(Mênh mông thế sự để gió
cuốn đi số 29)
Tương
Lai
Để
rồi “anh hùng di hận kỷ thiên
niên” nối tiếp câu thơ trên!
Đây là lời Nguyễn Trãi. Phải chăng đây cũng là sự
đúc kết về tính bi hùng của lịch sự từ sự trải
nghiệm của chính sự nghiệp lẫy lừng và cuộc đời bi
hận của người anh hùng. Quy luật nghiệt ngã này rồi
sẽ vận vào cái kết cục bi thảm cuộc đời của người
đứng vào hàng số một trong những danh nhân Việt Nam từ
cổ chí kim.
Hãy
đặt sự đúc kết này vào trong toàn cảnh của bài “Quan
hải” (Đóng cửa biển)* mới
thấy hết được tư tưởng và những dự phóng từ một
tầm vóc thiên tài gửi vào những tứ thơ bất hủ:
Thuyền
có bị lật mới biết rằng dân chẳng khác gì nước
Cậy
vào địa thế hiểm trở cũng khó bằng mệnh trời
Họa
phúc đều có duyên do, đâu phải chỉ một ngày
Anh
hùng để lại mối hận nghìn năm
Xưa
nay ý trời đất thì vô cùng tận
(Phúc
chu thuỷ tín dân do thuỷ,
Thị
hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Hoạ
phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh
hùng di hận kỉ thiên niên.
Kiền
khôn kim cổ vô cùng ý)
Tầm
vóc thiên tài của Nguyễn Trãi khiến cho ông có đôi mắt
vượt lên phía trước khi ông được giao viết chiếu chỉ
của Lê Thái Tổ “Cấm các đại
thần tổng quản cùng các quan ở Viện, Sảnh, Cục tham
lam lười biếng” và “Phàm
người có chức vụ coi quân trị dân đều phải dụng
phép công bằng, làm việc cần mẫn, thờ vua hết trung,
đối dân hết hòa, bỏ thói tham ô. Trừ tệ lười biếng;
bè đảng riêng tây phải bỏ, thái độ cố phạm phải
chừa; coi công việc của quốc gia làm công việc của
mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo của chính
mình…”.
Chỉ
có điều, thiên tài, thật sự là thiên tài, vĩ nhân đích
thực là vĩ nhân thường đơn độc. Nguyễn Trãi vượt
hẳn lên người đương thời, và vì vậy ông là đối
tượng của sự ghen ghét, thù hận và tìm cách hãm hại.
Kết thúc chiến tranh, người anh hùng dân tộc Nguyễn
Trãi được phong đến tước hầu, hàm thượng thư, tham
dự việc cơ mật, rồi cũng chính bậc thang danh vọng ấy
đã ẩn chứa trong lòng nó hiểm họa không sao tránh khỏi.
Có lẽ ông đã dự cảm được điều đó:
Cửa
nhà càng rộng, thế càng phiền
(Gương
báu răn mình, bài số 16)
Đã
biết cửa quyền nhiều hiểm hóc
Cho
hay đường lợi cực quanh co
(Tỏ
chí mình, bài số 19)
Không
phải ai khác mà Lê Thái Tổ vì nghe lời xiểm nịnh đã
bắt giam người công thần số một từng nằm gai nếm
mật với mình là Nguyễn Trãi. Cho dù là khai quốc công
thần, nhưng với phẩm tính trung thực và dứt khoát không
khoan nhượng vói những kẻ chỉ ưa xiểm nịnh thì Nguyễn
Trãi làm sao tránh khỏi sự căm tức của lũ quyền thần
chuyên nghề nịnh hót. Chẳng những thế khó mà được
triều đình trọng dụng. Trong một thư gửi cho bạn
Nguyễn Trãi đã nói về cái nết “ngông” ấy trong tính
cách của ông thời trẻ. Lúc về già, sống giữa triều
đình lúc nhúc lũ nịnh thần, ông vẫn giữ lấy cái bản
ngã đáng trọng ấy và cũng do đó ông càng lắm kẻ thù!
