Pranab
Bardhan (*)
Huỳnh
Hoa dịch
Thế
kỷ XX có nhiều chuyện lạ mà một trong những chuyện đó
là vào năm 1972 thầy tớ nhà Nicxon kéo nhau sang Bắc Kinh
tình nguyện tháo cũi sổ lồng cho một con ngoáo ộp để
đến bây giờ thì hình như cả thế giới phương Tây
đang phải lo sốt vó cú nhảy hung hăng vồ mồi của nó,
đe dọa nuốt chửng cả nền dân chủ mà nhân loại đã
thiết lập từ mấy thế kỷ qua chứ chẳng chơi. Có gì
đâu, con ngoáo ấy hung hăng thật, nhất là sau khi đã
thay mấy cái đầu quỷ, từ Mao, Đặng đến Tập, nhưng
gót chân Achilles của nó ai mà không thấy. Hãy cứ để
nó nhảy nhót dương vây với bộ máy chuyên chế độc
tài của nó. Đó là đôi cánh nhưng cũng chính là sợi
dây thòng lọng đang quàng lỏng lẻo trên cổ nó. Để
sau điệu vũ hoành tráng đưa nó tới cùng tột mê ly thì…
dây thòng lọng cũng vừa thít vào tận cổ. Cứ yên tâm
đi.
Bauxite
Việt Nam
Các
nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng phiên bản tổ chức
kinh tế và chính trị của họ ưu việt hơn các hệ thống
phương Tây, và họ đã bắt đầu biện hộ cho một “kỷ
nguyên mới” của nền cai trị phi dân chủ. Nhưng, cho dù
có sức hấp dẫn, mô hình phát triển của Trung Quốc vẫn
kém cỏi ở nhiều phương diện căn bản và không dễ tái
tạo ở những nơi khác.
Dường
như bây giờ các lãnh đạo Trung Quốc đã từ bỏ lời
răn của Đặng Tiểu Bình “thao quang dưỡng hối” (tao
guang yang hui – che giấu ánh sáng, nuôi dưỡng
bóng tối - giấu mình chờ thời). Khi tuyên bố một “kỷ
nguyên mới” của Trung Quốc tại Đại hội toàn quốc
lần thứ 19 của Đảng Cộng sản [Trung Quốc] hồi tháng
10 vừa qua, Chủ tịch Tập Cận Bình đã trình bày hệ
thống cai trị của Trung Quốc như một hình mẫu để các
quốc gia khác mô phỏng theo. Các nhà lãnh đạo muốn
“thúc đẩy sự phát triển trong khi vẫn duy trì nền độc
lập của mình” nên nhìn vào Trung Quốc như “một lựa
chọn mới”, ông Tập nói.
Các
quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các nước Đông
Nam Á và châu Phi hạ Sahara, dường như bất ngờ với khả
năng mới này. Hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc,
Tân Hoa xã, thậm chí còn đề nghị rằng, khi các nền
dân chủ phương Tây chao đảo thì “nền dân chủ giác
ngộ của Trung Quốc” có thể là một con đường để
tiến tới.
Giữa
tất cả những lời hoa mỹ ồn ào đó, cần đặt ra câu
hỏi: mô hình Trung Quốc về phát triển kinh tế chính trị
chính xác là cái gì? Và nó có thực sự đáng ưa chuộng
hơn các hệ thống khác hay không?
Mô
hình Trung Quốc có một số đặc điểm chủ yếu, bao gồm
chế độ cai trị chuyên chế dựa trên ý niệm về sự
ổn định; chính sách công nghiệp và tài chính do nhà
nước dẫn dắt; đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng; công
nghiệp hóa nông thôn hậu thuẫn bởi nông nghiệp quy mô
nhỏ; và sự mở cửa cho thương mại và công nghệ nước
ngoài. Chắc chắn mô hình này đã sinh ra cuộc tăng trưởng
kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc trong hơn ba thập niên
qua, đưa hàng trăm triệu người ra khỏi nghèo đói.
Nhưng
quan niệm rằng thành tố đầu tiên của mô hình này –
chế độ chuyên chế – cần thiết cho sự phát triển
nhanh là sai lầm. Trong thực tế, đây chính là đặc điểm
của hệ thống Trung Quốc mà các quốc gia khác nên suy
xét cho thật kỹ.
