Roderick
MacFarquahr
Huỳnh
Hoa dịch
Mùa
thu rồi, đại hội lần thứ 19 Đảng
Cộng sản Trung Quốc là bằng chứng chứng tỏ trong năm
năm làm Tổng bí thư đảng, ông Tập
Cận Bình (Xi Jinping) đã trở thành lãnh tụ
có quyền lực nhất Trung Quốc sau khi ông Mao Trạch
Đông (Mao Zedong) chết năm 1976. Đa số các
nhà quan sát, cả người Trung Quốc lẫn nước ngoài đã
biết chuyện này, họ chỉ thoáng ngạc nhiên về cung cách
mà nó thể hiện công khai tại đại hội: trong việc lựa
chọn đội ngũ lãnh đạo mới và suy tôn một hệ tư
tưởng mới mang tên ông Tập.
Ủy
ban thường vụ Bộ Chính trị đảng Cộng sản Trung
Quốc, gọi tắt theo tiếng Anh là PSC, bao gồm những nhà
lãnh đạo chóp bu của đảng, hiện có 7 ủy viên. Trong
quá khứ, Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị từng là nơi
diễn ra những cuộc tranh giành quyền lực quyết liệt.
Ông Mao đã sa thải hai người phó có khả năng kế vị
ông: ông Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi) – người
bị ngăn không cho chữa chạy khi lâm bệnh nặng; và thống
chế Lâm Bưu (Lin Biao) – người bị săn
lùng phải bỏ nước ra đi và chết khi chiếc máy bay chở
ông ta bị nạn trong tình huống mà đến nay vẫn còn là
bí mật. Ngay cả ông Đặng Tiểu Bình (Deng
Xiaoping) cũng đã cách chức hai Tổng bí thư đã
tỏ ra không kiên định với ông. Dưới thời ông Tập
Cận Bình, một đối thủ có tham vọng trở thành ủy
viên Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị đã bị đánh bại,
bị đưa ra tòa xét xử và bị bỏ tù; một ủy viên đầy
quyền lực đã nghỉ hưu khỏi Ủy ban thường vụ Bộ
Chính trị khóa 17 cũng chịu chung số phận. Ủy ban thường
vụ Bộ Chính trị là đỉnh cao của đảng Cộng sản
Trung Quốc, nhưng tiến lên, lùi lại hoặc chỉ đứng yên
tại đỉnh cao này của đảng có thể là chuyện đầy
nguy hiểm. Trung thành với lãnh tụ tối cao là sự bảo
đảm chắc chắn nhất vị trí của một ủy viên.
Tại
mỗi đại hội diễn ra 5 năm một lần, Ủy ban thường
vụ Bộ Chính trị được sắp xếp lại. Việc nghỉ hưu
khỏi Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị và các cơ quan
lãnh đạo khác của đảng đại khái phải theo một quy
tắc do ông Đặng đặt ra; ông này hy vọng sẽ có được
sự đổi mới đều đặn hàng ngũ lãnh đạo và tránh
tình huống năm 1976, khi các ông Thủ tướng Chu Ân
Lai (Zhou Enlai) 77 tuổi, Thống chế Chu
Đức (Zhu De) 89 tuổi, và Chủ tịch Mao 82
tuổi, đều chết trong khi đang còn làm việc. Bây giờ,
tuổi nghỉ hưu được quy định là 70 tuổi. Quy tắc
chung của Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị là vào thời
điểm tổ chức đại hội đảng, người đã đủ 68 tuổi
thì phải về nghỉ, còn người mới chỉ 67 tuổi thì có
khả năng ở lại. Năm trong số bảy ủy viên của Ủy
ban thường vụ Bộ Chính trị khóa 18 phải về nghỉ theo
quy định này, chỉ còn ông Tập Cận Bình (64 tuổi) và
Thủ tướng Lý Khắc Cường (Li Keqiang) 62
tuổi, là còn đủ trẻ để tiếp tục ở lại trong Ủy
ban thường vụ Bộ Chính trị khóa 19. Nhưng trước ngày
diễn ra đại hội gần đây, tin đồn ở Bắc Kinh là có
khả năng có thêm ủy viên thứ ba được giữ lại bất
chấp tuổi tác.
Tổ
chức lãnh đạo chóp bu của Đảng Cộng sản Trung Quốc
được chọn ra từ – nhưng không phải do – 25 ủy viên
Bộ Chính trị; đến lượt Bộ Chính trị được chọn
ra từ – cũng không phải do – 376 ủy viên chính thức
và dự khuyết của Ban Chấp hành trung ương (CC: Central
Committee), Ban Chấp hành trung ương lại được chọn ra từ
– cũng không phải do – 2.287 đại biểu tham dự đại
hội đảng. Trong thực tế, Tổng bí thư đương nhiệm và
những người thân cận nhất của ông sẽ chọn ra thành
phần các cơ quan lãnh đạo, đặc biệt là Ủy ban thường
vụ Bộ Chính trị, sau khi tham vấn ý kiến, và có thể
có tranh luận, với những người đồng cấp và những
Tổng bí thư tiền nhiệm. Như vậy, trong khi các ủy viên
Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị khóa 18 được những
người tiền nhiệm của ông Tập chọn ra thì Ủy ban
thường vụ Bộ Chính trị khóa 19 là “tác phẩm” của
chính ông. Bởi vì những người trung thành với ông Tập
lãnh đạo Văn phòng trung ương đảng – trung tâm đầu
não – và Vụ tổ chức cán bộ nên khả năng phát hiện
và lựa chọn những đồng chí đáng tin cậy để đưa
vào Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị khóa 19 đã được
bảo đảm.