Bình
sinh vu khoát chân ngô bệnh
Vô
thuất năng y lão cánh gia
(Bình
sinh vu khoát thật là bệnh của ta
Không
thuật gì chữa được, mà già lại thêm nặng)
(Bài
“Ngẫu thành” làm vào thời bị thất sủng)
Cái
quy luật tàn nhẫn “Thỏ khôn
chết, chó săn bị mổ làm thịt; chim bay cao hết, cung tốt
vất bỏ; nước địch phá xong mưu thần bị giết”
(Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh;
cao điểu tận, lương cung tàn; địch quốc phá, mưu thần
vong) đâu chỉ xuất hiện
bên Tàu từ thời Xuân Thu với Văn Chủng và thời Tây
Hán với Hàn Tín! Hầu như các triều đại phong kiến
Việt Nam cũng không thiếu những thảm trạng “điểu
tận cung tàn”,
chim hết thì xếp cung nỏ vào
kho. Những công thần chính trực không mấy khi đi trọn
đường đời, mà thường nửa đường đứt gánh.
Càng
trung chính thì càng dễ đứt gãy, càng phải gánh chịu
nhiều lời thị phi từ những kẻ mà lòng dạ “khó
hiểu như vực sâu”, miệng lưỡi
“sắc nhọn hơn chông mác”
như Nguyễn Trãi đã từng chiêm nghiệm. Oái oăm thay, sống
dai dẳng nhất lại là bọn nịnh thần khéo luồn cúi để
được sủng ái, giỏi kéo bè kết cánh để hãm hại
người ngay.
Việc
Lê Sát, một khai quốc công thần cùng với Nguyễn Trãi
và nhiều người khác sát cánh cùng Lê Lợi từ cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn cho đến khi toàn thắng được phong
Huyện thượng hầu, công hàng thứ nhất, đến triều Lê
Thái Tông được phong làm tể tướng, lại là người ưa
nịnh, hống hách và tham quyền, đã tìm cách diệt Nguyễn
Trãi cũng là chuyện dễ hiểu. Nhưng đến lượt Lê Sát
lại bị Lê Thái Tông giết cũng lại là chuyện không lạ.
Những người đứng ra can ngăn cũng bị trị tội. Sử
còn chép họ “cùng bị truy đoạt
tấm biển "công thần" được ban cho từ thời Lê
Thái Tổ”.
Vậy
là, vào thế kỷ XV dẫu là thiên tài Nguyễn Trãi cũng
không thể nào vượt qua được cái nan đề của lịch sử
vừa nhắc ở trên. Nguyễn Trãi chưa thể nào biết được
vào thế kỷ của mình, xã hội Châu Âu trung cổ đang
trăn trở chuyển mình. Đó là thời đoạn lịch sử của
trào lưu phục hưng văn hóa với những Bocasse, Petrarque,
trước đó là tên tuổi của Dante “người
khổng lồ” của nước Ý với
Thần khúc
(Divina Commedia) được xem là “Kinh
thánh của thời trung cổ” và
sau đó là Thomas More người Anh, với tác phẩm Utopia,
được xem là “nhà cách tân tư
tưởng vĩ đại”. Nguyễn Trãi
của chúng ta chưa hề biết đến họ, nhưng sử học thì
nhận biết ở ông “có sự tập
hợp của nhiều tính cách nhân vật lớn như thế”
(Văn Tạo). Phải chăng vì vậy Nguyễn Trãi được phong
tặng là danh nhân văn hóa thế giới năm 1980.
Bi
kịch thảm khốc mà nhà văn hóa lớn của Việt Nam phải
gánh chịu chình là vì thời đại của Nguyễn Trãi hàm
chứa trong nó những nghịch lý: Một là thời thế đã
thay đổi, cần phải đổi mới, nhưng đề xướng đổi
mới lại là xu hướng Trung Quốc
hóa, phản dân tộc (đại diện
là các nho thần Lê, Phạm). Hai là cái truyền thống thì
bảo thủ (mất tính năng động buổi đầu nhà Trần) tuy
rằng nhờ biết nhân danh dân tộc đã nêu lên được một
nguyên lý tiến bộ: “Nam, Bắc
khác nhau không cần bắt chước nhau”.
