Thiền
Lâm
Vietnam
– Cali Today news – Không biết
vô tình hay hữu ý, hai ngân hàng Standard Chartered (Hong
Kong) và Standard Chartered (Anh) đã lần lượt đã bán sạch
64,2 triệu cổ phiếu (tương đương 6,25% vốn) và 89,86
triệu cổ phiếu (chiếm 8,75% vốn) của Ngân hàng Á châu
(ACB) vào những ngày cuối năm 2017 và đầu năm 2018, đúng
vào lúc chỉ số VN-Index của thị trường chứng khoán
Việt Nam tăng đến 48% trong năm 2017 nhưng vẫn chưa chịu
dừng lại ở đó. Và cũng ngay trước ngày 15/1/2018 là
thời điểm mà Luật về các tổ chức tín dụng chính
thức có hiệu lực đối với cơ chế cho phép phá sản
ngân hàng ở Việt Nam.
Một
điểm trùng hợp nữa là cùng thời điểm Standard
Chartered thoái sạch vốn khỏi ACB, trên mạng xã hội bất
chợt lao xao thông tin sắp có một số quan chức nào đó
của ACB bị “nhập kho”. Thông tin này, dù chưa được
kiểm chứng, vẫn làm cho người ta liên tưởng ngay vụ
Bầu Kiên (Nguyễn Đức Kiên) – ông chủ của ACB bị
công an khởi tố và bắt giam vào tháng 8/2012, liên quan
đến cả một số quan chức và cựu quan chức cao cấp.
Trước
Standard Chartered, BNP Paribas cũng vừa thoái toàn bộ 18,68%
vốn của Ngân hàng Phương Đông (OCB) sau 10 năm đầu tư.
Sớm hơn nữa, HSBC cũng đã hoàn tất rút toàn bộ vốn
sau nhiều năm đầu tư vào Techcombank. Ngân hàng
CommonWealth Bank of Australia (CBA) chuyển giao toàn bộ hoạt
động kinh doanh của chi nhánh tại Tp.HCM cho ngân hàng Quốc
tế Việt Nam (VIB). Còn ANZ Việt Nam cũng đã bán toàn bộ
mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam cho ngân
hàng Shinhan Việt Nam, để đến tháng 12/2017, Ngân hàng
ANZ của Úc đã chính thức chia tay thị trường Việt Nam…
Ảnh:
Zing.vn
Từ
giữa năm 2017, ngay sau khi rộ lên thông tin về hàng loạt
ngân hàng nước ngoài rút vốn khỏi Việt Nam cùng những
đánh giá đây là sự chia tay với một thị trường đã
kém hấp dẫn và tính minh bạch chưa cao…, đã xuất hiện
vài lời trấn an rằng hiện tượng này chỉ là những
trường hợp cục bộ và có tính đặc thù của từng
ngân hàng.
Nhưng
“những trường hợp cục bộ” như thế lại mang khuynh
hướng số nhiều, khi ngày càng nhiều doanh nghiệp phương
Tây rút vốn khỏi thị trường tài chính và tín dụng
này.
Không
có lửa làm sao có khói. Đốm lửa ấy đã có thể nhen
nhóm từ năm 2016. Vào thời gian đó, một chuyên gia kinh
tế là ông Lê Đăng Doanh đã khẳng định rằng đang có
một xu thế các doanh nghiệp nước ngoài rút lui khỏi thị
trường tài chính Việt Nam, mà cụ thể là một số quỹ
đầu tư nước ngoài đã bán tháo khoảng 400 triệu đô
la cổ phiếu của họ ở thị trường chứng khoán của
Việt Nam.
Rõ
là đã có một cái gì đó bất bình thường xảy ra trong
thị trường tài chính và ngân hàng ở Việt Nam.
Rất
cần chú ý là hiện tượng trên lại xuất hiện trong bối
cảnh thị trường tín dụng ở Việt Nam đang nổi lên
hai vấn nạn – mà nếu không cẩn thận thì có thể trở
thành quốc nạn: bế tắc nợ xấu và “phá sản ngân
hàng”.