Mối
quan tâm chính của những quan sát viên bên ngoài là liệu
có hay không một thành viên đáng tin cậy nhất của Ủy
ban thường vụ Bộ Chính trị khóa 18 sắp mãn nhiệm sẽ
được phép ở lại, bất chấp giới hạn tuổi tác, vì
tầm quan trọng của người này đối với ông Tập.
Trong
suốt 5 năm vừa qua, ông Vương Kỳ Sơn (Wang
Qishan) 69 tuổi, một đồng chí lâu năm của Tổng
bí thư đảng, đã dẫn dắt Ủy ban Kiểm tra và Kỷ luật
trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc thực thi chiến
dịch chống tham nhũng quyết liệt, toàn diện và được
quảng bá rầm rộ của ông Tập (1). Theo báo cáo mà Ủy
ban trình ra tại đại hội gần đây, đã có 74.880 quan
chức lãnh đạo đảng (nomenklatura) – nghĩa
là những người mà sự nghiệp do Ủy ban quản lý – ở
cấp quận huyện và cao hơn đã bị điều tra, kể từ
khi ông Vương lên phụ trách Ủy ban này năm 2012; trong số
này có 280 cán bộ cấp bộ hoặc cao hơn. Có 35.000 vụ
tham nhũng mà ủy ban đã chuyển hồ sơ cho ngành tư pháp
để truy tố chính thức. Trong số gần 90 triệu đảng
viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc, có 1.375.000 người
đã bị trừng phạt vì vi phạm kỷ luật đảng, vài
người chắc chắc đã bỏ qua quy định của đảng khi
tiệc tùng chỉ có tối đa “bốn đĩa và một súp”
(2).
Ông
Tập hài lòng với chiến dịch chống tham nhũng tới mức
hồi đầu năm nay ông tuyên bố nó đã chặn đứng sự
lan tràn của tham nhũng và tạo ra một “động lực triệt
hạ” nạn hối lộ. Thế thì tại sao ông không giữ ông
Vương lại? Lời đồn đoán ít có khả năng xảy ra nhất
là ông Tập không đủ mạnh để bỏ qua “quy luật tuổi
70”. Ông Tập là người đầu tiên đứng trên những
người bằng nhau. Giữ ông Vương không phải là việc làm
quá sức của ông.
Có
điều gì liên quan tới lời tố cáo tham nhũng nhắm vào
ông Vương mà tỷ phú Trung Quốc lưu vong Quách Văn
Quý (Guo Wengui) đưa ra từ căn hộ sang trọng
của ông ta ở New York hay không? Ông Quách có quan hệ mật
thiết với một quan chức an ninh cao cấp của Trung Quốc
đã bị mất chức, và lời tố cáo của ông được dân
chúng Bắc Kinh đem ra bàn tán. Nhưng sau hai lần ông được
các quan chức an ninh Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp
trên đất Mỹ đến thăm nhà, ông Quách đã không giữ
đúng lời hứa là sẽ họp báo ở New York trong thời gian
diễn ra đại hội 19 ở Bắc Kinh để công bố thêm nhiều
thứ nữa. Những tin đồn khác tiếp tục lan tràn. Khi ông
Vương không xuất hiện trước công chúng trong vài tuần
lễ hồi đầu năm ngoái, đã có tin đồn ông bị ung thư.
Hoặc đấy chỉ là một cái cớ giữ thể diện cho việc
ông bị buộc phải về hưu? Thế rồi, ông xuất hiện
trở lại ở một vài sự kiện chính thức và thần sắc
không có gì thay đổi, thì tin đồn mới chấm dứt.
Một
khả năng dễ xảy ra hơn là việc giữ ông Vương lại sẽ
gửi đi một tín hiệu rằng ông Tập có ý định tiếp
tục ngồi ghế lãnh tụ sau khi nhiệm kỳ thứ hai của
ông hiện nay kết thúc. Mọi người đều lưu ý rằng mặc
dù ông Tập được trao những chức vụ cho biết ông sẽ
là lãnh tụ tương lai của Đảng Cộng sản Trung Quốc từ
rất lâu trước khi ông thực sự được đề bạt, ông
đã bảo đảm rằng trong giới lãnh đạo mới sẽ không
có người nào là hiển nhiên kế vị ông. Thế thì, liệu
có phải ông Tập có ý định mô phỏng ông Mao và tiếp
tục cầm quyền cho đến ngày già yếu, một điều chưa
từng xảy ra trong thời kỳ hậu ông Đặng?