Ba là xã hội văn hóa khủng hoảng mà không có đường
lối tháo gỡ. Hồ Quý Ly tuy đã kiên quyết chống giặc
Minh xâm lược, bước đầu gợi ra quan điểm giải
Hán hóa về
văn hóa và giáo dục song điệu
kèn lại ngập ngừng với những giải pháp nửa vời.
Vậy
là, đúng như nhận định của học giả đáng kính Trần
Quốc Vượng “Nguyễn Trãi tắm
mình trong một bầu không khí văn hóa, ở đó đang diễn
tiến cuộc đấu tranh gay gắt giữa “Truyền thống” và
“Đổi mới”, cuộc đấu tranh gay gắt giữa xu hướng
“Trung
Quốc hóa”
và xu hướng “giải
Trung Quốc hóa”
trong nội bộ các thế lực cầm quyền và giới trí thức,
văn hóa Đại Việt”. (Văn
hóa Việt Nam. Tìm tòi và suy ngẫm.
NXB Văn học, 2003, tr.728)
Với
sứ mệnh phát huy truyền thống
dân tộc và thân dân thời Lý-Trần,
trong Bình Ngô đại cáo
Nguyễn Trãi đã dõng dạc và đanh thép chỉ rõ: “Đại
Việt ta thuở trước, Vốn xưng văn hiến đã lâu, Sơn hà
cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác”.
Như vậy là đã xác định được sự “dị
thù” giữa nước ta với nước
láng giềng phương Bắc cả về cương vực, cả về văn
hóa. Tuy nhiên xét trên tổng thể về triều đại, nhất
là từ thời Lê Thánh Tông (1460-1497) chính trị thì củng
cố chế độ trung ương tập quyền theo hướng chuyên
chế, tư tưởng thì theo hướng độc tôn nho giáo, bài
xích Phật, Đạo và tín ngưỡng dân gian. Vì thế, ngày
càng rơi vào quỹ đạo của văn hóa phong kiến Trung Quốc
cho dù Nguyễn Trãi từng cố tạo dựng một bước đột
phá. Đương nhiên, sức sống của dân tộc tạo nên môt
lực nội sinh đã cưỡng lại quyết liệt. Vả chăng, cái
thực tế ngoại diên bao giờ cũng vượt lên trên cái duy
ý chí của tầng lớp thống trị. (Xem thêm Trần Quốc
Vượng, sách đã dẫn).
Chính
vì vậy, vượt hẳn lên những người đương thời,
Nguyễn Trãi có những cống hiến lớn cho đất nước khó
có danh nhân nào trong lịch sử nước ta có thể so sánh
được. Riêng một điều này đã cho thấy sự độc đáo
của ông: Nguyễn Trãi là nhân vật lịch sử duy nhất đã
tự tay mình viết ra những tư tưởng chính trị, quân sự
và đạo lý sống của chính mình. Đáng tiếc là sau thảm
án của người anh hung, nhiều tác phẩm của ông đã bị
bọn quyền thần thắng thế trong triều thiêu hủy.
Sự
đúc kết về bi kịch “họa phúc
hữu môi phi nhất nhật, anh hùng di hận kỷ thiên niên”
của ông với ý nghĩa khái quát sâu sắc có giá trị như
một quy luật lịch sử.
Mà thật ra, đâu phải đợi đến thảm án Lệ Chi viên
thời Lê Thái Tông, ngay thời Lê Thái Tổ, vị đệ nhất
công thần Nguyễn Trãi đã thất sủng và đã có lần bị
vua hạ lệnh bắt giam, đến khị được tha thì cũng
không được trao những trọng trách để thực thi tài
kinh bang tế thế. Ông viết điều ấy trong bài “Ngẫu
thành”: “Hỷ đắc thân nhân
quan hưu lãnh” (Mừng được
thân nhàn mà chức quan lại rỗi)!
