Tương Lai
Đang mệt vì vừa từ bệnh
viện về, cần thư giãn, thì ông bạn thân đến chơi tặng tập thơ Cõi riêng tư vừa mới in còn thơm mùi mực.
Quả là buồn ngủ gặp chiếu manh. Bạn
ra về, tôi ngả lưng ra ghế đọc thơ của bạn. Dừng lâu ở bài Trang lão đi câu, nhắm mắt nhấm nháp mấy dòng thơ
Thả vào bom lửa
Cần câu không lưỡi
Câu thời yên hàn
Thả vào thời cuộc
Dây câu không cần
Cong queo thế sự
Ông già lọm khọm
Câu nỗi đời đắng chát
Nhai sự đời móm mém
Giữa u u minh minh
Dây câu không có lưỡi
câu thì liệu có câu được nỗi đời đắng chát giữa u u minh minh này không nhỉ?
Trong cái thế sự cong queo này thì rồi
ra cái gì cũng có thể. Mà cong queo thế sự
đâu là chuyện mới.
Ai Công hỏi Khổng
Tử về thuật trị nước: “Làm thế nào thì
dân phục tòng”. Khổng Tử đáp: “Đề cử
người ngay thẳng lên trên hạng cong queo thì dân phục tòng, đề cử người cong
queo lên trên người ngay thẳng thì dân không phục tòng”(“Cử trực, thố chư uổng, tắc dân phục. Cử uổng
thổ chư trực, tắc dân bất phục”). Còn có thể hiểu câu này là “dùng người ngay thẳng, bỏ hết những người
cong queo” vì chữ thố có nghĩa là
bỏ, chữ chư là hết thảy. Mà cong
queo không chỉ ở việc dùng người, còn một thứ cong queo đang kéo lùi lịch sử, giẫm
đạp lên thành tựu của văn minh nhân loại, đi ngược lại với thế giới tiến bộ vừa
được phơi bày. Đó là những văn bản của Bộ Chính trị do ông Nguyễn Phú Trọng ký
với Quy định 105 vô hiệu hóa Quốc hội sau khi bằng quy định 102 đã vứt bỏ cái nội
dung cốt lõi của Nhà nước pháp quyền. Đây là việc công khai phơi bày tính độc
tài toàn trị dùng “đảng trị nước” theo mô hình của Tập Cận Bình.
Thế rồi người ta nói dối cứ y như thật. Trên tivi đang oang oang bài của bà Chủ tịch Quốc
hội nhân kỷ niệm 72 năm ngày Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt
Nam độc lập“là dịp để chúng ta ôn
lại, tự hào về những thành tựu của Quốc hội đã đạt được trong những chặng đường
vừa qua”. Lật trang báo Đại biểu Nhân
dân, đọc thấy thành tích nổi bật “Quốc
hội đã kịp thời ban hành các bản Hiến pháp 1992, Hiến pháp năm 2013 và hàng
trăm đạo luật, pháp lệnh để tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, bảo đảm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần đẩy
mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế”.
Nếu căn cứ theo quy định
của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội 2014 thì Quy định số 105-NĐ/TW [*],
do Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Bộ Chính trị ban hành và hiệu lực ngay
ngày ký là ngày 19-12-2017, thì các nội dung quy định này hoàn toàn không có
giá trị pháp lý. Còn nếu “Quy định về phân cấp quản lý cán bộ và
bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử” có giá trị thi hành thì Hiến pháp 2013 và
Luật Tổ chức Quốc hội 2014 không còn có ý nghĩa.
