Hạ
Đình Nguyên
Nhân đọc bài viết “Gặp gỡ đầu tuần hôm nay", đăng trên các báo Đảng của tác giả Trương Tấn Sang, tôi bỗng nhớ đến lời bài ca của Trịnh Công Sơn: “Đi về đâu hỡi em, khi trong lòng không còn chút nắng”.
Ấy
chỉ là tâm trạng riêng tôi hay ai đó, chứ ở anh Tư
Sang thì nắng hãy còn đầy, mà rực rỡ hay không thì
chưa biết, nhưng biểu hiện ở bài viết với khí văn
ngồn ngộn những ý tưởng lớn, như là bài khai bút có
tính thông điệp đầu năm mới như thường lệ, mà anh
Tư khiêm tốn – vì không còn là Chủ tịch nước chăng
– nên gọi là “Gặp gỡ đầu tuần” cho nhẹ
nhàng hơn, hơi hám một cuộc hẹn hò đâu đó.
Như
mô tả, đương nhiên là mùa xuân Hà Nội rất đẹp theo
truyền thuyết, anh Sang thơ thẩn đi dạo trong “Hoàng
thành” Hà Nội, vốn là Cố đô văn vật ngàn năm,
và cũng là Thủ đô rực rỡ hôm nay, nơi một thời anh
từng ngồi ở ngôi vị cao nhất nước. Anh thăm thú những
thắng cảnh - di tích, khi “sáng sớm tinh sương”,
lúc “chiều tà nắng tắt” với nhiều cảm xúc
hoành tráng, như khi còn ở ngôi cao. Nhân lúc hứng thú,
với vài dòng mở đầu bài viết cho cuộc nhàn du, anh lôi
tuột một mạch, đưa người đọc lao vào lịch sử, ngồn
ngộn sự kiện các triều đại được gọi là thời
phong kiến Đinh Lê Lý Trần … làm người đọc có thể
tối mắt. Sau đó anh dắt tay người đọc quay về hiện
tại, gây một cảm giác ngỡ ngàng đột ngột, ngoài dự
kiến:
“Nếu
tình hình tham nhũng và suy thoái không được loại trừ,
Đảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về
đâu?”.
Hình
như anh muốn gọi hồn dân tộc để về phù trợ, thúc
đẩy cái gì đó cho hôm nay?
Thật
sự hiếm hoi trong hàng ngũ cấp cao của Đảng lãnh đạo,
lại có người yêu môn lịch sử đến như anh. Tôi bâng
khuâng tự hỏi: Sao anh xưa không là một giáo viên lịch
sử nhỉ?! Dù sao cũng rất đáng hoan nghênh, nhưng liệu
anh có lạc đường không đây, con đường mà Đảng của
anh đã vạch? Đầu tôi hơi bị đảo lộn, vì nhớ lại
mấy câu thơ của Lê Đức Thọ, với tư cách một lãnh
tụ khét tiếng, đã xác định hướng đi cho Đảng Cộng
sản Việt Nam, dứt khoát và triệt để:
“Ta
đi đào hố chôn đế quốc,
Chôn
bọn chó săn, bọn chúa đất
Chôn
cả thời xưa đã tắt rồi.
Dựng
lại cơ đồ trong tiếng hát,
Cho
mùa xuân nở có hoa tươi…”
Mấy
câu thơ ngắn ngủi, nhưng hàm súc những quyết tâm sấm
sét.
Nhưng
“đế quốc” thì đã không chôn được rồi, nay
nó bành trướng dữ dội ngay trước mũi. Núi liền núi
sông liền sông với hàng đống hợp đồng toàn diện và
chiến lược. Bọn chúa đất cũ lạc hậu đã bị
chôn cả rồi. Các vị chúa đất mới đã nổi lên
nhiều như nấm, dưới các hình thái mới tân kỳ hơn,
tính toán kỹ hơn, càng to đẹp với những “biệt phủ”
đó đây, ăn đứt thời xưa. Mà toàn diện cái thời
xưa cũng đã tắt rồi. Sao anh Tư, cũng có một
thời ngồi ở ngôi cao trên ấy, nay lại khơi dòng cảm
xúc đến nao lòng những oái oăm của dòng lịch sử đã
qua? Và, bao mùa xuân đã nở những đóa hoa tươi mà
chính anh Tư cùng nhiều đồng chí của mình, đã từng
“tương ánh hồng”, cùng nhau rực rở trên hội
trường Ba Đình, các hội trường trong cả nước đó
đây, vào những dịp đăng quang các thứ, lễ lạc, hội
hè. Chẳng phải cái ước ao của nhà thơ lãnh tụ rất
tiếng tăm ấy, như đã thành tựu gần trọn vẹn nửa
thế kỷ, mà anh Tư vinh hạnh là người trong cuộc đó
sao? Vẫn luôn có hoa tươi dù trên sự đổ nát, khi xuân
về.