Chỉ
kẻ nịnh bợ và có tài kéo bè, kết cánh như Lê Sát mới
được nắm trọn quyền bính. Chính Lê Sát đã có lần
đàn hặc, khiển trách Nguyễn Trãi, người mà ông ta biết
rằng tài năng và đức độ vượt hẳn mình và những
người đang nắm giữ những trọng trách trong triều. Lê
Sát là “khắc tinh” của Nguyễn Trãi như nhận định
của một nhà sử học! Nhận định ấy ngẫu nhiên lại
rọi thêm chút ánh sáng để hiểu về diện mạo của
những kẻ hoạt đầu, trí trá nham hiểm, lá mặt lá trái
trong mưu toan leo lên cao hơn nữa trên bậc thang danh vọng
bằng nhiểu thủ đoạn hạ gục đối thủ có bản lĩnh
và quyền uy hơn mình! Quả thật lịch sử là một nhân
tố mà thiếu nó thì khó soi tỏ cái đang diễn ra, bởi
lẽ “một nền văn minh bao giờ
cũng là một quá khứ, một quá khứ sống động nào đó.
Do đó, lịch sử một nền văn minh là sự tìm tòi trong
những tọa độ cũ, những tọa độ mà ngày nay vẫn còn
giá trị”
(Fernand Braudel, Tìm
hiểu các nền văn minh). Chính từ
những sự kiện đang xảy ra mà tìm về “những
tọa độ” có tác dụng gợi
lên một cái nhìn tham chiếu đặng hiểu sâu cái đương
đại.
“Bằng
tầm nhìn của một vĩ nhân, Nguyễn Trãi từ lâu đã hiểu
được nghịch lý ấy: Mấy bài thơ mở đầu cho Ức
Trai thi tập đã cho thấy điều
đó. Xin dẫn ra đây mấy câu:
Binh
thư thân thích bán ly tinh
Vạn
tử tàn khu ngẫu nhất sinh
Vãng
sự không thành Hòe quốc mộng…
(Ký
cữu Dịch trai Trần công)
(Sau
cuộc binh hỏa, thân thích đã rơi rụng một nửa
Trải
muôn chết thân tàn ngẫu nhiên còn sống
Việc
cũ xưa đã thành giấc mộng Hòe quốc…)
Vậy
là đúc kết quy luật của lịch sử ở tầm vóc của một
vĩ nhân khác xa việc mượn lịch sử một cách lố bịch
của kẻ xu thời muốn ăn theo cái xu thế ngỡ là đang
thượng phong để kiếm chác chút đỉnh khi vốn liếng
chính trị chẳng còn gì qua bao toan tính bẩn thỉu để
rồi “bừng con mắt dậy thấy
mình tay không”! Của đáng tội,
lịch sử không thiếu gì những kiểu người như vậy.
Thì chẳng phải Nguyễn Trãi đã mắng thẳng vào mặt lũ
giảo hoạt, quay quắt bon chen, nịnh bợ để cốt leo lên
cao đó thôi: “Sở dĩ có tai nạn
ấy chính là tự lũ các ông. Các ông chỉ là loại người
thích sưu cao thuế nặng để vơ vét của dân cho nhiều”.
Theo cách nói hôm nay là “ăn của
dân không chừa một thứ gì”!
Nguyễn Trãi dám mắng bọn quyền thần sâu mọt vì ông
đã thật sự nêu gương sáng trong suốt thời kỳ “nằm
gai nếm mật” với Lê Lợi, rồi
vào buổi “đảng ngụy ngầm
gian, theo hùa [với giặc Minh] mà
bán nước” cho đến khi bị
thất sủng “triều quan chẳng
phải, ẩn chẳng phải”, cho dù
“Bữa ăn dù có dưa muối, Áo
mặc nài chi gấm là” (Nói chí
mình, bài số 3) vẫn ung dung tự tại “Hài
cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh, Áo bồ quen cật vận xênh
xang” (Tức sự, bài số 4) .
