Đoàn
Hưng Quốc
“Tại
Đại hội toàn quốc lần thứ 19 của đảng Cộng sản
hồi tháng 10 vừa qua, chủ tịch Tập Cận Bình đã trình
bày hệ thống cai trị của Trung Quốc như một hình mẫu
để các quốc gia khác mô phỏng theo. Các nhà lãnh đạo
muốn “thúc đẩy sự phát triển trong khi vẫn duy trì
nền độc lập của mình” nên nhìn vào Trung Quốc như
“một lựa chọn mới”, ông Tập nói”
[1].
Câu
hỏi đặt ra là Trung Quốc phát huy mô hình đó như thế
nào ra quốc tế?
Tuy
chưa có tài liệu phân tích từng bước chiến lược của
Bắc Kinh trong lãnh vực này, nhưng diễn biến tại nhiều
nước đang mở mang ở Đông Nam Á, Nam Á, Phi Châu và tại
những nước công nghệ ở Âu và Úc Châu cho thấy một
kế sách lâu dài đang được định hình.
Nhưng
trước hết, thế nào là mô hình Trung Quốc?
“Mô
hình Trung Quốc có một số đặc điểm chủ yếu, bao gồm
chế độ cai trị chuyên chế dựa trên ý niệm về sự
ổn định; chính sách công nghiệp và tài chính do nhà
nước dẫn dắt; đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng; công
nghiệp hóa nông thôn hậu thuẫn bởi nông nghiệp quy mô
nhỏ; và sự mở cửa cho thương mại và công nghệ nước
ngoài”
[2].
Bắc
Kinh không áp dụng toàn bộ nhưng chọn lọc vài chủ điểm
trong mô hình trên mang ra áp dụng một cách thuần nhất
vào các nước đang phát triển như sau:
- Chế độ cai trị dựa trên ý niệm về sự ổn định (tức là cộng sản, độc tài hay dân chủ đều o.k. miễn là có nền chính trị ổn định để buôn bán với Trung Quốc).
- Chính sách công nghiệp và tài chính do nhà nước dẫn dắt (tức là kinh tế do nhà nước dẫn dắt càng nhiều thì càng thuận lợi cho Trung Quốc thao túng).
- Đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng (tức là tạo thuận lợi để Trung Quốc đầu tư vào hạ tầng của mỗi quốc gia trong kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ).
- Mở cửa cho thương mại và công nghệ nước ngoài (tức là tạo thuận lợi cho Trung Quốc khai thác tài nguyên và bán hàng tiêu dùng).
Chủ
trương của Trung Quốc là không can thiệp chính trị và
quân sự nhằm vận động quảng bá cho một ý thức hệ.
Nếu diễn giải theo ngôn từ của Tập Cận Bình thì lập
trường này trái ngược với Tây Phương vốn quảng bá
sự phát triển của nền dân chủ tư do (liberal democracy)
qua các tổ chức quốc tế như IMF, World Bank, NATO, và các
tổ chức phi chính phủ như Human Rights Watch, Ký giả không
biên giới, v.v. khiến nhiều quốc gia mất đi sự độc
lập của mình trong đó có các nước Đông Âu, Thổ Nhĩ
Kỳ, Iran, Phi Luật Tân (Phillipines), Mã Lai (Malaysia), Thái
Lan, Cam-Bốt, Bangladesh, Pakistan... Chỉ khi nào không bị
xáo trộn đột ngột về chính trị thì các quốc gia mới
có ổn định xã hội để phát triển kinh tế.
Chủ
trương nói trên không chỉ nhằm hấp dẫn các nhà độc
tài vốn không muốn bị áp lực phải thay đổi, mà còn
dựa trên kinh nghiệm quá khứ của chính Trung Quốc qua
cuộc Cách Mạng Văn Hóa đẫm máu, và bài học hiện tại
từ các cuộc Cách Mạng Hoa Nhài dẫn đến thảm họa
nhân đạo ở Syria, Lybia và kinh tế trì trệ ở Ai Cập,
Tunesia… Nói một cách khác, Bắc Kinh ngày nay không chống
đối nền dân chủ nhưng phản đối việc can thiệp thực
hiện nền dân chủ như một mô hình đồng nhất (one size
fits all) lên mọi quốc gia mà không quan tâm đến các đặc
thù văn hóa, lịch sử và xã hội.
