều lần sửa đổi thêm bớt để hoàn chỉnh cho tác phẩm, tìm cách xuất bản CKNHN, BNT luôn tha thiết và tận tụy trong cái hiền lành hòa ái của ông. BNT hiền lành hòa ái nhưng không bao giờ tỏ ra hoặc vờ tỏ ra khiêm tốn với bất kỳ người nào. Từ chữ nghĩa, từ tác phẩm của ông, BNT biết rất rõ giá trị của những gì mình đang viết.

BNT chỉ cần CKNHN được xuất bản, tới tay bạn đọc, ông không quan tâm tới quyền lợi vật chất từ tác phẩm.

CKNHN đã bị đình chỉ phát hành và bị ra lệnh hành quyết. Một vụ hành quyết chữ nghĩa. Một phương cách triệt hủy sách vở, tư tưởng tiền vô cổ lai hậu vô nhân giả và tôi tin nó không thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào còn lại trên thế giới này. Xin đọc:

“(…)Lê Hùng đã xuống Hải Phòng thăm tôi, xem cái buồng của tôi nhưng chỉ là mục đích phụ. Anh xuống tôi khoảng hai tháng sau khi sách in xong để báo cho tôi một tin mới. Vẻ mặt của anh vừa xúc động vừa nghiêm trang. Hôm qua CKNHN của anh đã bị nghiền, ngâm thành bột rồi. Tám trăm hai mươi sáu bộ. Anh im lặng và thở dài thuật lại toàn bộ quá trình tàn sát và hủy diệt ấy.(…) Người của Cục xuất bản, người của NXB, người của nhà in ghi biên bản số sách đưa nghiền rồi ký biên bản sau khi đã nghiền xong thành bột. Ký biên bản khi bột đã ngâm trong bể a xít. Từng công đoạn một, xong xuôi tất cả mới được về”.

                                                                                             (HCKNHN- BNT)

Bao nghìn năm trước, Tần Thủy Hoàng phần thư nhưng chỉ đơn giản bằng lửa. Bao nghìn năm sau, ở năm Hai Ngàn sau Công Nguyên, tại VN, chính quyền cs Việt nam không phần thư, không đốt sách bằng lửa. Họ văn minh hơn nhiều, công phu và đê tiện hơn nhiều. Điều này cũng minh chứng rằng đảng và nhà nước cộng sản VN luôn sợ hãi trước chữ nghĩa và tư tưởng của những người chân thực, trong sáng như nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Sách BNT bị nghiền nát thành bột, sách đã bị nghiền thành bột thì còn ai đọc được nữa? Nhưng bột sách đó phải được ngâm vào bể a xít, rồi phải được những “đao phủ” bất đắc dĩ ký nhận đã hành quyết xong. Thật khôi hài và trơ trẽn. Tuy nhiên không ai hủy diệt được tư tưởng, không ai hủy diệt được chữ nghĩa. CKNHN của BNT đã được mọi người quan tâm trên khắp thế giới và bây giờ là HCKNHN, cuốn sách cuối đời ông. Những tội ác và sự hèn hạ của chính quyền cộng sản VN cũng sẽ được những người quan tâm khắp năm châu biết đến.,.

T.N.H

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/mot-cuon-sach-ve-mot-cuon-sach/3004325.html