Vuong Cuong
Thực tế này cho thấy hình thức bầu cử tự thân không phải là yếu tố quyết định mức độ tham nhũng của một quốc gia. Điều quyết định nằm ở chất lượng pháp quyền, năng lực quản trị bộ máy và cơ chế giám sát dòng tiền công, chứ không phải ở việc quốc gia đó theo mô hình đơn đảng hay đa đảng.
Singapore từ khi độc lập đến nay do Đảng Hành động Nhân dân nắm quyền liên tục, và các tổ chức đánh giá dân chủ quốc tế thường xếp Singapore vào nhóm dân chủ khiếm khuyết hoặc dân chủ thấp. Biểu tình, truyền thông và bầu cử đều chịu sự quản lý chặt chẽ của pháp luật nhằm duy trì ổn định chính trị. Dù vậy, Singapore nhiều năm liền nằm trong nhóm quốc gia ít tham nhũng nhất thế giới theo xếp hạng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế.
Ngược lại, không ít quốc gia đa đảng ở Nam Mỹ và châu Phi vẫn duy trì mức tham nhũng cao dù có bầu cử tự do và cạnh tranh chính trị. Thực tế này cho thấy hình thức bầu cử tự thân không phải là yếu tố quyết định mức độ tham nhũng của một quốc gia. Điều quyết định nằm ở chất lượng pháp quyền, năng lực quản trị bộ máy và cơ chế giám sát dòng tiền công, chứ không phải ở việc quốc gia đó theo mô hình đơn đảng hay đa đảng.
Theo Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng năm 2025 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, công bố tháng 2 năm 2026, Singapore đạt 84 trên 100 điểm và xếp thứ ba thế giới, chỉ sau Đan Mạch và Phần Lan. Việt Nam đạt 41 điểm, xếp thứ 81 trên 182 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát, tăng 10 điểm so với mức 31 điểm của năm 2012.
Công thức tham nhũng của Klitgaard và phép tính chi phí lợi ích
Năm 1988, nhà nghiên cứu người Mỹ Robert Klitgaard công bố cuốn Controlling Corruption qua Nhà xuất bản Đại học California, trong đó ông đúc kết hành vi tham nhũng bằng công thức:
Tham nhũng = (Độc quyền + Tùy tiện) - Trách nhiệm giải trình
Công thức này về sau được Ngân hàng Thế giới và nhiều tổ chức quốc tế dùng làm khung tham chiếu khi thiết kế chính sách chống tham nhũng. Một hệ thống hành chính trao cho quan chức quyền quyết định mang tính độc quyền, cho phép họ tùy tiện áp dụng quy định và thiếu cơ chế buộc giải trình thì tham nhũng gần như chắc chắn sẽ xuất hiện.
Cách tiếp cận này gặp gỡ với mô hình kinh tế học về tội phạm mà nhà kinh tế học Gary Becker, người từng nhận giải Nobel Kinh tế năm 1992, từng đề xuất – theo đó một cá nhân sẽ phạm tội nếu lợi ích kỳ vọng lớn hơn chi phí kỳ vọng, và chi phí kỳ vọng bằng xác suất bị phát hiện nhân với mức độ trừng phạt. Áp dụng vào hành vi tham nhũng, quan chức sẽ nhận hối lộ nếu khoản lợi thu về lớn hơn tích số giữa xác suất bị bắt và cái giá phải trả nếu bị phát hiện.
Singapore được xem là trường hợp thành công vì đã đẩy đồng thời xác suất bị phát hiện và mức độ trừng phạt lên rất cao, đồng thời nâng chi phí cơ hội của quan chức bằng chính sách lương cao.
Năm yếu tố tạo ra khác biệt giữa các quốc gia về mức độ tham nhũng
Nghiên cứu thực nghiệm trong khoa học chính trị so sánh và kinh tế học chính trị chỉ ra một số yếu tố cụ thể phân biệt các quốc gia kiểm soát tốt tham nhũng như Singapore với các quốc gia đa đảng nhưng tham nhũng cao ở Nam Mỹ hay châu Phi.