Nếu
kế hoạch lâu dài của ông Tập là như thế thì có lẽ
ông chưa đủ tự tin để thực hiện bước nhảy vọt
cuối cùng vào cõi bất tử. Vì thế, thay vào vị trí của
ông Vương, ông đã đề bạt một cộng sự thân cận
khác, ông Triệu Lạc Tế (Zhao Leji), Giám đốc
Vụ Tổ chức cán bộ thuộc Ban Chấp hành trung ương
đảng, làm ủy viên Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị,
nơi ông ta sẽ đảm nhiệm chiến dịch chống tham nhũng.
Bên cạnh ông Triệu, ông Tập cũng đề bạt một tay chân
trung thành nhất của mình trong ủy ban trung ương, chánh
văn phòng trung ương đảng, là ông Lật Chiến Thư (Li
Zhanshu) vào Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị như
là người xếp vị trí thứ ba trong tổ chức tôn ti trật
tự này.
Ủy
viên xếp vị trí thứ hai trong Ban thường vụ mới vẫn
là Thủ tướng Lý Khắc Cường, người giữ vị trí đó
trong Ban thường vụ khóa trước. Nhưng trong năm năm qua,
ông Lý đã bị cái bóng của ông Tập che khuất một cách
nhục nhã; ông Tập nắm cả ghế Chủ tịch các Ủy ban
kinh tế mà lẽ ra ông Lý phải lãnh đạo. Ông Thủ tướng
rõ ràng là thiếu tự tin và thiếu một cá tính mạnh mẽ
– những thứ đã giúp Thủ tướng Chu Dung Cơ (Zhu
Rongji) điều hành nền kinh tế trong thời ông
Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) làm Tổng bí
thư. Ông Lý sẽ phù hợp hơn với chức vụ Phó chủ tịch
– một chức vụ cao cấp như hiện nay nhưng chỉ có tính
chất nghi lễ. Điều này sẽ được quyết định vào mùa
xuân, dù có người nghĩ rằng ông Tập sẽ dành vị trí
đó cho ông Vương Kỳ Sơn. Số phận của ông Lý không
phải là đề tài bàn tán trong chốn trà dư tửu hậu ở
Bắc Kinh bởi vì ai cũng biết vai trò phụ thuộc của ông
ta. Một lời bình luận ác ý từ một trí thức Trung Quốc
là: “Đó cũng là vấn đề ư?”
Trong
khi số phận ông Vương Kỳ Sơn là đề tài bàn tán nhiều
hơn thì sự thay đổi gây tò mò nhất trong thành phần Ủy
ban thường vụ Bộ chính trị là việc đề bạt ông
Vương Hỗ Ninh (Wang Huning), người trí thức
thực thụ đầu tiên giành được vinh dự ấy. Ông Vương
này không phải là họ hàng của ông Vương Kỳ Sơn. Ông
Vương Hỗ Ninh đến từ Thượng Hải, nơi ông là sinh
viên cao học và sau này là một Giáo sư khi tuổi còn rất
trẻ của Đại học Phúc Đán danh tiếng. Sau khi tiếp
nhận những lời giới thiệu từ các nhà lãnh đạo đảng
ở Thượng Hải, ông Vương được Tổng bí thư khi ấy
là ông Giang Trạch Dân tuyển dụng cho văn phòng nghiên
cứu chính sách trung ương.
Vào
cuối nhiệm kỳ của ông Giang, năm 2002, ông Vương giúp
ông Giang sáng tác ra học thuyết “Ba đại diện” của
ông ấy, và vươn lên trở thành Giám đốc Văn phòng
nghiên cứu chính sách trung ương. Ông được Tổng bí thư
kế tiếp, ông Hồ Cẩm Đào (Hu Jintao), giữ lại
vì ông Hồ thừa nhận tài năng của Vương, thường đưa
Vương đi cùng trong các chuyến công du nước ngoài; Vương
cũng đã giúp ông Hồ soạn ra học thuyết của Hồ về
tầm nhìn khoa học về sự phát triển. Cả hai học thuyết
“ba đại diện” và “tầm nhìn khoa học” về sự
phát triển đều trở thành lý luận chính thức của
đảng. Sau khi ông Hồ nghỉ hưu, Vương trở thành người
hết sức cần thiết của Tập, thường tháp tùng ông Tập
trong những chuyến công du quốc tế. Bây giờ, ngoài vị
trí Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Vương còn được
bổ nhiệm đứng đầu Ban Bí thư. Nhưng không giống hầu
hết các lãnh đạo cao cấp, ông ta chưa từng điều hành
một tỉnh thành hoặc một bộ ngành trong Chính phủ.
