Phạm
Chí Dũng
Người
dân ở những tỉnh vùng sâu vùng xa và đầy dẫy đói
nghèo sẽ khốn khổ hơn vì tăng thuế. Hình minh họa:
Getty Images.
Với
tư cách là người đứng đầu Bộ Tài chính – cơ quan
tham mưu chính cho Chính phủ CSVN về các sắc thuế đạp
lên đầu dân trong ít nhất hai năm qua, ông Đinh Tiến
Dũng phải bị cách chức ngay.
Vẫn
“cắm mặt” tăng thuế!
Bất
chấp rất nhiều phản ứng của người dân, doanh nghiệp,
giới chuyên gia trong thời gian qua về âm mưu tăng thuế
giá trị gia tăng (VAT) từ 10% lên 12%, điều quái gở và
cực kỳ tàn nhẫn là Bộ Tài chính vẫn khăng khăng bảo
lưu đề xuất này.
Mới
vào đầu năm 2018, Bộ Tài chính đã chuyển Bộ Tư pháp
thẩm định dự thảo luật sửa đổi các luật về thuế
trước khi báo cáo Thủ tướng xem xét trình Quốc hội
vào năm 2018. Trong dự thảo mới vẫn lồ lộ hiện hình
đề xuất tăng thuế VAT từ 10% lên 12% và tăng theo lộ
trình, mỗi năm tăng thêm 1% cho tới khi bằng 12%.
Còn
nhớ vào đầu năm 2017, trong lúc nền kinh tế Việt Nam
lao vào năm suy thoái thứ 9 liên tiếp khiến rất nhiều
gia đình phải thắt lưng buộc bụng bởi thu nhập ngày
càng eo hẹp và đồng tiền ngày càng mất giá, Bộ Tài
chính lại tìm cách “móc túi” tuyệt đại đa số công
dân và người nghèo bằng một bản dự thảo sửa đổi
Luật thuế bảo vệ môi trường với 8,000 đồng đánh
vào 1 lít xăng. Một Thứ trưởng của Bộ này là Đỗ
Hoàng Anh Tuấn còn trơ tráo đến mức tuyên bố về “thuế
bảo vệ môi trường” là “được lòng dân hơn”!
Vào
giữa năm 2017, khi tung ra đề xuất tăng thuế VAT, hầu
hết các lý do của Bộ Tài chính nêu ra như “thuế VAT ở
Việt Nam còn thấp so với các nước”, tăng thuế VAT để
bảo đảm an toàn tài chính”, thậm chí “tăng thuế VAT
để tạo công bằng” đã bị dư luận và giới chuyên
gia mổ xẻ và phản bác dữ dội, cho đó chỉ là những
ngụy biện cho một nền ngân sách “hành là chính”,
đang mau chóng rỗng túi và do đó phải “thu cùng diệt
tận”…
Nhiều
phân tích đã làm rõ rằng ngay mặt bằng thuế VAT hiện
thời (khi chưa tăng) của Việt Nam đã thuộc loại cao
nhất thế giới, còn “an toàn tài chính” thực chất
chỉ là bảo đảm cho ngân sách có đủ tiền để trả
cho đội ngũ 2,8 triệu công chức mà trong đó có ít nhất
“30% không làm gì cả mà vẫn lãnh lương”, và tất
nhiên không thể không nói tới việc Chính phủ và Bộ
Tài chính chỉ “cắm mặt” nghĩ đến việc tăng thu mà
hoàn toàn chẳng đoái hoài đến việc giảm chi, đặc
biệt là mục chi thường xuyên…
Còn
vào đầu năm 2018, Bộ Tài chính viện ra lý do gì để
tăng thuế VAT?
Hụt
thu FTA!
Theo
giải thích của cơ quan chuyên tìm cách “móc túi” dân
này, tăng thuế trong nước là nhằm bù đắp hụt do cắt
giảm thuế theo các cam kết mà Việt Nam đã ký trước
đó.
Theo
Bộ Tài chính: “hiện nay Việt Nam đã ký kết 10 Hiệp
định Thương mại Tự do (FTA) và sẽ có hiệu lực trong
giai đoạn từ nay tới năm 2020. Việc thực hiện các cam
kết FTA khiến hàng rào thuế quan bị dỡ bỏ, làm nguồn
thu ngân sách nhà nước bị ảnh hưởng. Cụ thể, ngân
sách nhà nước sẽ hụt thu do giảm thuế nhập khẩu
trong năm 2018 khoảng 30,150 tỷ đồng; năm 2019 hụt thu
khoảng 36,340 tỷ đồng; năm 2020 hụt thu 43,965 tỷ đồng.