- Yếu tố đầu tiên: xác suất bị phát hiện và mức phạt
Tại Singapore, Cơ quan Điều tra Hành vi Tham nhũng CPIB trực thuộc Văn phòng Thủ tướng, nhưng theo quy định hiến pháp, nếu Thủ tướng từ chối cho phép điều tra một vụ việc thì CPIB có quyền xin phê chuẩn trực tiếp từ Tổng thống, người do dân bầu độc lập với nhánh hành pháp. Cơ quan này từng điều tra cả bộ trưởng đương nhiệm, năm 1986 Bộ trưởng Phát triển Quốc gia Teh Cheang Wan bị điều tra vì cáo buộc nhận hối lộ liên quan đến đất đai và qua đời trước khi bị truy tố chính thức, còn năm 2024 cựu Bộ trưởng Giao thông S. Iswaran nhận tội nhận quà giá trị lớn từ doanh nhân và cản trở điều tra, sau đó bị tòa tuyên án tù.
Luật Phòng chống Tham nhũng của Singapore còn quy định đảo ngược nghĩa vụ chứng minh, theo đó nếu tài sản của quan chức vượt quá thu nhập công khai mà không giải trình được nguồn gốc thì tòa án mặc nhiên coi đó là tài sản bất minh trừ khi quan chức tự chứng minh được điều ngược lại. Ở nhiều quốc gia Nam Mỹ và châu Phi, hệ thống tư pháp bị chính trị hóa hoặc yếu năng lực khiến xác suất bị xử lý thực chất rất thấp. Trong không ít trường hợp, luật chống tham nhũng còn được áp dụng có chọn lọc, chủ yếu dùng để triệt hạ phe đối lập chính trị trong khi phe cầm quyền và người thân được bỏ qua, khiến nguyên tắc thượng tôn pháp luật chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
- Yếu tố thứ hai: chế độ tuyển dụng và đãi ngộ dựa trên năng lực
Singapore trả lương công chức và bộ trưởng theo mặt bằng thị trường, đi kèm hệ thống tuyển dụng và thăng tiến dựa trên năng lực thay vì quan hệ. Cách làm này vừa giảm động cơ tham nhũng vặt để trang trải cuộc sống, vừa khiến quan chức có nhiều thứ để mất nếu bị phát hiện sai phạm. Ở các thể chế yếu, bộ máy công quyền thường vận hành theo cơ chế ban phát lợi ích, trong đó vị trí công chức được phân chia cho người thân hoặc mua bán, buộc người mua phải tìm cách thu hồi vốn bằng nhận hối lộ.
- Yếu tố thứ ba: mức độ phức tạp của thủ tục hành chính
Thủ tục càng nhiều giấy phép con và càng phụ thuộc vào tương tác trực tiếp giữa người dân với cán bộ thì dư địa cho hành vi trục lợi càng lớn. Singapore số hóa gần như toàn bộ dịch vụ công, giảm tối đa khâu trung gian mang tính xin cho, và việc thay thế con người bằng hệ thống máy tính trong xử lý thủ tục làm giảm cơ hội gợi ý hối lộ.
- Yếu tố thứ tư: chất lượng thực thi pháp quyền
Cảnh sát, tòa án và viện kiểm sát bị chi phối bởi tiền bạc hoặc phe nhóm, cùng việc luật pháp không được thực thi bình đẳng, khiến tính cạnh tranh chính trị không tự động chuyển hóa thành kiểm soát tham nhũng, trong khi một chính quyền tập trung quyền lực nhưng duy trì pháp quyền nghiêm minh vẫn có thể kiểm soát tham nhũng hiệu quả.
- Yếu tố thứ năm: mức độ minh bạch trong quản lý tài chính công
Bao gồm quy định kê khai tài sản công khai đối với quan chức và người thân, cùng cơ chế kiểm toán độc lập đối với thu chi ngân sách và các dự án đầu tư công.
Đằng sau năm yếu tố cụ thể này còn là khác biệt về động cơ của giới tinh hoa cầm quyền. Trong cuốn Why Nations Fail, hai nhà kinh tế học Daron Acemoglu và James Robinson phân biệt giữa thể chế mang tính bóc đoạt, nơi giới tinh hoa dùng bộ máy nhà nước để rút ruột tài nguyên và ngân sách cho các nhóm bảo trợ nhằm giữ quyền lực, với thể chế mang tính dung hợp, nơi quyền sở hữu và cơ hội kinh tế được mở rộng cho số đông. Singapore là một đảo nhỏ không có tài nguyên thiên nhiên, phải phụ thuộc vào vốn đầu tư nước ngoài và thương mại toàn cầu để tồn tại, nên giới lãnh đạo nước này xem sự trong sạch và tính dự đoán được của pháp luật là điều kiện sống còn để thu hút đầu tư, khiến việc duy trì một bộ máy liêm chính trở thành lợi ích sống còn của chính giới cầm quyền chứ không chỉ là mệnh lệnh đạo đức.