Nguyễn Trãi chỉ có một điều canh cánh trong lòng không
bao giờ nguôi:
Suốt
đời ôm mãi lòng lo trước
Chăn
lạnh choàng vai thức suốt đêm
Bình
sinh độc bão tiêu ưu niệm
Tọa
ủng hàn khâm dạ bất miên
(Hải
khẩu dạ bạc hữu cảm, bài số 9)
“Đối
với triều đình nhà Lê lúc bấy giờ, sau “bốn biển
đã yên lặng”, Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực
quá, thanh liêm quá! Nguồn gốc sâu xa của thảm án vô
cùng đau thương của Nguyễn Trãi bị tru di ba họ là ở
đó” (Phạm Văn Đồng). Duyên
do của họa phúc đâu chỉ phải một ngày mà nếu bằng
vào sự nghiệp và vận mệnh của Nguyễn Trãi thì quả
là vì ông “nhân nghĩa quá, trung
thực quá, thanh liêm quá”. Đúng
như thế, nhưng cũng cần nói rõ thêm là trong lịch sử,
những người phải gánh chịu nỗi oan khiên như Nguyễn
Trãi không chỉ có một, Nguyễn Trãi là bi kịch thảm
khốc nhất, được nói đến nhiều nhất vì ông vượt
hẳn lên trên những người khác về đức độ và tài
năng của một anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa thế
giới. Nhiều oan khiên trong suốt tiến trình lịch sử là
do cái nan đề của lịch sử nhân loại vẫn tồn tại từ
buổi Nguyễn Trãi tham chính và dai dẳng cho đến tận hôm
nay chứ không chỉ trước 1945!
Một
khi quyền lực được tập trung vào độc quyền cá nhân
nhà vua (thiên tử) thì cái ông “con
trời” ấy tùy theo lợi ích của
chính nó, có khi do tính cách cá nhân, trình độ hiểu
biết, dục vọng riêng tư mà định đoạt mọi vấn đề
của đất nước. Cùng với cái đó, sự chuyển giao quyền
lực giữa các chủ thể quyền lực theo cơ
chế nối truyền hoặc gia đình,
dòng tộc còn nhân dân, lũ “dân
đen con đỏ” gọi là “bách
tính” là viên đá lát đường
cho các cá nhân đại diện cho gia đình, dòng tộc trong
cuộc tranh bá đồ vương để leo lên ngai vàng, cái ghế
quyền lực cao nhất. Chính cái nan đề đó khiến cho tất
thảy mọi triều đại đầy rẫy những “tiếng
oan dậy đất, án ngờ lòa mây”
không sao kể xiết. Có chăng chỉ ít hay nhiều tùy thuộc
một phần vào thời thịnh trị so với thời suy vong, với
minh quân hay với hôn quân trị vì mà thôi.
Đúng
là, sự vĩ đại thuộc về Nguyễn Trãi, còn những hạn
chế thuộc về điều kiện lịch sử như Võ Nguyên Giáp
đã khẳng định nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh anh
hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi.
Gợi lại hình ảnh của Nguyễn Trãi với câu đúc kết ở
tầm triết lý mang tính quy luật cốt để có
cái nhìn tham chiếu như vừa nói với những gì đang diễn
ra trong thời đại đau thương của dân tộc
trong buổi nhá nhem, tranh tối tranh sáng đầy nhiễu nhương
với câu khái quát của Nguyễn Phú Trọng: “Nhìn
tổng quát đất nước có bao giờ được thế này không?”
và lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã kịp thời phản bác
lại thật tường minh: “Nhìn
tổng quát đất nước có bao giờ bi đát thế này
không?”.