Vương
không phải là loại trí thức theo chủ nghĩa cơ hội kiểu
Kissinger mà trí khôn thường được các nhà lãnh đạo
mới lên tận dụng. Trong những năm tháng dạy học, ông
đã viết và xuất bản rất nhiều. Một chuyến viếng
thăm Hoa Kỳ kéo dài 6 tháng đã dẫn tới sự ra đời của
cuốn sách America Against America (Nước Mỹ
chống lại nước Mỹ), khảo sát những mâu thuẫn bên
trong xã hội Mỹ. Một người bán sách Trung Quốc đã lợi
dụng sự thăng tiến thần tốc của ông Vương để mời
chào một bản copy của cuốn nhật ký năm 1995 của ông
này, có nhan đề A Political Life (Zhengzhide rensheng –
Chính trị đức nhân sinh), xuất bản ngay trước khi
ông chuyển công tác đến Bắc Kinh, với giá 11.888 nhân
dân tệ (khoảng 1.800 USD). Một trong những chủ đề mà
ông Vương ủng hộ trong các trước tác của mình là “chủ
nghĩa chuyên chế mới”, nhấn mạnh vào nhu cầu phải có
sự lãnh đạo mạnh mẽ và nỗi ác cảm của ông với
việc giới thiệu chủ nghĩa dân chủ phương Tây vào xã
hội Trung Quốc chắc chắn là yếu tố giúp ông trở nên
thân thiết với ông Tập (3).
Giữ
vị trí thứ tư trong trật tự chóp bu mới, ngay trên
Vương Hỗ Ninh là Uông Dương (Wang Yang), một
kiểu người khác. Từ năm 2007 đến 2012, ông Uông Dương
điều hành tỉnh Quảng Đông, tỉnh giàu nhất Trung Quốc,
giáp ranh với Hồng Kông. Ở đó ông Uông nổi tiếng là
người quyết đoán và cải cách kinh tế có sáng tạo.
Ông được khen ngợi rộng rãi nhờ việc giải quyết hòa
bình cuộc nổi dậy của nông dân làng Ô Khảm (Wukan) chống
lại các cán bộ đảng đã bán đất đai của họ; cho dù
việc giải quyết của ông Uông đã bị người kế nhiệm
ông bãi bỏ. Khi ông Tập lên nắm quyền vào năm 2012 thì
ông Uông đã có chân trong Bộ Chính trị và được chuyển
từ vị trí lãnh đạo tỉnh về Chính phủ trung ương,
đảm nhiệm công việc Phó thủ tướng theo dõi một số
lĩnh vực kinh tế.
Trong
cương vị mới, ông Uông đã gây được thiện cảm của
các nhà báo phương Tây vào tháng 7 năm 2013 khi ông gặp
Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Jack Lew ở Washington trong
khuôn khổ hội nghị cấp cao thường niên giữa Trung Quốc
và Hoa Kỳ. Uông so sánh quan hệ Mỹ-Trung với một cuộc
hôn nhân mà cả hai bên đều xây dựng lòng tin và sự
hợp tác. “Ở Trung Quốc, khi chúng tôi nói một cặp đôi
mới thì có nghĩa là một đôi mới cưới nhau. Luật pháp
Hoa Kỳ không cho phép hôn nhân giữa hai người đàn ông,
nhưng tôi không nghĩ rằng đó là điều mà Jacob hoặc tôi
thật sự mong muốn. Chúng ta không thể ly dị theo kiểu
như Wendi và Rupert Murdoch… bởi vì cái giá phải trả là
rất lớn” (4).
Tập
Cận Bình dường như không phải là kiểu lãnh tụ đánh
giá cao khiếu hài hước của Uông. Nhưng Tập vẫn dành
cho ông không gian để hoạt động; Uông có lẽ là người
mai mối những cuộc hôn nhân thành công giữa các doanh
nghiệp nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, giúp cho
Tập nhìn thấy cái chương trình cải cách kinh tế mà ông
ta đã hứa hẹn từ lâu nhưng cho đến nay chưa hoàn tất
được, đang bắt đầu đi tới kết quả. Chẳng bao lâu
sau khi được đưa vào Ủy ban thường vụ Bộ Chính trị,
ông Uông đã viết một bài dài trên tờ báo chính
thống Nhân dân nhật báo rằng Trung Quốc
phải cải thiện môi trường kinh doanh cho các nhà đầu
tư nước ngoài, mở rộng quyền tiếp cận khu vực kinh
tế dịch vụ của Trung Quốc. Trong một cử chỉ gây
thiện cảm với các doanh nhân nước ngoài, ông Uông nói
rằng Trung Quốc nên bảo vệ tài sản trí tuệ, không nên
đòi hỏi phải chuyển giao công nghệ như là điều kiện
để được tiếp cận thị trường và nên đối đãi với
các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài ngang nhau trong
các chương trình mua sắm của Chính phủ. Tất nhiên những
lời lẽ như vậy đã được các người phát ngôn của
Trung Quốc nói ra trước đây, và các quan sát viên phương
Tây thường nghi ngờ một cách dễ hiểu rằng liệu Uông
có thật sự giúp cho các doanh nhân nước ngoài được
thuận lợi hơn khi hoạt động tại Trung Quốc hay không.