Về mối quan hệ giữa dân chủ và tham nhũng
Nhà nghiên cứu Hung-En Sung trong công trình công bố năm 2004 trên Tạp chí Crime, Law and Social Change đã phân tích dữ liệu nhiều quốc gia và chỉ ra rằng quan hệ giữa mức độ dân chủ hóa và tham nhũng không phải đường thẳng mà có dạng phi tuyến. Các quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi sang đa đảng, khi thể chế cũ đã lung lay nhưng cơ chế giám sát dân chủ chưa kịp trưởng thành, thường có mức tham nhũng cao hơn cả các quốc gia độc tài ổn định lẫn các nền dân chủ đã củng cố lâu năm. Cùng hướng nghiên cứu, nhà khoa học chính trị Daniel Treisman trong bài viết năm 2000 đăng trên Journal of Public Economics đã phân tích dữ liệu của hàng trăm quốc gia và nhận thấy mức độ dân chủ hiện tại không phải yếu tố có ý nghĩa thống kê mạnh, trong khi thời gian một quốc gia duy trì thể chế dân chủ liên tục, cùng với trình độ phát triển kinh tế và di sản pháp lý thời thuộc địa như truyền thống thông luật Anh, mới là các yếu tố tương quan rõ với mức tham nhũng thấp hơn.
Nhà nghiên cứu Jon S.T. Quah, chuyên gia lâu năm về chống tham nhũng ở châu Á từng giảng dạy tại Đại học Quốc gia Singapore, nhận định rằng các chiến dịch chống tham nhũng mang tính răn đe có thể hiệu quả trong ngắn hạn, nhưng nếu không đi kèm cải cách cấu trúc như hệ thống lương và hạ tầng dữ liệu tài sản theo mô hình mà Singapore đã áp dụng thì nguy cơ tái phát vẫn còn khi chiến dịch lắng xuống.
Cơ chế thân hữu trong đầu tư công và những quốc gia kiểm soát tốt nhất làm khác đi điều gì
Khi một nhóm doanh nghiệp thân hữu thiết lập quan hệ lợi ích chặt chẽ với quan chức có thẩm quyền, hiện tượng thao túng nhà nước có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức. Hồ sơ mời thầu có thể được thiết kế với các tiêu chí về vốn, kinh nghiệm hoặc công nghệ chỉ vừa vặn cho một doanh nghiệp cụ thể, trong khi quy trình trên giấy tờ vẫn đúng luật. Một hình thức khác là chia nhỏ gói thầu để né hạn mức đấu thầu công khai, hoặc viện lý do cấp bách để chỉ định thầu trực tiếp.
Đầu tư công sử dụng ngân sách nhà nước nên người quyết định dự án không phải bỏ tiền cá nhân, khác với doanh nghiệp tư nhân phải cân đo từng đồng vốn. Điều này tạo động cơ khiến dự án càng lớn thì khoản chênh lệch có thể trích lại càng cao, dẫn tới xu hướng lập dự án quy mô lớn rồi liên tục điều chỉnh tăng vốn và kéo dài tiến độ trong khi trách nhiệm cá nhân của người phê duyệt lại mờ nhạt.
Một vấn đề khác là cơ quan phê duyệt dự án, cơ quan quản lý vốn và cơ quan thanh tra kiểm tra thường thuộc cùng một hệ thống hành chính công quyền. Báo chí chính thống chịu sự quản lý và phần lớn chỉ đưa tin sau khi vụ việc đã bị phanh phui bởi cơ quan điều tra, trong khi người dân, những người trực tiếp trả tiền cho các dự án này qua thuế, thiếu công cụ và kênh thông tin kỹ thuật để giám sát tiến độ và chất lượng ngay từ đầu.