Bài
viết chào xuân năm nay của anh Tư, lại khởi duyên ngay
với mùa đại án nở hoa, rất nhiều quan chức cấp
trung và cao của Đảng đã đứng trước vành cong cong
móng ngựa, người dân thường không thể nhớ hết tên.
Có những kẻ mừng vui, lại có những người mang nét u
hoài. Cái u hoài ở chỗ nơi Tòa án không hoa, mà trước
đây trên sân khấu hội trường thì đầy hoa rực rỡ
cũng với những nhân diện ấy. Tôi thấy nhiều
hình ảnh anh Tư trao hoa hay nhận hoa gì đấy, cũng cười
tươi như hoa vậy. (Khứ niên kim nhật thử môn trung/
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng – Thôi Hộ)
Đang
dạo bước thưởng xuân ở Hà thành hoa lệ, bỗng dưng
anh dẫn người đọc đi vòng vèo vào lịch sử. Anh nói
nhiều thứ, về lẽ đời lẽ đạo, các lẽ hưng vong,
suy thịnh của các triều đại. Vẫn cố đọc, những
mong được anh soi sáng điều chi hôm nay. Cuối cùng, hóa
ra anh bảo, người người hãy vỗ tay cho to về cuộc
chống tham nhũng do Tổng Bí thư Trọng làm Nguyên soái, mà
anh vẫn tiếp tục là người trợ lý âm thầm cần mẫn!
Đồng ý thôi, tham nhũng thì toàn dân không ưa rồi, nhưng
“ta đánh ta”, tức tham nhũng đánh tham nhũng, thì
người dân không phe phái, vỗ tay theo kiểu cách nào đây?
Đừng nhanh chóng gắn vào miệng dân hai chữ hồ hởi
hưởng ứng. Có đấy, nhưng lại rất nặng lòng ưu tư.
Cách
đây không lâu, thời kỳ quần đảo Trường Sa bị Trung
Quốc xâm chiếm, dân tình sôi động thì Đảng trấn áp,
bảo: “Hãy để cho Đảng lo”. Nay Đảng đánh
Đảng, chuyện nồi da xáo thit, lò Đảng nấu Đảng, đến
“củi tươi khô gì cũng cháy”, thì dân nỡ lòng
nào mà xía vô, mà cố xía cũng không được, vì lẽ Đảng
không thích! Chỉ được phép vỗ tay thôi sao, và không
được có ý kiến? Người dân không còn ngoan như thế
nữa, dù bị coi thường. Nhưng lòng dân bao la, đứng trên
các loại lợi ích phe phái mà ngẫm nghĩ. Tất cả “chúng”
– kẻ đánh và người bị đánh – đều là con em của
họ mà ra, nên không khỏi ngậm ngùi. Không nô nức hùa
theo, mà dân tự hỏi: Cái gì đã tạo nên cái lò nấu
khốn cùng ấy?
Những
nam, những nữ, mới ngày nào xinh tươi hớn hở, được
Đảng – chứ không ai khác – dìu dắt đào tạo, tung hê
khen tặng, gởi gắm niềm tin với hoa choàng rực rỡ, nay
héo úa tả tơi, đẫm nước mắt trước vành cong của
quan tòa. Cái hào khí và ánh quang vinh mà Đảng trao cho,
lại đổi màu, bèo nhèo những lời xin xỏ và khóc lóc
thậm tệ. Và anh Tư, đã nhồi thêm những lời mắng mỏ
cay nghiệt, nhưng rất hay: “Lòng tham vô đáy,
lợi dụng kẽ hở của chính sách, lạm dụng quyền lực
để móc túi nhân dân, rồi chính những kẻ đó và bè
cánh lại tìm mọi cách để "chui sâu, leo cao"
hơn, nhằm bảo đảm cho khối tài sản ăn cắp đó tiếp
tục sinh sôi, nảy nở?”.