Ngoài ra, thuế suất bình quân của toàn bộ hàng hóa nhập
khẩu cũng giảm dần hàng năm theo lộ trình: Năm 2015 giảm
còn bình quân 4.75%, năm 2016 còn 3.74%, và năm 2018 giảm
còn 2.98%”.
Hàng
loạt dấu hỏi lớn nổi lên là vì sao trước đây khi ồn
ào khoe thành tích chạy theo phong trào ký FTA, Bộ Tài
chính – một thành viên chủ chốt trong hoạt động đàm
phán với các đối tác nước ngoài – lại chỉ thuần
túy vẽ vời những lợi ích mà các FTA sẽ mang lại, chứ
không hề đề cập – ít nhất trên phương diện công
khai – về thủ đoạn sẽ “hồi tố” vào chính người
dân của mình bằng cách tróc thuế đầu dân một khi các
FTA không mang lại hiệu quả như mong muốn? Vì sao chỉ
đến lúc kết quả thực hiện các FTA bị “đổ nợ”,
Bộ Tài chính mới vội vã tham mưu cho chính thể độc
đảng đè đầu dân thu thuế để “bù đắp khó khăn
ngân sách”? Vậy với vai trò là cơ quan tham mưu chủ
chốt, Bộ Tài chính có vô trách nhiệm đến mức đã góp
phần và hiện thực “đổ nợ” ấy?
Trong
thực tế đến cuối năm 2016, Việt Nam đã ký kết, thực
thi và đang đàm phán 16 FTA. Trong số này, có 10 FTA đã
thực thi (sáu FTA trong số này với tư cách là thành viên
ASEAN, bốn FTA còn lại với Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc,
và EEC). Hai FTA đã kết thúc đàm phán là TPP và Hiệp
định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA). Bốn
FTA đang đàm phán là Hiệp định Đối tác kinh tế toàn
diện khu vực (RCEP), FTA ASEAN – Hồng Kông, FTA với Israel
và với Khối Thương mại tự do châu Âu (EFTA).
Trong
đó, chỉ có hai FTA của Việt Nam với Mỹ và châu Âu là
còn xuất siêu được – lần lượt là $25 tỷ và $20 tỷ
mỗi năm. Còn thặng dư xuất siêu với Nhật bằng 0,
trong khi ngay cả Hàn Quốc, tưởng là “dễ ăn”, nhưng
Việt Nam lại phải nhập siêu đến $20 tỷ vào năm 2016
và có thể đến $25 tỷ vào năm 2017.
Còn
với Trung Quốc thì khỏi nói: con số nhập siêu chính
ngạch lên đến $20 - $30 tỷ/năm, chưa kể phần tiểu
ngạch khoảng $20 tỷ nữa, tổng cộng đến $40 - $50 tỷ
nhập siêu mỗi năm dành cho Việt Nam.
Thói
quen phụ thuộc nhập khẩu từ Trung Quốc đã trở nên
quá khó bỏ. Nó không chỉ cột chặt giới doanh nghiệp
nhỏ và vừa, mà còn xiềng xích giới quan chức “ăn
dày” của Việt Nam – những người có thẩm quyền ký
hạn ngạch nhập hàng từ Trung Quốc. Tình thế càng trở
nên nên khốn quẫn khi tại một số cuộc hội thảo về
đầu tư, người ta cho biết giới doanh nghiệp Trung Quốc
có thói quen chi dưới gầm bàn “thoáng nhất”!
Không
cần nhắc lại, ai cũng biết giới quan chức Việt thuộc
loại “ăn đủ” nhất trên thế giới.
Trong
lịch sử buôn bán hai chiều với các quốc gia trên thế
giới, Việt Nam lại bị phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều
nhất. Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã bị biến thành thị
trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Trung Quốc,
chiếm tỉ trọng khoảng 20% tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu Việt Nam.
Phải
chăng Bộ Tài chính, cùng với Bộ Công thương và một số
bộ ngành và tỉnh thành khác, đã “ăn đủ” với doanh
nghiệp Trung Quốc đến mức khiến FTA của Việt Nam với
“người đồng chí tốt” này rơi vào thảm cảnh nhập
siêu kinh hoàng như thế?
Bắt
dân uống “thuốc độc”!