Hãy
xem các nước láng giềng Đông Á của Trung Quốc – đặc
biệt là Nhật Bản, Đại Hàn và Đài Loan. Mỗi nước
này đều đạt được tăng trưởng kinh tế cao thông qua
chính sách công nghiệp do nhà nước dẫn dắt, công nghiệp
hóa nông thôn và mở cửa cho thương mại. Nhưng Nhật Bản
đạt được các mục tiêu này trong khuôn khổ nền dân
chủ thời hậu chiến, trong khi Đại Hàn và Đài Loan đã
là hai nền dân chủ trong suốt ba mươi năm qua. Nói cách
khác, chế độ độc tài chuyên chế không có vai trò cần
thiết trong công cuộc hiện đại hóa.
Chắc
chắn rằng chế độ dân chủ thì chậm chạp một cách
khó chịu và thường gây nhiều tranh cãi. Nhưng các quy
trình tranh luận và bầu cử của chế độ dân chủ đã
giúp giảm thiểu xung đột, đặc biệt là ở những xã
hội không thuần nhất và tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn.
Ngay cả ở một quốc gia tương đối thuần nhất như
Trung Quốc, sự thiếu vắng những cuộc tranh luận công
khai đã có tác động ngược, bằng chứng là sự xử lý
sai lầm của nhà nước đối với các cuộc bất ổn sắc
tộc của người Tây Tạng và người Duy Ngô Nhĩ.
Không
có một xã hội dân sự vững mạnh hoặc một hệ thống
tư pháp độc lập để kiểm soát quyền lực của Chính
phủ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, trong nhiều trường
hợp, đã phạm phải những sai lầm khủng khiếp trong
phán đoán và quyết định. Không cần nhìn xa hơn những
cuộc Đại Nhảy vọt hoặc Cách mạng Văn hóa của Mao
Trạch Đông cũng thấy rõ.
Ông
Tập cũng có những sai lầm ngớ ngẩn. Ví dụ, quyết
định của ông ta ra lệnh cho các doanh nghiệp nhà nước
đổ tiền vực dậy thị trường chứng khoán Thượng Hải
trước nguy cơ sụp đổ năm 2015 là một tính toán sai lầm
ở tầm sử thi.
Một
khi quỹ dự trữ ngoại hối do ngân hàng trung ương Trung
Quốc quản lý ngừng bơm tiền vào các doanh nghiệp nhà
nước đang khốn khó thì thị trường lại rơi trở về
mức độ thấp ban đầu trước khi nhà nước can thiệp.
Tới thời điểm đó, hàng trăm tỉ đô la Mỹ đã bị
phung phí.
Không
có sự kiểm tra chính trị và các cơ chế mang tính thiết
chế để kiểm soát dân chúng đã khuyến khích sự lạm
dụng quyền lực và tham nhũng ở cấp cao, góp phần vào
tình trạng bất bình đẳng trầm trọng, vào những vụ
tùy tiện thu hồi đất đai, những điều kiện lao động
không an toàn, những cơn ác mộng về an toàn thực phẩm,
ô nhiễm chất độc và nhiều vấn đề khác. Trong khi
những nỗ lực chống tham nhũng mạnh mẽ của ông Tập
có thể ngăn chặn một số tình trạng bất công nào đó,
nhưng không cải cách chính trị sâu rộng thì chiến dịch
của ông ta chống lại các quan chức đảng xấu xa cũng
chỉ giống như dã tràng xe cát (**) – nếu không nói đó
chỉ là một mưu đồ loại bỏ các đối thủ chính trị
tiềm tàng. Quản
lý kinh tế cũng bị thiệt hại vì tình trạng mù mờ
tương tự. Tại thời điểm này, có rất ít, thậm chí
không có, sự kiểm soát hoạt động đầu tư bằng tiền
nợ vay của các doanh nghiệp nhà nước hoặc các công ty
có liên kết về chính trị. Khuyết điểm này, với mức
độ mà nó gây ra trong việc phân bổ sai lầm khủng khiếp
nguồn vốn liếng, đang và sẽ là cội nguồn những bất
trắc chính về kinh tế vĩ mô của Trung Quốc.
Khi
kinh tế Trung Quốc trở nên phức tạp hơn, sự thiếu
vắng các quy trình quản trị minh bạch và có trách nhiệm
giải trình, kết hợp với những vụ trấn áp thường
xuyên vào xã hội dân sự, cùng những nỗ lực áp đặt
sự tuân phục và kỷ luật, cuối cùng sẽ thui chột tinh
thần doanh nhân và khả năng sáng tạo. Cho dù chi tiêu của
Trung Quốc vào nghiên cứu và phát triển tính theo tỷ lệ
so với tổng sản lượng quốc dân hiện đang ở mức cao
thì cũng chẳng ích lợi gì, phần lớn khoản đầu tư
này rơi vào khu vực kinh tế công. Nếu các doanh nghiệp
nhà nước vẫn “quá lớn, không thể sụp đổ” thì sẽ
tạo ra một sự trì kéo về sáng tạo. Khi Trung Quốc đã
ra khỏi giai đoạn “đuổi theo” trên con đường phát
triển kinh tế thì việc xử lý sự hạn chế này sẽ trở
nên ngày càng quan trọng hơn.