Ở các quốc gia kiểm soát tốt như các nước Bắc Âu, Nhật Bản hay New Zealand, cơ quan kiểm toán quốc gia hoạt động độc lập với chính phủ, báo cáo trực tiếp cho quốc hội và công khai toàn bộ kết quả kiểm toán cho công chúng, tách hẳn chức năng giám sát khỏi bộ máy hành chính ra quyết định dự án.
Các quốc gia này áp dụng tiêu chuẩn dữ liệu đấu thầu mở, theo đó hồ sơ mời thầu, danh sách nhà thầu tham gia, giá dự thầu và tiến độ giải ngân thực tế đều được công bố trên nền tảng số công khai, cho phép báo chí và chuyên gia độc lập so sánh chi phí giữa các dự án tương tự ở các địa phương khác nhau.
Luật pháp của các nước này quy định nghiêm ngặt về xung đột lợi ích, buộc quan chức kê khai tài sản và cổ phần của bản thân lẫn người thân, và tự động loại quan chức khỏi quy trình quyết định nếu dự án liên quan đến doanh nghiệp mà người thân của họ có cổ phần hoặc vai trò quản lý. Việc cố tình cài cắm tiêu chuẩn trong hồ sơ mời thầu để chỉ định ngầm cho một doanh nghiệp bị coi là tội hình sự về thao túng đấu thầu chứ không chỉ là vi phạm thủ tục hành chính.
Người ký phê duyệt chủ trương đầu tư phải chịu trách nhiệm cá nhân kể cả sau khi đã nghỉ hưu nếu dự án bị phát hiện sai phạm hoặc lãng phí nghiêm trọng do cố ý làm trái. Doanh nghiệp trúng thầu phải nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng ở mức cao, và nếu chậm tiến độ hoặc chất lượng kém thì nhà nước tịch thu khoản bảo lãnh và cấm doanh nghiệp đó tham gia đấu thầu công trong tương lai.
Bộ máy hành chính cấp phép đầu tư công tại Việt Nam nắm quyền quyết định lớn về quy hoạch đất đai, phê duyệt chủ trương đầu tư và cấp vốn. Khi quy định pháp luật giữa Luật Đất đai, Luật Đấu thầu và Luật Đầu tư công còn chồng chéo hoặc mập mờ, quan chức có không gian giải thích và áp dụng luật mang tính tùy tiện, tạo ra cơ chế xin cho khiến doanh nghiệp phải trích một phần chi phí dự án để được thông qua nhanh. Khoản chi này thường được hạch toán ngầm và dẫn đến chất lượng công trình yếu kém hoặc đội vốn.
Các dự án đầu tư công như cầu đường, đê điều hay hạ tầng công nghệ thông tin có hồ sơ kỹ thuật và dự toán tài chính phức tạp, vượt quá khả năng thẩm định của người dân bình thường. Khi một khoản thất thoát lớn được chia đều cho hàng chục triệu người nộp thuế thì mỗi cá nhân chỉ chịu một phần rất nhỏ và ít có động cơ phản ứng, trong khi khoản lợi ích đó lại tập trung vào một nhóm nhỏ quan chức và doanh nghiệp. Động cơ của nhóm nhỏ này trong việc bảo vệ lợi ích do vậy mạnh hơn nhiều so với động cơ phản kháng phân tán của xã hội.
Việt Nam vận hành mô hình chống tham nhũng dựa trên Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, và trong những năm gần đây đã xử lý kỷ luật và khởi tố nhiều cán bộ cấp cao bao gồm cả ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng và chủ tịch tỉnh. Điểm khác biệt cốt lõi so với Singapore nằm ở việc cơ chế của Việt Nam hiện thiên về xử lý hậu kiểm, tức phát hiện và xử lý sau khi sai phạm đã xảy ra, hơn là phòng ngừa bằng cấu trúc tự động. Việt Nam chưa áp dụng công khai tài sản triệt để như Singapore, và quy định kê khai tài sản công chức hiện vẫn chưa gắn liền với hệ thống dữ liệu ngân hàng và tài chính tập trung để tự động phát hiện dòng tiền bất minh.