Cùng với quy định số 105, đã có cái văn bản
quái gở“Quy định Xử lý đảng viên vi phạm” số 102 ngày15 tháng 11 năm 2017. Quy định
102 này sẽ khai trừ những đảng viên “đòi thực hiện thể chế tam quyền phân lập, xã hội dân sự, đa nguyên, đa đảng”. Đành
rằng đây là quy định của đảng đối với đảng viên, nhưng sức tác động của nó là
toàn xã hội sẽ phải gánh chịu. Đơn giản là vì gần 96% đại biểu Quốc hội là đảng
viên, chỉ 21 đại biểu trong số
496 đại biểu là người ngoài đảng (chiếm 4,2%), Quốc hội Khóa XIV có tỷ lệ đảng viên cao nhất từ trước đến nay. Toàn bộ bộ máy
hoạt động của Quốc hội nằm
trong tay đảng viên. Mà đâu chỉ ở Quốc
hội, tất tật mọi quan chức ở trung ương đến các địa phương, đến tận xã,
thôn đều nằm trong tay các đảng viên.
Một khi mà ông Trọng đã dại dột nói toẹt ra
trong cuộc gặp mặt cử tri ở hai quận Tây Hồ và Hoàn kiếm ngày 28.7.2017: “Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan
trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng” thì sự ra đời của Chỉ thị 102 rồi
Chỉ thị 105 là sản phẩm tất yếu, đúng “quy trình” của chế độ độc tài được gia cố
trong cái thể chế toàn trị phản dân chủ đang đối diện với cơn bão tố của lòng
dân. Đây cũng chính là vận dụng cái tư tưởng Tập Cận Bình sau Đại hội 11 của
Tàu trong tinh thần “hai đảng cùng chung
vận mệnh” đang đầu độc tinh thần của xã hội cần phải thật tỉnh táo để gióng
lên hồi chuông cảnh báo.
Cái “thế
sự cong queo” này đang là thảm trạng đập vào mắt của những ai đang ưu tư về
vận nước. Nó đòi phải gióng lên hồi chuông thức tỉnh những ai đang còn mơ hồ
trong trạng huống u u minh minh.
Hãy chỉ lẩy ra một ý trong cái Chỉ thị 102 khai
trừ những đảng viên nào “đòi thực hiện thể chế tam quyền phân lập”. Đây là sự bác bỏ một thành tựu của văn minh mà
loài người đạt được trên con đường dài dằng dặc nhằm giải quyết cái nghịch lý của
việc dân trao quyền rồi bị chiếm đoạt quyền, trở thành kẻ bị trị mất hết quyền.
“Con người sinh
ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi, con người lại đang bị cùm kẹp”. Đây
là lời mở đầu Khế ước
xã hộicủa J.J. Rousseau(1712-1778), ra đời năm
1762, đánh dấu một cột mốc lớn
trong tư duy của con người tự nhận thức về
quyền làm người của mình.Để
thoát khỏi nghịch lý ấy, Montesquieu (1689-1755), nhà khai sáng Pháp với lý
thuyết tam quyền phân lập trong Bàn về
tinh thần pháp luật đã đưa ra những ý tưởng về nhà nước pháp quyền.
Chính ở đây, cái nan đề làm thế nào để dân trao quyền mà không mất quyền, các cơ
quan Nhà nước được giao quyền mà không tiếm quyền của dân được đặt một
nền móng ban đầu để giải quyết. Đây là vấn đề quyết định nhất và cũng là cam go
nhất trong việc xây dựng Nhà nước, một
vấn đề đã được tìm tòi tranh cãi triền miên trên hành trình đi tìm dân chủ và tự
do cho con người.
Trong toàn bộ lịch sử của loài người, “nhà nước chỉ là một dấu ngoặc đơn của lịch sử”
như tên gọi của một cuốn sách. Xã hội loài người đã trải qua hàng triệu năm,
song Nhà nước thì mới xuất hiện chỉ có 6000 năm. Sự ra đời của Nhà nước Athens được đánh giá là nhà nước
dân chủ nhất thời kỳ cổ đại, thậm chí đây còn là hình thức dân chủ sơ khai nhất trong lịch sử
từ khi có nhà nước và pháp luật, tính chất dân chủ của nó đặt cơ sở
cho nền văn minh Hy La cổ đại và cho toàn bộ nền văn minh Châu Âu thời kỳ cận
hiện đại. Thành quả rõ nét nhất của nhà nước Athens chính là xây dựng được
một nhà nước dân chủ chủ nô đầu tiên trong lịch sử nhân loại,
là nhà nước đầu tiên vận dụng hình
thức dân chủ trực tiếp, khai sinh ra hình
thức chính thể Cộng hoà.