Mặt khác, thật khó tưởng tượng ra chuyện ông Tập sẽ
cho phép ông Uông đưa ra một phát ngôn như vậy nếu ngày
hôm nay lời nói đó cũng có ít ý nghĩa như nó từng như
vậy trong quá khứ.
Ủy
viên có vị trí thấp nhất trong Ủy ban thường vụ Bộ
Chính trị là cựu Bí thư thành ủy thành phố Thượng
Hải Hàn Chính (Han Zheng). Vài người nói rằng
sự hiện diện của ông Hàn trong Ủy ban này, cùng với
ông Vương Hỗ Ninh, là một sự nhượng bộ đối với
cựu Tổng bí thư đảng Giang Trạch Dân – người kiểm
soát một phe của Thượng Hải – gọi là “nhóm”
Thượng Hải – nơi ông ta có thời là Bí thư thành ủy;
trong khi ông Lý Khắc Cường và Uông Dương là sự nhượng
bộ đối với phe Đoàn Thanh niên của ông Hồ Cẩm Đào,
người từng là Bí thư thứ nhất Trung ương đoàn. Mặc
dù quan hệ phe phái có gốc rễ rất sâu trong chính trị
Trung Quốc nhưng dường như không có chuyện ông Tập có
thể thiết lập quyền uy tối cao của mình như đã thấy
rõ ràng trong đại hội 19 mà vẫn phải chấp nhận những
đồng sự là tay chân của những lãnh đạo tiền nhiệm.
Trong thời gian trước đại hội chẳng hạn, ông Tập đã
có những động thái quyết định về mặt cơ cấu chống
lại Đoàn Thanh niên, một thời là cánh tay phải hùng
mạnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Điều chưa từng
có tiền lệ là ngay cả Bí thư Trung ương đoàn cũng
không được chọn làm đại biểu của đại hội đảng
lần thứ 19.
Trong
trường hợp có bất kỳ đồng sự mới nào của ông vẫn
chưa hiểu ai là ông chủ thì ông Tập tái nhấn mạnh vào
vị trí chỉ huy của ông ngay tại phiên họp đầu tiên
của Bộ Chính trị; tại đó đã có một nghị quyết quy
định tất cả các Ủy viên Bộ Chính trị đều phải
viết báo cáo hằng năm gửi lên Tổng bí thư trình bày
chi tiết các hoạt động của mình. Có khả năng nhiều
hơn là Hàn Chính có mặt trong Ủy ban thường vụ Bộ
Chính trị là vì Thượng Hải, thành phố lớn nhất và
giàu có nhất Trung Quốc, xứng đáng có một đại biểu
ở cấp lãnh đạo chóp bu; và chúng ta sẽ biết nhiều
hơn khi xem ông Tập phân bổ công tác cho ông Hàn.
Điều
gây ấn tượng mạnh hơn việc ông Tập xây dựng ê-kíp
để giúp ông lãnh đạo Trung Quốc là cái vị thế bổ
sung mà ông Tập dành cho chính ông. Ngày nay ở Trung Quốc,
Tổng bí thư Đảng Cộng sản cũng đồng thời là Chủ
tịch Ủy ban Quân sự của đảng và Chủ tịch nước
Cộng hòa nhân dân. Trong khi chức vụ Chủ tịch nước
tạo cho nhà lãnh đạo Trung Quốc một vị thế bình đẳng
trong các cuộc tiếp xúc ngoại giao với các nhà lãnh đạo
nước ngoài, thì chức Chủ tịch Ủy ban quân sự nhấn
mạnh vào sự kiện rằng quân đội, gọi là Quân Giải
phóng Nhân dân (PLA), thuộc về đảng chứ không thuộc về
quốc gia như quân đội của hầu hết các nước trên thế
giới. Không một nhà lãnh đạo Trung Quốc nào dám quên
câu châm ngôn ngổi tiếng của Mao: “Quyền lực chính
trị sinh ra từ nòng súng”. Vào lúc bắt đầu nhiệm kỳ
thứ nhất của ông, ngoài việc thâu tóm chức vụ lãnh
đạo các ủy ban kinh tế hùng mạnh, ông Tập cũng tự
phong cho mình đứng đầu các ủy ban về an ninh quốc gia
và hoạt động đối ngoại.
Trong
5 năm vừa qua, Tập đã giành thêm hai vinh dự lớn nữa.
Ông được tuyên xưng là “hạt nhân” lãnh đạo của
đảng, một tước vị có phần rườm rà nhưng có âm
vang lịch sử. Vào năm 1997, ông Giang 71 tuổi và lẽ ra
ông ta phải nghỉ hưu, nhường chức Tổng bí thư cho một
lãnh đạo trẻ hơn. Nhưng, như một nhà lãnh đạo lão
thành đang còn sống chỉ ra, bởi vì ông Giang đã được
ông Đặng Tiểu Bình phong tặng danh hiệu lãnh đạo “hạt
nhân”, và điều đó có nghĩa là ông không thể nghỉ
hưu ngay được. Người dự kiến thay thế ông phải ra đi
và ông Giang làm thêm một nhiệm kỳ Tổng bí thư nữa,
chỉ về hưu vào năm 2002, khi ông đã 76 tuổi. Đây có
thể là một tiền lệ mà ông Tập sẽ lợi dụng khi cần
thiết.