Thiếu
minh bạch và cởi mở cũng có thể thách thức sự ổn
định chính trị. Khi đương đầu với khủng hoảng, các
nhà lãnh đạo Trung Quốc thường hành động quá đáng,
trấn áp những người bất đồng. Sự lãnh đạo tập
thể và thực tế trong những thập niên vừa qua đã xử
lý vấn đề một cách hợp lý nhưng công cuộc củng cố
quyền lực của ông Tập và sự tôn sùng cá nhân chung
quanh ông có thể khiến cho bất ổn trở nên trầm trọng
hơn.
Các
chính phủ dân chủ, cho dù hỗn độn, đã tỏ ra vững
chãi hơn, bởi vì chúng có được tính chính danh từ chế
độ đa nguyên và cạnh tranh chính trị hơn là từ tăng
trưởng kinh tế cao hoặc từ lời kêu gọi dân tộc chủ
nghĩa. Những quyết định của ngành tư pháp đảo ngược
lệnh cấm tùy tiện về nhập cảnh của Tổng thống
Donald Trump ở Hoa Kỳ hoặc sự hủy bỏ tương tự cố
gắng của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhằm hình sự
hóa người bất đồng chính kiến là những ví dụ cho
thấy sự độc lập mang tính thiết chế đã củng cố
như thế nào tính chất kiên cường của hệ thống chính
trị dân chủ – tính kiên cường mà Trung Quốc không có
được.
Không
giống như câu chuyện chính thức, phần lớn những đặc
điểm của hệ thống cai trị của Trung Quốc mà ông Tập
ra sức xiển dương lại ít liên quan tới ông ta. Chúng là
di sản của các chính phủ quân chủ hoặc chính phủ cộng
sản thời kỳ đầu của Trung Quốc: một hệ thống đề
bạt công chức dựa trên năng lực và thành tích hoạt
động; một khuôn khổ về tổ chức nhằm bảo đảm sự
trung thành từ trên ban xuống mà không gây phương hại
cho phẩm chất của sự điều hành ở địa phương; và
một hệ thống độc đáo tập quyền về chính trị kết
hợp với phân quyền về hành chính và kinh tế.
Nói
cách khác, dù có sức hấp dẫn, mô hình Trung Quốc rất
kém cỏi về nhiều phương diện căn bản và không dễ gì
tái lập ở các nơi khác. Bất kỳ quốc gia nào nghe theo
lời mời mọc của ông Tập mà bắt chước Trung Quốc
trong khi không có một lịch sử tổ chức tương tự thì
sẽ nhanh chóng thất vọng. Trung Quốc không chỉ độc đáo
về chính trị mà còn có một thị trường nội địa to
lớn và ngày càng thịnh vượng, cho phép nước này thu
hút đầu tư nước ngoài theo những điều kiện của
mình.
Vì
thế, cho dù vị hoàng đế mới của vương quốc trung tâm
này có tuyên bố gì đi nữa thì phát triển mang đặc
điểm Trung Quốc thật sự chỉ dành cho Trung Quốc mà
thôi.
P.B.
(*)
Pranab Bardhan là Giáo sư trường Đại học California,
Berkeley. Những tác phẩm gần đây nhất của ông
là “Globalization, Democracy and Corruption: An Indian
Perspective” và “Awakening Giants, Feet of
Clay: Assessing the Economic Rise of China and India”.
(**) Nguyên
văn: Sisyphean task (công việc của Sisyphus). Theo
thần thoại Hy Lạp, Sisyphus hoặc Sisyphos, vua xứ Ephyra,
bị trừng phạt phải đẩy một tảng đá lớn lên đồi
chỉ để thấy tảng đá lăn trở lại xuống chân dốc,
và Sisyphus phải vĩnh viễn làm đi làm lại công việc
này. Điển tích Sisyphus, hoặc công việc của Sisyphus,
được dùng để chỉ những công việc nặng nhọc nhưng
vô ích.
Nguồn:
http://www.viet-studies.net/kinhte/ChinaSolitaryModel_Bardhan_trans.html