Bi
đát thể hiện tập trung nhất ở chế
độ toàn trị phản dân chủ ngày càng bộc lộ rõ cái
nan đề của lịch sử đã phân
tích ở trên lại đang được phơi bày lộ liễu. Câu
chuyện “tiếm quyền” cứ ngỡ chỉ là sản phẩm của
chế độ thần quyền thời phong kiến với các “con
trời” muốn cho ai sống thì
được sống, ai chết thì phải chết thì nay đang hiện
diện một cách trắng trợn trong xã hội ta hiện nay. Hai
từ “nhân dân” đầy rẫy trên mặt báo, và là điệp
khúc mỹ miều được nói đến từ cửa miệng các quan
chức từ chóp bu cho xuống đến nơi “thôn cùng xóm
vắng”. Thế nhưng trên thực tế thì nhân
dân hoàn toàn đứng ngoài mọi quyết định của bộ máy
quyền lực do Đảng hoàn toàn áp đặt.
Việc “trưng cầu dân ý”
được ghi vào Hiến pháp 1946 bị cố tình lờ đi suốt
70 năm qua.
Câu
mở đầu cho Khế ước xã hội
của J.J. Rousseau
ra đời năm 1762, đánh dấu
một cột mốc lớn trong tư duy của con người tự nhận
thức về quyền làm người của
mình: “Con người sinh ra đã là tự do, vậy mà
ở khắp mọi nơi, con người lại đang bị cùm kẹp”
vẫn đang là một giục giã cho tất thảy những người
đang bị cùm kẹp hiện nay.
Thành tựu của văn minh loài người với sự ra đời nhà
nước pháp quyền với Montesquieu
và nguyên lý “Nhà nước của
dân, do dân, và vì dân” của
Abraham Lincoln đã bị đánh tráo. Đúng hơn là bóp méo và
xuyên tạc khi thêm cái đuôi “xã
hội chủ nghĩa” vào để dễ
lừa mị.
Cùng
với việc đặt cương lĩnh của Đảng lên trên hiến
pháp, gần đây với các “Quy định 105” và “Quy định
102” dấn thêm một bước trắng trợn hơn việc chà đạp
lên những thành tựu của văn minh vừa nói. Trên thực tế
thì điều đó vẫn đã diễn ra trong nhiều thập niên,
nhưng với việc nói toẹt tra là cấm không được có ý
nghĩ và nói đến “tam quyền
phân lập, xã hội dân sự” cho
thấy triều đại Nguyễn Phú
Trọng với sự dẫn dắt và áp lực nặng nề, tức thời
của tư tưởng và đường lối Tập Cận Bình:
độc trị hành pháp, “đảng chỉ
huy súng” ở Trung Quốc đã vượt
xa những tiền nhiệm như Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu,
Nguyễn Văn Linh.
Sự
đàn áp khốc liệt những người yêu nước chống Trung
Quốc xâm lược, đòi dân chủ dân sinh diễn ra dồn dập
song song với cuộc thanh trừng nội bộ mỗi lúc một tàn
bạo và hối hả hơn. Xin dẫn ra đây một nhận định
vừa tìm thấy trên mạng:
Vietnam
– Cali Today News – Tổng
bí thư Trọng đã như thể “lột xác” kể từ tháng
Mười Một năm 2017, đặc biệt sau cuộc gặp với Tập
Cận Bình của Trung Quốc vào ngày 12/11/2017. Gần một
tháng sau cuộc gặp vừa lộ diện vừa cực kỳ bí mật
đó, cựu ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng đã bị
còng tay. Và đúng hai tháng sau cuộc gặp đó, Đinh La
Thăng đã phải đối diện với một mức án nặng chưa
từng có đối với một quan chức cấp cao. Chỉ mới vào
ngày thứ tư của phiên tòa xử “Thăng – Thanh”, Viện
Kiểm sát tối cao đã xuất hiệ n với đề nghị mức án
14 – 15 năm đối với cựu ủy viên bộ chính trị Đinh
La Thăng và chung thân đối với Trịnh Xuân Thanh. Với sự
xuất hiện khá sớm như thế, có khả năng phiên tòa trên
– dự định kéo dài khoảng 2 tuần – sẽ được rút
ngắn hơn.
Chính
vì thế “Theo
quan điểm của tôi, Việt Nam không phải là một quốc
gia pháp quyền”, nữ luật sư
Petra
Schlagenhauf đã khẳng định. Cho nên, một
phiên tòa công bằng ư?