Tập
cũng được phong làm Tổng tư lệnh quân đội, một chức
vụ chỉ có Chu Đức, người bạn ruột về quân sự của
Mao trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, được phong. Có
lẽ đây là cách để thể hiện rằng Tập, người đã
mặc quân phục đứng giám sát cuộc diễu binh kỷ niệm
90 năm ngày thành lập PLA hồi đầu năm nay, không chỉ là
một lãnh đạo dân sự chủ trì các tướng lãnh trong Ủy
ban Quân sự mà còn là một người lính, sẵn sàng chỉ
huy quân đội trên chiến trường. Chưa rõ là các tướng
lãnh trong Ủy ban Quân sự tiếp nhận sự kiện này như
thế nào (5) nhưng một số nhà quan sát cho rằng, công
cuộc tái cơ cấu quân đội được ông Tập tiến hành
quyết liệt trong hai năm qua sẽ bảo đảm lòng trung thành
của các tướng lãnh mới được đề bạt (6).
Nhưng
tất cả các chức vụ kể trên đều chưa đáng với sự
đề cập tới ông Tập Cận Bình trong cương lĩnh chính
trị mới của đảng vừa được đại hội thông qua:
Đảng
Cộng sản Trung Quốc sử dụng chủ nghĩa Marx-Lenin, Tư
tưởng Mao Trạch Đông, Học thuyết Đặng Tiểu Bình, Học
thuyết về Ba đại diện, về Tầm nhìn khoa học về sự
phát triển và Tư tưởng Tập Cận Bình về Chủ nghĩa xã
hội với đặc điểm Trung Quốc trong kỷ nguyên mới làm
hướng dẫn cho hành động.
Với
những lời lẽ này, ông Tập đã vượt qua ông Đặng –
người mà công cuộc cải cách mở cửa đã mang lại tăng
trưởng kinh tế thần kỳ của Trung Quốc trong ba mươi
lăm năm qua; nhưng chỉ được coi là người đề ra một
học thuyết; còn hai người tiền nhiệm của ông Tập thì
có một học thuyết một tầm nhìn nhưng tên tuổi thì
không được liệt kê bên cạnh. Giờ đây ông Tập đã
lên ngang với ông Mao – yêu cầu táo bạo nhất của ông
ấy cho đến lúc này. Cũng như ông Mao, ông Tập thích
trang điểm các bài diễn văn của mình bằng những điển
cố trích dẫn từ văn chương cổ điển Trung Quốc, dù
ông ta sử dụng chúng để nhấn mạnh vào nội dung chính
sách hiện thời chứ không nhằm gây lúng túng cho các
đồng sự ít đọc của mình, việc mà ông Mao rất thích
làm.
Một
nhà báo Trung Quốc cần cù đã lật qua tất cả các bài
diễn văn của ông Tập và tập hợp những ví dụ về
cung cách này (7). Một đoạn trích từ sách Luận
ngữ, trong đó Khổng Tử trả lời câu hỏi của một
trong những đồ đệ của mình “nếu ngài muốn dẫn dắt
nhân dân một cách đúng đắn thì ai là người không thể
cải hóa được?” được ông Tập sử dụng để khuyến
dụ các lãnh đạo đảng phải hành động bằng cách nêu
gương cho người khác. Để nhấn mạnh nhu cầu cần nhiều
quan chức tài năng nhằm làm cho Trung Quốc hoàn thành được
mục tiêu “trẻ hóa dân tộc”, ông Tập đã trích
dẫn Kinh Thi – một tuyển tập các bài dân ca
ra đời từ thế kỷ 11 tới thế kỷ 17 trước Công
nguyên: “Đáng phục thay nhiều quan lại sinh ra ở
vương quốc này. Vương quốc có khả năng sản sinh ra họ,
những người ủng hộ nhà Chu. Đông đảo quan lại và
nhờ họ Văn Vương có thể nghỉ ngơi”. Bình luận
về bài thơ, ông Tập nói rằng, để “kiến tạo một
nhà nước có thể tồn tại qua nhiều thế kỷ thì tài
năng là then chốt”.
Nhưng
gạt qua một bên việc dẫn điển cố để làm đẹp cho
bài phát biểu, Tư tưởng Tập Cận Bình đại diện cho
điều gì? “Chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”
là cụm từ được nói tới rộng rãi ngay từ buổi đầu
của thời kỳ đổi mới năm 1979. Nói thẳng ra, nó có
nghĩa là các nhà lãnh đạo Trung Quốc chấp nhận mọi
chính sách nào tạo ra được tăng trưởng kinh tế dù họ
vẫn gọi đó là chủ nghĩa xã hội. Cái mới là “Kỷ
nguyên mới”, có thể bắt đầu vào thời điểm này,
hoặc có lẽ đã bắt đầu từ khi ông Tập lên cầm
quyền năm năm về trước. Do đó, cần phải nghiên cứu
những tuyên bố của ông ta về việc cai trị Trung Quốc.