Người
ta tự hỏi, cái bối cảnh nào để các thứ ấy sản
sinh? Tham nhũng là nguyên nhân đầu tiên, hay nó chỉ là
sản phẩm? Sao bọn này giỏi thế? Lợi dụng kẽ hở,
lạm dụng quyền lực, móc túi người dân,
chui sâu leo cao… Và chúng từ đâu ra? Cũng toàn là
bậc anh tài nhá nhem của Đảng. Hàng hàng hoàng tử, thái
tử, thế tử và các loại thê tử đông như kiến ở các
ngóc ngách những cấp những ngành, chẳng thể do thế lực
thù địch nào cài cắm. Và cái khung sườn giàn giá nào
để cho chúng nương tựa bò leo ngang dọc đến thế? Toàn
cảnh là bức tranh mang màu hắc ám của sự xung đột
giữa những cái xấu nội tại không được gọi tên. Nếu
không gọi cái cấu trúc bất ổn đó là sản phẩm của
một thứ cơ chế cầm quyền, thì là gì, của ai? Đảng
không phải mới ra đời hôm qua, mà ít nhất đã hơn 40
năm toàn trị. Anh Tư la hét vào chỗ dường như trống
không.
Nguyên
nhân của các thứ nguyên nhân đẫm lệ ấy là đâu? Nhà
báo Huỳnh Ngọc Chênh tự nêu ý kiến trên facebook của
mình, vượt hẳn cái điều trăn trở lập lòa, và sự
lên án vòng vo lợi, lạm, móc, chui, leo như sự tả
chân về một thời kỳ xã hội mạt rệp nào đó. Chênh
nói ngắn mà rõ: “Ngày nay không còn là thời đại đi
tìm hay tin vào một minh chủ, minh chúa,
mà là cần một minh chế”. Anh Tư không hề
hé môi tới cái “minh chế” anh nhà báo vừa
đặt tên, mà chỉ thích nói chuyện xa vời của
lịch sử, ở đó cứ thấp thoáng bóng dáng minh chủ,
minh chúa, có khi gọi thuần Việt là “ông vua tốt”,
với bản “anh hùng ca dang dở” như trong bài thông điệp
đầu năm ngoái. Thầm nghĩ, chỉ có cái minh chế mới
có thể cứu vớt được anh Tư ra khỏi nỗi hằn
học rất tâm huyết có tính ẩn dụ này, bao gồm cả
sự lo âu và phấn khích. Là một thể chế minh bạch,
công bằng mà dân là chủ, không cần thứ đầy tớ lộn
sòng, giả danh. Vì chính họ – những vị này – đã lậm
ma túy quyền lực, nên tự huyễn hoặc mình là “vua tốt”
mà không thể tự nhận ra, đã làm rối việc. Thậm chí,
minh chủ còn đòi bỏ tù cái minh chế ấy, và
khai trừ những ai gọi tên và cổ xúy nó (chỉ thị 102,
105), nhằm giữ cái uy tưởng tượng của mình. Lại có
người cứ tơ tưởng lau gương, rồi soi gương lịch sử.
Chuyện hôm nay thật quá rõ, hà tất phải mượn ưu, mượn
nhược của năm triều đại ra suy gẫm, học tập. Lịch
sử không thể hà hơi tiếp sức cho những chuyện nhá
nhem không rõ ràng. Nhưng đâu chỉ là tham nhũng vật chất
và quẩn quanh chuyện đốt lò? Người ta còn nói đến
tham nhũng quyền lực, tham nhũng sự công bằng của luật
pháp, tham nhũng niềm tin từ bầu nhiệt huyết của tuổi
thanh niên, tham nhũng thành tích của quá khứ, và tham
nhũng cả lịch sử, bằng cách bẻ cong, uốn dẻo, tái
tạo sao cho “lịch sử” chảy quanh mục tiêu trước mắt
của mình, để phục vụ chuyện đốt lò chẳng hạn. Các
loại tham nhũng này – là sự suy thoái từ não – thì
cái lò nào đốt được nó? Bí quá, người ta kêu gào
lịch sử chăng? Và dường như cũng thống nhất phong thái
khẩu khí cách điệu, xa vắng xưa nay của anh Tư khi anh
viết: “Mỗi chúng ta rồi đây, đều phải đứng
trước sự phán xét công bằng của lịch sử, của dân
tộc”.