Về đãi ngộ công chức, mức lương khu vực công của Việt Nam dù đã qua nhiều đợt cải cách vẫn chưa phản ánh đầy đủ giá trị thị trường và trách nhiệm của vị trí công tác, khác với Singapore nơi lương bộ trưởng và công chức cấp cao tiệm cận khu vực tư nhân. Về tuyển dụng, Việt Nam đang chuyển đổi mạnh sang cơ chế vị trí việc làm nhưng ở một số nơi vẫn chịu ảnh hưởng của quan hệ cá nhân, trong khi Singapore áp dụng chế độ trọng nhân tài gần như tuyệt đối thông qua thi tuyển và học bổng quốc gia. Về thủ tục hành chính, Việt Nam đang đẩy mạnh số hóa dịch vụ công qua Đề án 06 và Cổng dịch vụ công quốc gia cùng cải cách tinh gọn bộ máy giai đoạn 2024 đến 2026, nhưng dư địa rủi ro vẫn còn lớn ở các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, đầu tư công và cấp phép dự án do sự chồng chéo giữa Luật Đất đai, Luật Đầu tư và Luật Đấu thầu kéo dài thời gian ra quyết định.
Sự chồng chéo này còn tạo ra một tâm lý phổ biến trong đội ngũ công chức là co cụm và sợ sai, theo đó nhiều công chức chọn cách trì hoãn hoặc không quyết định để tránh rủi ro pháp lý cho bản thân, khác với kiểu sách nhiễu chủ động để trục lợi thường thấy ở các nước tham nhũng cao. Nói cách khác, nếu Singapore chống tham nhũng chủ yếu bằng cấu trúc hệ thống, tức thiết kế thể chế khiến quan chức không thể và không cần tham nhũng, thì Việt Nam hiện vẫn chống tham nhũng chủ yếu bằng quyết tâm chính trị và xử lý vi phạm sau khi sự việc đã xảy ra.
Phân chia tham nhũng theo Tư bản - Cộng sản là cách chia theo hệ quy chiếu Mác - Lê, không phải khoa học chính trị hiện đại
Trong khoa học chính trị và kinh tế học, tư bản hay kinh tế thị trường là cách gọi một phương thức tổ chức kinh tế dựa trên quyền sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, quyền tự do hợp đồng và sự vận hành của cung cầu, chứ không phải tên gọi một chế độ chính trị. Karl Marx là người phổ biến và hệ thống hóa thuật ngữ chủ nghĩa tư bản trong tác phẩm Tư bản luận xuất bản năm 1867 để mô tả và phê phán phương thức sản xuất mà ông phân tích. Các quốc gia như Mỹ, Pháp, Đức hay Nhật Bản chưa từng tự gọi thể chế của mình là chế độ tư bản trong hiến pháp hay các văn kiện lập quốc, mà xác định mình là nền cộng hòa, nền dân chủ đại diện hoặc nhà nước pháp quyền.
Cách chia thế giới thành hai phe tư bản và cộng sản bắt nguồn từ chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx, vốn nhìn lịch sử loài người qua các hình thái kinh tế xã hội nối tiếp nhau từ phong kiến sang tư bản rồi xã hội chủ nghĩa và cộng sản. Cách phân loại này quy toàn bộ đặc điểm phức tạp của một quốc gia, từ văn hóa, pháp luật cho đến cấu trúc quyền lực, về một tiêu chí duy nhất là quyền sở hữu tư liệu sản xuất thuộc về ai. Đây là hệ quy chiếu riêng của chủ nghĩa Marx - Lenin chứ không phải phương pháp phân loại thể chế của khoa học chính trị hiện đại.
Khoa học chính trị đương đại, với các tên tuổi như Samuel Huntington, Robert Dahl hay Daron Acemoglu – phân loại các quốc gia dựa trên cấu trúc quyền lực và năng lực quản trị thay vì thuật ngữ tư bản. Theo mức độ dân chủ và cạnh tranh quyền lực, các quốc gia được xếp vào nhóm dân chủ với bầu cử tự do và phân chia quyền lực giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhóm độc tài hoặc toàn trị với quyền lực tập trung và không có cạnh tranh chính trị thực chất, hoặc nhóm thể chế lai có bầu cử nhưng quy trình không hoàn toàn tự do và pháp luật dễ bị thao túng.