Theo quan điểm của vị nữ luật sư ở Berlin, CHLB Đức,
điều này sẽ không thể có. Suốt hai tháng ở Hà Nội,
thân chủ của bà không hề được tiếp cận với sự
trợ giúp pháp lý, nhóm biện hộ Việt Nam của người
này có quá ít thời gian để nghiên cứu bản cáo trạng.
Bà là người bị từ chối cho nhập cảnh trước khi bắt
đầu phiên xử. Rồi chuyên gia am hiểu sâu sắc Việt
Nam, giáo sư Carl Thayer cũng đưa ra một kết luận tương
tự: “Ở Việt Nam không có những
cuộc điều tra độc lập”.
Theo nghĩa này, mọi cáo buộc đều
mang tính chính trị. Nhưng vụ tố
tụng này có nghĩa như thế nào? Đằng
sau đó phải chăng là cuộc chiến quyền lực giữa các
phe phái trong Đảng Cộng sản? Một bức tranh rõ nét khó
được đưa ra trong những tình trạng không minh bạch đến
vậy.
Trong
bài này chưa tiện phân tích sâu về sự kiện Đinh La
Thăng, nhưng lập luận sau đây của một người tự giới
thiệu “chỉ là gã dân đen, bằng
những quan sát của riêng mình, tôi thấy những điều sau
đây” không phải là không gợi
lên những suy ngẫm:
Tàu
Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2, của Petro Việt Nam
(PVN) vào tháng 5 năm 2011. Thăng là người quyết liệt,
ngay lập tức, không úp úp mở mở theo kiểu “tàu lạ”
“tàu quen”, cho họp báo, chỉ rõ tọa độ, tố cáo
thẳng mặt Trung Quốc xâm phạm lãnh hải, tại thềm lục
địa Việt Nam, bùng lên ngọn lửa chống Tàu trên khắp
lãnh thổ Việt Nam. Vụ này, Tàu đau lắm. Đó là tội
thứ nhất của Thăng với bọn Tàu.
Thăng
là người đầu tiên dám đập bàn mắng chửi tổng thầu
Trung Quốc, bố láo, láu cá láu tôm, tại công trường
Cát Linh – Hà Đông. Thêm tội thứ hai của Thăng với
Tàu.
Thăng
là người cách chức hàng loạt những cán bộ cao cấp
ngành Đường sắt Việt Nam thân Tàu, tay sai của Tàu, mua
đầu máy, toa xe, phụ tùng đểu, toàn đồ phế thải của
Tàu với giá cắt cổ, nhưng không dùng được – Tàu hậm
hực lắm . Đó là tội thứ ba của Thăng.
Thăng
là người công khai ủng hộ Bob Kerry làm chủ tịch quỹ
tín thác Đại học Fulbright tại thành phố Hồ Chí Minh.
Bọn Tàu cho đó là ý đồ thoát Trung. Tàu điên lên. Tàu
càng điên tiết khi không còn người Việt nào căm thù Đế
quốc Mỹ, mà lại chỉ căm thù Tàu. Đó là tội thứ tư
của Thăng.
Petro
Vietnam (PVN) đang ở tuyến trước trên Biển Đông, đối
đầu, trực diện với Trung Quốc, bị lôi ra cắt tiết
vào lúc này. Ai hưởng lợi nếu không nói là Tàu. Từ
nay về sau, PVN còn dám to miệng tố cáo nữa không? Có
dám đối đầu không? Có dám xông lên tuyến trước
không? PVN suy sụp là loại được một hiểm họa. Trung
Quốc giờ đây một mình một chợ trên Biển Đông, hưởng
lợi to trong vụ án này.
Nếu
một mai lỡ Thăng vào Bộ Tứ, thì hiểm họa thoát Trung
là hiển nhiên. Bọn Tàu nham hiểm, thủ đoạn, nên đã
phải tính trước, không để Thăng yên. Giết Thăng! Tàu
thêm vây cánh. Mỹ và phương Tây mất đi một người bạn
quan trọng tại Việt Nam.