Như
một lời nhát ma kẻ yếu bóng vía!
Lịch
sử không biết lên tiếng cãi vã, lịch sử dường như
nằm im đấy, nhưng vẫn tồn tại bền bỉ. Mặt khác,
“lịch sử” là một từ ngữ phức tạp, ai mượn dùng
tạm cũng được, theo nghĩa mình muốn. Lịch sử không
thể nửa đêm thức dậy dựng phiên tòa để phán xét ai
đó. Lịch sử cũng không thể đem ra dọa dẫm bằng
thuyết định mệnh. Đảng ta vốn vô thần, sao “đồng
chí” lại có chuyện “đồng bóng” thế kia! Lịch sử
để nghiên cứu phục vụ cái gì đó, nhưng không thể
thay cho luật pháp. Một đất nước đi xuống, yếu kém,
bệ rạc thì lịch sử của nó cũng bị chôn vùi, dân tộc
lầm than, có khi bị xóa sổ, không còn nữa để mà chờ
ngày phán xét. Người cầm quyền chỉ được quyền
duy nhất là nói về luật pháp và nhân danh luật pháp.
Đạo đức, lịch sử, giáo dục hãy nhường cho những
chuyên ngành đã được xã hội phân công. Hễ cầm quyền
là dạy dỗ được tất cả người ta sao! Có cái hay của
thời xưa không thể áp dụng cho ngày nay. Sự lộn sòng
đó đã là lợi dụng, là lạm dụng, là biểu
lộ lòng tham không đáy về mặt chức năng và tư
tưởng rồi còn gì! Lại nữa, nếu quan chức không thể
làm cái việc “móc túi” người dân ở
đường phố được, thì công khai lấy thông qua các chính
sách, vốn đã mở toang mênh mông những thứ mà anh ấy
cố gọi là kẽ hở, theo cách nói giảm nhẹ của
ngôn ngữ tòa án hiện hành. Thật ra thì bóp cổ và tịch
thu, như đang tiếp tục diễn ra quyết liệt với hàng
trăm thứ thuế mánh khóe chồng chất. Một số không ít
người, lại có thể cùng nhau lén lút chui sâu, leo
cao trong một hệ thống quyền lực chặt chẽ và khổng
lồ này được sao? Các từ ngữ sử dụng như trên rất
mỉa mai, nhưng đầy sáng tạo, nó lạng lách như đám
choi choi đua xe ngoài phố.
Cái
gốc mọi sự đáng nói, không phải chỉ ở tham nhũng,
nhưng anh Tư không nói tới, phải chăng vì vướng bóng
quân vương của anh ở đâu đây. Cái đạo đức
thời xưa phong kiến thì quan như phụ mẫu. Đạo đức
ngày nay của người cầm quyền nằm ở thực thi hai chữ
“Dân chủ”, xin đừng lượn lờ đánh tráo. Sự suy tàn
của các triều đại xưa nằm ở chỗ bất tài, ăn chơi
trụy lạc của lớp người kế thừa. Sự sụp đổ của
một chế độ ngày nay nằm ở thể chế độc tài, vốn
là cha sinh mẹ đẻ của suy thoái, tham nhũng, bè cánh. Sao
lại nâng cao tham nhũng suy thoái lên thành nguyên
nhân đầu tiên, ở vào vị trí cao hơn cái triết lý nền
tảng của chế độ ấy? Có thể nói ngược lại được
không? Sau khi khệnh khạng băng qua lịch sử vài bước
chân, anh công khai bày tỏ nỗi lo lớn của mình. Thẳng
thắn, hùng hồn, xanh rờn trách nhiệm, anh hỏi: “Nếu
tình hình tham nhũng và suy thoái không được loại trừ,
Đảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về
đâu?”.
Câu
hỏi của anh thật là khẩu khí tràn đầy, nhưng không
biết anh hỏi ai?