Tiêu
biểu cho lập trường này là quan hệ giữa Trung Quốc với
Miến Điện: tuy trước đây Bắc Kinh hậu thuẩn cho chế
độ quân phiệt, nhưng khi cánh dân chủ thắng thế thì
Hoa Lục sẵn sàng làm việc với bà Aung San Suu Kyi để
tiếp tục trao đổi mậu dịch. Khi bà Aung San Suu Kyi bị
Tây Phương lên án mạnh mẽ vì không bảo vệ cho thiểu
số đạo Hồi người Rohinya, Bắc Kinh im lặng thúc đẩy
cho một giải pháp giữa Miến và Bangladesh, qua đó nâng
cao vai trò của Trung Quốc vào lúc Âu-Mỹ cô lập
Naypyidaw.
Nhìn
ra tương lai, hiện Trung Quốc đang ủng hộ nhà cầm quyền
độc tài tại Venezuala, nhưng nếu Tổng Thống Maduro bị
lật đổ thì Bắc Kinh sẵn sàng làm đối tác thương mại
lớn nhất để tiếp tục đầu tư và mua dầu từ chính
quyền mới.
Tuy
nhiên Bắc Kinh sẽ từ bỏ chính sách không can thiệp nếu
quyền lợi chiến lược bị xâm phạm, chẳng hạn như
Trung Quốc không thể nào chấp nhận cho Bắc Hàn hay Việt
Nam thay đổi thể chế. Hoa Lục cũng sẵn sàng dùng quyền
lực nhọn (sharp power) theo cách tung tiền chi phối nền
chính trị nội bộ của Úc và Tân Tây Lan (New Zealand)
nhằm thay đổi lập trường của hai nước này về Biển
Đông theo hướng có lợi cho Trung Quốc; hay dùng áp lực
kinh tế ra quốc tế nhằm cô lập Đài Loan và Đức Đạt
Lai Lạt Ma; hoặc dùng mậu dịch để trừng phạt Na-Uy,
Nhật, Nam Hàn và Phi Luật Tân khi có những va chạm về
địa chính trị hay nhân quyền.
Một
điểm cần quan tâm là sau Chiến Tranh Lạnh nhiều nước
tuy độc tài nhưng vẫn phải khoát tấm bình phong dân chủ
vì cần giao dịch với Âu-Mỹ. Nhưng chỉ trong hai năm gần
đây, Tổng thống Duterte của Phi và Hunsen của Cam Bốt
dựa vào chiếc dù thương mại và chi viện của Trung Quốc
để không còn dấu giếm mà ra mặt đối kháng với Tây
Phương nhằm thẳng tay đàn áp trong nước. Diễn biến
tương tự nhưng ở góc độ khác biệt khi Edorgan của Thổ
Nhĩ Kỳ, Viktor Orban của Hung Gia Lợi (Hungary) và Duda của
Ba Lan chống đối mô hình dân chủ tự do (liberal
democracy) của Tây Âu thay vào đó bằng mô hình dân chủ
phi tự do (illiberal democracy) mang màu sắc Hồi giáo hay dân
tộc chủ nghĩa.
Nói
chung là sức mạnh kinh tế của các nước dân chủ không
tăng trong khi Trung Quốc nhảy vọt. Lượng hàng hoá sản
xuất từ Mỹ chiếm 50% toàn cầu năm 1945, đến nay còn
16% và dự trù chỉ 11% trong khi Hoa Lục sẽ là 30% vào
2050 [3]. Trái với nhận định của những chuyên gia Tây
Phương, mô hình phát triển của Trung Quốc (tóm tắt bằng
một chữ “sale”) có mãnh lực thu hút tưởng chừng
không thể cưỡng lại để các nước đang phát triển có
“một
lựa chọn mới” nhằm
ổn định chính trị và phát triển thành những nền kinh
tế chư hầu (satellite economies) trong kế hoạch Nhất Đới
Nhất Lộ của Bắc Kinh.
***
[1]
[2] Trích nguyên văn từ:
http://www.viet-studies.net/kinhte/ChinaSolitaryModel_Bardhan_trans.html
- Người
dịch: Huỳnh
Hoa.
[3]
Destined for war: Can America and China Escape Thucydides’s trap? –
Tác giả: Graham Allison.
Đ.H.Q.
Tác
giả gửi BVN