Chỉ
cần một “tội”, bọn Tàu đã không tha. Đằng này
Thăng mắc tới bốn tội với Tàu….
Làm
quan có ông nào là không tham ô chấm mút. Tham ô như Thăng
thì bao nhiêu người không tham ô trong giới quyền chức
Việt Nam. Làm việc và lãnh đạo sao không mắc sai lầm.
Sai lầm như Thăng thì nhiều người còn sai lầm nghiêm
trọng hơn. Sao không mang ra cắt tiết, xẻ thịt.
Tôi
không tin Đảng giành lại được chiến trường quần
chúng sau đại án Đinh La Thăng. Trái lại, Đảng còn mất
thêm, gây thù chuốc oán, suy sụp lòng tin, mất đoàn kết
nội bộ. Đảng càng suy yếu, Tàu càng hưởng lợi. Chỉ
có Đất Nước Việt Nam là nạn nhân”.
Sẽ
quá dài và không cần thiết nếu cứ đi mãi vào cái mê
hồn trận của những phiên tòa với những bản án bỏ
túi theo một quyết định đã có từ trước của người
đang thâu tóm mọi quyền lực vào một tay mình. Chưa bao
giờ mà sự dằn vặt của nhà văn Nguyễn Khải từng
được dẫn ra trong bài viết về sự ngột ngạt của môi
trường xã hội của tôi cách đây nhiều năm lại giằng
xé trái tim tôi như những ngày vừa qua:
“Một môi trường xã hội ngột ngạt vì cái
bóng quyền lực phủ lên tất cả, quyết định tất cả,
thì số phận những cá nhân sẽ ra sao”? (Nguyễn
Khải, Đi tìm cái tôi đã mất).
Trong
những ngày này quyền lực không còn là “cái
bóng” nữa mà đã hiển hiện
lên bằng nhà tù và những phiên tòa nhân danh luật pháp
xã hội chủ nghĩa. Mà vì vậy, sự đúc kết mang tầm
triết lý của Nguyễn Trãi hơn 600 trước đây “họa
phúc hữu môi phi nhất nhật”
cũng đang là hiện thực bằng xương bằng thịt của
những bản án phi luân kết tội rất nặng những người
phụ nữ Việt Nam yêu nước, kiên cường trong khát vọng
tự do cho bản thân mình, cho con mình như Mẹ Nấm, Trần
Thị Nga và bao nhiêu người khác nữa đang bị hành hạ
trong nhà tù chế độ xã hội chủ nghĩa này.
Cũng
nên nói thêm rằng, chính vào lúc đúc kết về quy luật
tàn nhẫn của cuộc sống, Nguyễn Trãi vẫn đủ bản
lĩnh và tinh thần lạc quan để ước ao làm sao xóa đi
những thảm trạng giày vò cuộc sống của con người,
muốn đem nồi nước hoa lan gội
cho khắp cả thế gian sạch sẽ:
Nguyện
bả lan thang phân tứ hải
Tùng
kim tảo quyết cựu ố dân
(Đoan
ngọ nhật)
Bởi
vậy ông răn dạy con cháu phải sống có đạo lý:
Khó
khăn phải đạo cháo càng ngon
(Bảo
kính cảnh giới, bài số 22)
Liệu
Nguyễn Trãi có rơi vào ảo tưởng? Thì chẳng phải
Albert Einstein từng cảnh báo “Quyền
lực thường muốn thu nạp những người vô đạo đức”
nên cũng chính Einstein đòi hỏi: “Hãy
có can đảm để đại diện một cách nghiêm túc những
niềm tin đạo đức trong một xã hội đầy rẫy những
kẻ vô liêm sỉ”.
Dù
sao thì cũng cần nói rằng, làm sao sống mà không có đủ
dũng khí để giữ vững một niềm tin về công lý và
chính nghĩa trong cái xã hội đang bì thao túng bởi những
kẻ vô liêm sỉ!
Ngày
13.1.2018
T.
L.
Tác
giả gửi BVN.