Về mô hình kinh tế vận hành thực tế, thay vì gọi chung là tư bản, các nhà kinh tế phân biệt mô hình thị trường tự do như Mỹ và Anh nơi vai trò nhà nước trong nền kinh tế tương đối nhỏ, mô hình thị trường xã hội theo kiểu Bắc Âu như Đan Mạch, Thụy Điển hay Đức nơi thị trường tư nhân mạnh đi kèm hệ thống thuế cao và phúc lợi rộng, và mô hình tư bản nhà nước như Singapore hay Trung Quốc hiện nay nơi thị trường vận hành nhưng các tập đoàn nhà nước nắm cổ phần chi phối tại nhiều ngành chiến lược.
Sự khác biệt về hệ quy chiếu này còn thể hiện rõ ở cấu trúc hiến pháp. Hiến pháp của các nền dân chủ tư bản như Mỹ, Pháp, Đức hay Nhật Bản thường mở đầu bằng những tuyên bố khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, và coi các đảng phái chính trị hay tập đoàn kinh tế chỉ là các thực thể cạnh tranh quyền lực trong một khung khổ luật lệ chung, không đảng phái hay giới tài phiệt nào được hiến định quyền cai trị vĩnh viễn hay đứng trên pháp luật. Ảnh hưởng của giới tài phiệt tại các nước này, thông qua các hoạt động như vận động hành lang hay tài trợ bầu cử, là hiện tượng thực tế vận hành và bị điều chỉnh bởi luật riêng, chứ không được luật hóa thành đặc quyền trong hiến pháp.
Ngược lại, hiến pháp của các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Bắc Triều Tiên hay Cuba ghi nhận trực tiếp vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản đối với nhà nước và xã hội như một điều khoản cố định, không phải kết quả của từng kỳ bầu cử cạnh tranh. Việc ghi nhận quyền lãnh đạo tuyệt đối vào hiến pháp đồng nghĩa với việc loại bỏ khả năng thay thế đảng cầm quyền bằng con đường bầu cử phổ thông, khiến quyền lực của đảng trở thành một định chế pháp lý tối cao khó bị đảo ngược bằng cơ chế bên trong hệ thống.
Lập luận cho rằng chế độ cộng sản vận hành vì dân còn chế độ tư bản chỉ vì giới tư bản đó là tư duy lẫn lộn giữa tuyên bố lý tưởng của một hệ thống với động cơ thực tế của những người vận hành nó. Lý thuyết lựa chọn công mà nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel James M. Buchanan phát triển chỉ ra rằng khi nhà nước xóa bỏ sở hữu tư nhân và tập trung toàn bộ đất đai, vốn và tài sản vào tay bộ máy quản lý, quyền quyết định kinh tế trên thực tế rơi vào tay một lực lượng quan liêu cụ thể. Nếu thiếu cơ chế giám sát và đối lập độc lập, tài sản được tuyên bố là của toàn dân trên lý thuyết có thể trở thành tài sản do một nhóm quan chức thực tế định đoạt và hưởng lợi.
Quan điểm cho rằng kinh tế thị trường chỉ phục vụ nhà tư bản, bỏ qua cơ chế cạnh tranh cốt lõi của thị trường cũng là quan điểm khiếm khuyết bởi một doanh nghiệp không thể tồn tại nếu không tạo ra sản phẩm hay dịch vụ mà người tiêu dùng tự nguyện bỏ tiền mua – Nhà kinh tế học Adam Smith từng chỉ ra rằng chính động cơ tư lợi của người sản xuất, chứ không phải lòng tốt của họ, mới là thứ buộc thị trường phải phục vụ nhu cầu xã hội.
Thêm nữa, ngày nay ở các quốc gia theo nền kinh tế thị trường thì thông qua các quỹ hưu trí và thị trường chứng khoán, một phần lớn cổ phần của các tập đoàn tại nhiều nước phát triển cũng thuộc sở hữu của hàng chục triệu người lao động và tầng lớp trung lưu chứ không chỉ tập trung trong tay một nhóm nhỏ.
Phần lớn các quốc gia tư bản phát triển hiện nay, đặc biệt là các nước Bắc Âu như Đan Mạch, Thụy Điển và Na Uy, không vận hành theo kiểu thị trường tự do tuyệt đối mà kết hợp cạnh tranh thị trường với hệ thống phúc lợi xã hội mạnh, bao gồm y tế và giáo dục phần lớn miễn phí cùng trợ cấp thất nghiệp, được tài trợ từ nguồn thuế do khu vực kinh tế tư nhân tạo ra.
V.C.
Nguồn: FB Nghiên Cứu Lịch Sử