Hơn
40 năm qua, anh ngồi đứng ở đâu, và làm gì? Anh đào và
chôn cái gì? Sao anh trút phẫn nộ đến thế vào bọn
tham nhũng ngày càng sanh sôi nảy nở, mà không phải vào
cái đằng sau lưng tham nhũng, mà nhà báo Huỳnh Ngọc
Chênh gọi ất ơ là thiếu cái “minh chế”?
Xin
tạm trả lời câu hỏi của anh: Tất cả các thứ ấy –
tham nhũng, suy thoái, Đảng viết hoa, chế
độ, đất nước sẽ đi về cùng chung một mối.
Nó
nhẹ nhàng thôi: Chuyện tham nhũng thì có thể tạm
hiểu được, dù rắc rối. Nhưng cái suy thoái về
mặt sinh học ở trong não rất khó tự biết, thì làm sao
loại trừ? Đảng này thì có thể xàng xê sao đó,
nhưng cái tên vẫn còn thì không sao cả, anh này về hưu
có anh khác thay, như các đợt trước vậy! Chế độ
này có thể chỉnh sửa cũng dễ, cứ na ná sơn theo
màu sắc Trung Quốc, và gắn thêm cụm từ 30 năm
đổi mới, là tạm được. Dân tộc này có thể
tàn tạ, nhưng vẫn trường tồn, ít nhất vài ba thế kỷ
nữa, những chiếc ghế đầu triều vẫn còn đó cho nhiều
lượt người ngồi. Còn đất nước này thì vẫn
mãi ở bên cạnh ông láng giềng, vẫn núi liền núi sông
liền sông, bền vững!
Tất
cả sẽ không đi về đâu cả, anh ạ! Vẫn như hàng
ngày, nó tiếp tục ổn định đi xuống.
Mượn
chút tinh sương sáng sớm, cả chút nắng tắt
chiều tà, nhắn gởi anh lời chào đầu tuần hôm
nay, với chút chia sẻ nhỏ nhoi. Cũng xin ghi nhớ lời
khuyên của Tiên nhân gởi gắm thông qua anh Tư, đến
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân xã hội chủ nghĩa: “Tri
túc tâm thường lạc, vô cầu phẩm tự cao”, dù cái
bụng đói cồn cào của người dân không đạt đến đỉnh
cao ấy, cũng xin quyết không lăn tăn thêm nữa.
Tôi cũng nhớ lời của vị tiền nhiệm Sáu Phong, khi rời
chức thì về nhà “vui thú điền viên” (là “viên”
của ông Sáu Phong, chứ cái “viên” nhà dân hay nhà tôi
thì không vui được: bọn có lòng tham không đáy, chui
sâu leo cao đàng hoàng đến vẽ ngang vẽ dọc, gọi là
quy hoạch cho tương lai!). Anh Ba Dũng thì về nhà “làm
người tử tế”, còn chưa biết có ổn không! Dù
vậy, tôi cũng hóng hớt chờ đợi một ngày ông Tổng
Trọng về vườn, sẽ để lại câu dạy gì đây, thường
thường cũng làm vui cho hậu thế? Cũng xin gởi bâng quơ
lời ngợi ca đến anh Đoàn Ngọc Hải quận 1 – quan nhỏ
thôi – cái khí phách về vườn khá đậm nét của anh.
Xem
chừng, câu nào để lại cũng khó thực hiện. Vì chính
anh Tư – vốn đã đạt cái thường lạc, vô cầu rồi
– mà chẳng phải đang viết những lời hú gió gọi
trăng đó sao? Tôi e là ông Trọng cũng không cần dùng
đến.
Tôi
cũng theo chân anh Tư, cùng lũ trẻ hàng xóm hăm hở bước
sang năm mới, nhưng lòng vẫn chưa may mắn có được “một
tâm trạng tươi tắn” với “niềm tin
đã được xốc dậy” và cũng không “cùng
phấn khởi bước sang năm Mậu Tuất 2018” như
anh đã gắn lửa vào miệng dân. Tôi vẫn hắt hiu ca cẩm:
Đi về đâu hỡi em, “khi sáng sớm tinh sương, lúc
chiều tà nắng tắt”, như âm hưởng câu hỏi hoành
tráng “sẽ đi về đâu” của anh, đang vang
vang trong bài luận văn đầu năm, kêu gọi “lịch sử”
hãy về cùng anh hò reo “chống tham nhũng”?
15/1/2018
H.Đ.N.
Tác
giả gửi BVN.