Nếu
Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đang bị dư luận
xã hội cáo buộc về liên đới trách nhiệm với vụ
nhập hàng triệu viên thuốc ung thư giả mà có thể đã
khiến nhiều bệnh nhân ung thư phải chết đến hai lần,
hậu quả mà Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng gây ra
khi đề xuất tăng thuế VAT (giá trị gia tăng) từ 10% lên
12% từ năm 2019 cũng có thể gây tác hại ghê gớm không
kém tính độc dược của thuốc ung thư giả.
Mưu
đồ tăng thuế VAT lại xảy ra trong bối cảnh dân tình
Việt ngày càng khốn khó trong một nền kinh tế đã rơi
vào thảm trạng suy thoái đến năm thứ 10 liên tiếp, một
xã hội bị acid đậm đặc bởi căn bệnh tham nhũng không
còn cách gì cứu chữa. Thuế chồng thuế, chồng lên đôi
vai gầy guộc của người nghèo. Hàng triệu bệnh nhân,
vốn đã bị các bệnh viện “bóp cổ bóp họng” và
“không có tiền thì chỉ có chết”, sẽ phải nuốt
nước mắt vào lòng với biểu viện phí chất cao như
núi…
Thói
vô tâm, vô cảm và vô trách nhiệm của giới quan chức
Bộ Tài chính đã tích tụ từ nhiều năm qua và mang tính
hệ thống.
Ngay
trước mưu đồ tăng thuế VAT, Bộ Tài chính đã tham mưu
cho chính quyền âm thầm, hoặc lén lút tăng thuế sử
dụng đất phi nông nghiệp gấp 3-4 lần mà không thông
báo trước cho dân.
Trong
cơ cấu thu ngân sách quốc gia, tiền thuế sử dụng đất
chiếm khoảng 9%, tương đương khoảng 100 ngàn tỷ đồng.
Nếu đồng loạt tăng thuế sử dụng đất ở các tỉnh
thành, ngân sách sẽ có thể “móc túi” dân gấp ít ra
vài ba lần con số trăm ngàn tỷ đó.
Trong
hai năm 2016 và 2017, Chính phủ được tuyên xưng “liêm
khiết, kiến tạo và hành động” của Thủ tướng
Nguyễn Xuân Phúc đã phải “mộng du” với những di họa
tài chính khủng khiếp để lại từ thời “phá chưa
từng có” của Thủ tướng đời trước là Nguyễn Tấn
Dũng: Tháng Ba năm 2016, một báo cáo của Chính phủ gửi
Quốc hội thừa nhận: “Tổng thu ngân sách nhà nước
không đủ bảo đảm nguồn chi thường xuyên và trả nợ.
Toàn bộ chi đầu tư đều phải dựa vào nguồn vay nợ
của Chính phủ. Nợ công tăng, áp lực trả nợ lớn”.
Cũng
là lúc mà số thu hơn một triệu tỷ đồng của ngân
sách không thể nào bù đắp cho số chi còn hơn hẳn thế,
hàng chục tỷ đô la phải trả nợ nước ngoài hàng năm,
cùng cơn gào thét “đòi ăn” theo thói ăn quen nhịn
không được của 63 “bao tử” ở các tỉnh thành…
“Chúng
bóc lột dân ta đến tận xương tủy”
Tăng
giá và thuế má là một trong những biểu đạt cực đoan
nhất trong giai đoạn cuối của một cơ chế cưỡng bức
và cưỡng đoạt. Sự tồn vong của đảng cầm quyền
cũng lệ thuộc không khác hơn, nếu xét trên phương diện
những thiệt hại về chính trị trên trường quốc tế
và ngay trong lòng dân.
Xã
hội cùng dân chúng lâm vào cảnh thảm thương đọa đày
– chẳng khác gì bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí
Minh cách đây 72 năm đã mô tả về thực dân Pháp: “chúng
bóc lột dân ta đến tận xương tủy”.
Một
cán bộ thu thuế ở Sài Gòn nói toạc ra “Cứ thu thế
này thì chẳng mấy chốc dân sẽ bùng”.
Nếu
dân Sài Gòn mà còn “bùng”, dân các tỉnh khác, đặc
biệt những tỉnh vùng sâu vùng xa và đầy rẫy đói
nghèo – sẽ ra sao?
Phản
ánh từ nhiều người dân ở các tỉnh đói nghèo ấy đều
cho biết: “Túi chẳng còn gì để nộp thuế nữa. Nếu
nhà nước cứ tróc nã thì dân chỉ còn cách hoặc trốn
đóng hoặc phản ứng tự vệ thôi”.
P.C.D.
Tác
giả gửi BVN. Bài đã đăng trên Người Việt.