Rất
may là các cơ quan tuyên truyền của nước này – đang cổ
xúy một phong trào sùng bái ông Tập mới manh nha, chẳng
hạn đài truyền hình trung ương Trung Quốc mới đây đã
dành tới hơn 4 phút mở đầu chương trình thời sự để
đưa những ý kiến suy tôn ông ta – đã xuất bản một
cuốn sách tập hợp những bài diễn văn của ông Tập
bằng tiếng Trung Quốc và dịch ra tiếng nước ngoài về
hàng loạt đề tài khác nhau mà một Tổng bí thư coi
trọng việc kiểm soát mọi thứ như ông ta phải bao quát.
Việc xuất bản kịp thời những ý kiến của ông Tập
nhằm bảo đảm các tuyên bố của ông được phổ biến
rộng là việc làm đáng ghi nhận, dù rằng những nhan đề
gây mệt óc có thể khiến một người đọc nước ngoài
xa lánh: “Những ghi chú giải thích ‘Quyết định của
Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về
một số vấn đề quan trọng liên quan tới công cuộc
tiếp tục cải cách toàn diện’” là một ví dụ. Trong
trường hợp này, ông Tập thay mặt Bộ Chính trị để
giải thích cho Ban chấp hành trung ương một “nghị quyết
của chính Ban chấp hành trung ương” đó, đồng thời
cũng chỉ ra đâu mới là nơi thật sự ban hành quyết
định (8).
Nghị
quyết này là một nền tảng quan trọng cho sự lãnh đạo
của ông Tập nhưng nó cũng bộc lộ nhiều vấn đề
trong chiến lược của ông. Tập giải thích rằng, ông
cùng với hai ủy viên khác của Ủy ban thường vụ Bộ
Chính trị chịu trách nhiệm thảo ra nghị quyết, nhưng
quy trình xem xét kéo dài tới bảy tháng, qua nhiều cuộc
tham vấn các lãnh đạo cấp quốc gia và cấp tỉnh, các
quan chức đảng đã nghỉ hưu, các lãnh đạo Liên đoàn
Công nghiệp và Thương mại toàn Trung Quốc, và nhiều
nhân sĩ ngoài Đảng Cộng sản cũng như phải qua ba hội
nghị xem xét của Ủy ban thường vụ và hai hội nghị
của Bộ Chính trị. Mục tiêu ban đầu của nghị quyết
là trao cho thị trường một vai trò lớn hơn trong nền
kinh tế: “Thị trường đóng vai trò quyết định trong
việc phân bổ nguồn lực, nhưng không phải là tác nhân
duy nhất về phương diện này” (9).
Và
đã có một sự xung khắc khiến cho suốt bốn năm sau đó
đội của ông Tập đã không thành công trong việc chuyển
hóa Trung Quốc từ một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu
sang nền kinh tế dựa vào tiêu dùng nội địa. Ông Tập
vẫn gắn bó với các doanh nghiệp nhà nước, coi đó là
thành trì của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và lo lắng
về thị trường tự do không kiểm soát được. Vụ vỡ
bong bóng của thị trường chứng khoán Thượng Hải năm
2015 chắc chắn là một cú sốc nặng nề.
Thế
nhưng trong bài diễn văn lê thê dài tới ba tiếng rưỡi
đồng hồ tại Đại hội 19, ông Tập vẫn không ngừng
hào hứng. Những vấn đề đã được kể ra, những thiếu
sót đã được thừa nhận, nhưng đã có những bước đột
phá trong những lĩnh vực quan trọng và theo lời ông,
những “khuôn khổ” chung cho công cuộc cải cách đã
được xác lập thông qua việc khởi động hơn 1.500 biện
pháp cải cách. Ông nói rằng, Trung Quốc cam kết xây dựng
một “xã hội phồn vinh cỡ trung về mọi phương diện”
vào năm 2020, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành
lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2021. Giữa năm 2020
và 2035, Trung Quốc sẽ nổi lên thành nhà lãnh đạo toàn
cầu về sáng tạo, nhân dân Trung Quốc sẽ có cuộc sống
tiện nghi, mức thu nhập của tầng lớp trung lưu sẽ được
nâng lên đáng kể. Quyền của người dân sẽ được bảo
vệ, quy ước xã hội và lối sống văn minh sẽ được
cải thiện, nghĩa là người dân Trung Quốc sẽ đối đãi
với nhau tử tế hơn.