Thế nhưng, trong tiến
trình lịch sử tiếp theo, người ta nhận ra rằng không thể vận dụng hình thức dân chủ trực tiếp của nhà nước Athens
trong quy mô rộng lớn của các quốc gia hiện đại. Phải có hình thức dân chủ đại diện mới đảm bảo được cái
nan đề dân trao quyền mà không mất quyền do bị tiếm quyền nói ở trên. Vì vây đã
hình thành những mô hình nhà nước với nền dân chủ đại diện mà mô hình nước Anh
được Hobbes và Locke đúc kết, Montesquieu và Rousseau đã tiếp nhận và bổ sung,
Tocqueville phát triển thêm khi nghiên cứu về nước Mỹ được nói đến nhiều nhất.
Vắn tắt vài dòng trên đây nhằm dẫn tới chủ đề “tam quyền phân lập” để chỉ ra học thuyết về “Nhà
nước pháp quyền” của Montesquieu có một đóng góp rất lớn trong quá trình
hình thành và phát triển của nhà nước.
Vấn đề cơ bản nhất, cũng là tư tưởng chủ đạo của
nhà nước pháp quyền là pháp quyền ở
trên nhà nước. Theo nguyên lý của tư tưởng pháp quyền đó, nhà nước phải được tổ chức theo nguyên
tắc “tam quyền phân lập”. Mục đích của nguyên tắc đó là tạo ra một cơ cấu
quyền lực có sự kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau nhằm tránh sự độc quyền, lạm quyền.
Nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì
được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm. Để đảm bảo dân uỷ quyền mà không mất quyền
thì công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch
trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm
soát.
Toàn bộ những ý tưởng lớn đó được xác lập từ sự
phân biệt giữa “nhà nước pháp quyền”
với tất cả các kiểu loại nhà nước trước đó trong lịch sử loài người. Mà nền tảng
được xác lập để phân biệt thật rạch ròi chỉ ở một điểm: với nhà nước pháp quyền, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước đều
thuộc về nhân dân. Đây là xuất phát điểm để xác lập sự khác biệt căn
bản giữa nhà nước pháp quyền với các kiểu loại nhà nước không pháp
quyền.
Ở các kiểu loại nhà nước không pháp quyền, mệnh lệnh được ban ra trực tiếp từ
chủ thể nắm giữ quyền lực dưới các hình thức như chiếu chỉ, sắc dụ, sắc lệnh,
nghị quyết…thành văn bản hay mệnh lệnh được phát ngôn, đều là những mệnh lệnh tuyệt đối một chiều từ trên xuống,
không có sự phản hồi, càng không thể có sự phản biện xã hội dưới bất cứ
hình thức nào, hoặc nếu có thì chỉ là hình thức mị dân. Ở đó, quyền lực được tập
trung vào độc quyền cá nhân (nhà vua) hay một nhóm người (mà Bộ Chính trị của
ông Trọng là một ví dụ rất điển hình về một nhóm người không hề do dân bầu ra,
nhưng lại định đoạt mọi vấn đề của đất nước). Đồng thời, sự chuyển giao quyền lực
giữa các chủ thể quyền lực là cơ chế nối truyền (gia đình, dòng tộc, các nhóm
quyền lực cùng lợi ích), quần chúng nhân
đứng ngoài tiến trình này(mà hiện trạng đất nước ta hiện nay là một điển
hình quá nổi bật về việc dân đứng ngoài những quyết định của đảng, mà đảng ấy đứng
trên dân, dân không có quyền gì với đảng vì thế mà “ở khắp mọi nơi, con người lại đang bị cùm kẹp” mà có
lẽ Rousseau, người phẫn nộ cảnh báo từ ba thế kỷ trước cũng bất ngờ.