Hiện
thời, số báo cáo chính thức cho biết nợ xấu trong hệ
thống ngân hàng đã lên đến 600 ngàn tỷ đồng. Đó là
chưa kể 300 ngàn tỷ đồng nợ xấu mà Công ty quản lý
tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) đã “xử lý” –
mà thực chất chỉ là hành động mua trên giấy, còn số
nợ xấu này vẫn y nguyên.
Cộng
cả hai khoản nợ xấu trên, hệ thống ngân hàng Việt
Nam đang đầy hãnh diện có đến 900 ngàn tỷ đồng nợ
xấu, chiếm ít nhất 15% tổng dư nợ cho vay vào khoảng
thời gian này.
Những
kỳ họp quốc hội tháng 5 – 6 và tháng 10 – 11 năm 2017
đã chỉ có thể “ra nghị quyết”, nhưng về thực chất
không xử lý được một đồng nợ xấu nào. Cho tới
nay, tiến độ xử lý nộ xấu vẫn vô cùng chậm chạp.
Với
tình trạng nợ xấu vô phương cứu chữa như thế, rõ
ràng hơn bao giờ hết, trong tổng số hơn 30 ngân hàng
thương mại đang tồn tại hiện thời, chắc chắn có ít
nhất 30% có thể phải “đội nón ra đi”, trước khi kế
hoạch “tái cơ cấu ngân hàng” đạt mục tiêu giảm
phân nửa số tổ chức tín dụng hiện có.
Cho
dù Ngân hàng nhà nước hay giới quan chức chính phủ cố
giấu nhẹm danh sách những ngân hàng bị liệt vào dạng
“tái cơ cấu” – mà về thực chất là phải chấp
nhận cho phá sản, dư luận từ nhiều người kinh doanh từ
lâu đã đồn đoán về những cái tên hầu như chắc chắn
nằm trong danh sách đó.
Trên
hết là ba cái tên Ocean Bank – Ngân hàng Đại Dương, GP
Bank – Ngân hàng Dầu khí Toàn Cầu, CB Bank – Ngân hàng
Xây Dựng – đều là những ngân hàng đại án có lãnh
đạo bị bắt vào các năm 2014 và 2015.
Sau
đó là DongABank – Ngân hàng Đông Á, PG Bank – Ngân hàng
Xăng Dầu Petrolimex, Sacombank – Ngân hàng Sài Gòn Thương
Tín.
Ngoài
ra, còn một số ngân hàng có vốn điều lệ nhỏ nhưng
tỷ lệ nợ xấu lại cao, cũng có thể bị phá sản hoặc
sáp nhập như: VietA Bank, BacABank, OCB, SaigonBank, VietCapital…
Đó
là chưa kể việc trong thời gian gần đây đã xuất hiện
một số báo cáo của những tổ chức nghiên cứu quốc
tế, chẳng hạn như hãng tư vấn đánh giá rủi ro
Maplecroft, về độ rủi ro chính trị ở Việt Nam tăng lên
đáng kể. Theo Maplecroft, thậm chí Việt Nam và Thổ Nhĩ
Kỳ còn có độ rủi ro chính trị cao nhất trong số 15
quốc gia được khảo sát.
Thực
tế tranh giành quyền lực và lợi ích của các phe nhóm
chính trị ở Việt Nam, nạn cát cứ quyền lực và sứ
quân địa phương đang ngày càng phổ biến ở đất nước
này, kéo theo quá nhiều vấn nạn về kinh tế và xã hội…
đang là những dẫn chứng không thể phủ nhận được,
bắt buộc giới ngân hàng nước ngoài phải nghiêm túc
xem xét lại việc họ ở lại Việt Nam có còn là phương
án thật sự an toàn cho tiền của họ hay là không.
T.L.