Giai
đoạn hai trong kế hoạch của ông Tập Cận Bình sẽ kéo
dài từ năm 2035 đến giữa thế kỷ này, đúng vào dịp
kỷ niệm 100 năm nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm
2049, và thế giới sẽ nhìn thấy Trung Quốc là một quốc
gia xã hội chủ nghĩa hiện đại và vĩ đại – một đất
nước thịnh vượng, hùng mạnh, dân chủ, tiến bộ về
văn hóa, hài hòa và tươi đẹp, một người lãnh đạo
toàn cầu đã đạt được sức mạnh dân tộc và ảnh
hưởng quốc tế. Nói ngắn gọn, công cuộc trẻ hóa dân
tộc Trung Quốc và sự nở hoa của giấc mộng Trung Hoa –
một ý niệm mơ hồ về việc phục hồi sự vĩ đại của
các triều đại quân chủ vinh quang nhất Trung Quốc mà
ông Tập đưa lên thành mục tiêu tối hậu của mình kể
từ khi lên tới đỉnh cao quyền lực, sẽ được biến
thành hiện thực. Và để hoàn thành tất cả những nhiệm
vụ này, nhất thiết phải duy trì sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản và sức mạnh của đảng phải được
tăng cường. Như vậy, khi ông Tập đề cập tới nhà
nước pháp quyền thì không có nghĩa là ông nói đảng
phải chịu sự điều chỉnh của pháp quyền; cũng như
“dân chủ” đối với ông không được ám chỉ bất kỳ
mối đe dọa nào đối với hệ thống nhà nước chuyên
chế kiểu Leninist của Trung Quốc.
Trong
bài diễn văn của mình, ông Tập tiết lộ đôi điều về
cái chủ nghĩa dân tộc sắt đá rõ ràng đang tiềm ẩn
bên dưới vẻ bề ngoài hiền lành, nói cười thơn thớt
của ông:
Đất
nước Trung Hoa là một đất nước vĩ đại; đã từng
trải qua nhiều khó khăn và nghịch cảnh nhưng vẫn không
hề bị khuất phục. Nhân dân Trung Quốc là dân tộc vĩ
đại, cần cù, dũng cảm và không bao giờ ngưng nghỉ
trong công cuộc mưu cầu tiến bộ. Đảng Cộng sản Trung
Quốc là một đảng vĩ đại; đảng có lòng can đảm để
chiến đấu và quyết tâm chiến thắng.
Bánh
xe lịch sử vẫn quay đều; ngọn triều của thời đại
là rất lớn lao và mạnh mẽ. Lịch sử sẽ tử tế với
những ai có quyết tâm, có động lực, có tham vọng và
lòng can đảm. Nhưng lịch sử sẽ không chờ đợi những
kẻ chần chừ, lãnh đạm hoặc những kẻ e ngại thách
thức (10).
Và
trong kỷ nguyên mới dũng cảm này, Trung Quốc sẽ “di
chuyển gần hơn tới sân khấu trung tâm”, cần nhắc lại
cho những ai chưa để ý.
R.M.
Chú
thích:
(1)
Xem Andrew J. Nathan, China: The Struggle at the Top, The
New York Review, February 9, 2017.
(2)
Vài nguồn tin nói rằng, một bữa tiệc chỉ cần có 4
món: gà quay, thịt heo xào, bông cải xào tỏi với canh
dưa gang nấu thịt heo.
(3) Zhengzhide
rensheng, trang 129-135. Rất cảm ơn Rudolf Wagner đã chỉ
cho người viết đoạn văn này trong sách của Vương Hỗ
Ninh trên mạng Internet.
(4) “US-China
Relationship Like a (Straight) Marriage-China’s Wang”,
Reuters, July 10, 2013.
(5)
Trong những dịp tương tự trong quá khứ, những người
tiền nhiệm của ông Tập như Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm
Đào đều mặc y phục đại cán theo kiểu Mao được cắt
may rất khéo.
(6)
Bo Zhiyue, China’s Political Dymanics under Xi
Jinping (World Scientific, 2016), trang 75-77.
(8)
Xi Jinping, The Governance of China (Beijing:
Foreign Languages Press, 2014), tr. 76.
(9)
Xi, The Governance of China, tr. 85.
(10)
Theo bản dịch chính thức do Bắc Kinh phát hành. Ở đây
có âm hưởng lời của Mao thời trẻ. Năm 1919 Mao viết:
“Thời cơ đã đến! Ngọn triều vĩ đại của thế giới
đang tràn tới vô cùng mãnh liệt! Ai thích nghi với nó
thì sống, ai chống lại sẽ chết”. Dẫn theo Stuart R.
Schram, The Political Thought of Mao Tse-tung (Pelican,
1969) tr. 163.
Roderick
Macfarquhar là "Leroy B. Williams Research
Professor of History and Political Science" (Giáo
sư nghiên cứu lịch sử và khoa học chính trị) ở
Đại học Harvard. Gần đây nhất (1/2018) ông là chủ biên
và có bài đóng góp cho cuốn The Politics of China: Sixty
Years of the People’s Republic of China (Chính trị Trung
Quốc: Sáu mươi năm của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc).
Nguồn:
http://www.viet-studies.net/kinhte/MacFarquhar_RedEmperor_NYRB_trans.html