(Mênh mông thế sự để gió cuốn đi số
30)
Tương
Lai
Nhân ngày
tưởng niệm trận hải chiến Hoàng Sa 19.1.1974, xúc động
đọc bài “Văn tế tử sĩ trong trận hải chiến Hoàng
sa 17.-19.1.1974” trên mạng, bất giác thả hồn mình
ngược theo dòng chảy thời gian lùi trở lại của một
thời xưa cũ với hình ảnh từng chìm sâu vào ký ức dân
tộc:
Hội
khao lề lại trống chiêng bi tráng, tiễn người đi mờ
bóng cuối chân trời,
Nơi quê
nhà đành vợ con u buồn, thương kẻ đợi trông buồm về
trước bãi.
Tiễn ai đi
“mờ bóng cuối chân trời” và thương ai “u
buồn, đợi trông buồm về trước bãi”, mà vì sao
phải thế? Vì:
Đất cát ông cha
thì phải giữ, dẫu mũi tên hòn đạn không sờn,
Núi sông tiên tổ
sao chẳng gìn, mặc ăn gió nằm mưa chi nại.
Trùng dương sóng
dữ, mập mờ thuyền viễn thú, thân trai há sợ kiếp
gian nan,
Hải đảo gió cuồng, vời vợi biển quê hương, vai lính thêm bền lòng hăng hái
Hải đảo gió cuồng, vời vợi biển quê hương, vai lính thêm bền lòng hăng hái
Thế
rồi để nỗi buồn bay đi trên đôi cánh của thời gian?
Hình
như không phải lúc nào và bất cứ đâu, với tất cả
mọi người đều là thế.
Bằng
chứng là hôm nay đây, trong sâu thẳm tâm thế của nhiều
người Việt, thời gian thì cứ trôi xuôi, song ngược
dòng lại là cuộc sống. Bởi lẽ, một quá khứ gần
và một quá khứ xa cứ như dồn dập gọi dậy những suy
tư về sự nghiệp muôn đời với trí tuệ và xương máu
của ông cha trên từng ngọn núi, tấc biển, con ông để
càng thêm giày vò tâm cam về hiện tình đất nước.
Cái
quá khứ gần với lời cảnh báo của một tầm nhìn
chiến lược về “một thời kỳ Bắc thuộc lần thứ
hai bắt đầu” đang nhức nhối triệu triệu trái tim
yêu nước. Quá khứ xa đánh thức nỗi niềm dân tộc
trong vang bóng bi hùng của lịch sử đang rọi chiếu ánh
sáng của lòng phẫn nộ và tinh thần quật khởi nhằm
xua bớt đi những bóng mây đen đang trùm lên đất nước.
Mây đen của lũ cướp nước ùn ùn phủ kín đan chen vào
những toan tính nhơ nhớp của lũ tay sai cam tâm thần
phục.
Lễ “Khao
lề thế lính” ở huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi là
một minh chứng sống động về “ngược dòng thời
gian lại là cuộc sống” cho thấy rõ lịch sử không
bị cưỡng bức bởi hệ thống lừa mị đang đầu độc
hiện tại. Lịch sử là viên tòa công minh. Với thời
gian, lịch sử làm sáng tỏ chân lý từng bị vùi lấp và
những âm mưu dần dần bị lộ diện trước đôi mắt
rực lửa căm hờn của dân.
Gợi lại
hình ảnh bà con Lý Sơn ta vẫn chưa bao giờ quên lễ
“khao lề thế lính” cho dù có lúc chỉ có thể
kín đáo tổ chức “để hỏi khỏi rầy rà, bắt bớ”
như lời một bô lão nói với Menras. Anh đã nhắc lại
trong một lần ngồi với tôi tại quán cà phê gần đường
Lê Duẩn chuẩn bị cho cuộc biểu tình ngày 17.2. 2012 sau
khi anh ra Lý Sơn về để hoàn thành phim “Hoang Sa
Vietnam: La meurtrissure” có tựa đề tiếng Việt
là “Hoàng Sa Việt Nam: nỗi đau mất mát”.
André Menras Hồ Cương Quyết xúc động nói về những
“mộ gió” và nghi lễ thành kính của bà con ngư
dân Lý Sơn mà anh ghi được cùng với những câu ca dao cổ
xưa họ đọc cho anh:
“Hoàng
Sa mây nước bốn bề
Tháng
hai khao lề thế lính Hoàng Sa”;
“Hoàng
Sa lắm đảo nhiều cồn
Chiếc
chiếu bó tròn mấy sợi dây mây”;
“Chiều
chiều ra ngóng biển xa
Ngóng
ai đi lính Trường Sa chưa về”
Những
người ra đi ấy luôn sống mãi trong tim người dân Lý
Sơn, cũng là sống mãi trong lòng đất nước. Sách
“Phủ
biên tạp lục” của
Lê Quý Đôn ghi rõ: “Trước họ
Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An
Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai nhận giấy
sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền
câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở
đấy tha hồ bắt chim cá mà ăn. Lấy được hóa vật của
tàu, như gươm, tiền bạc, vòng bạc… Đến kỳ tháng 8
thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp”.
Sách “Hoàng
Việt địa dư chí” của
Phan Huy Chú chép rõ ràng: “Quần đảo
Hoàng Sa ở ngoài khơi, các vua đời trước đặt ra quân
giữ Hoàng Sa gồm 70 người, thường là lấy người xã
An Vĩnh. Hằng năm cứ đến tháng 3 nhận lệnh mang lương
thực trong 6 tháng rồi dùng 5 chiếc thuyền ra khơi, đi
trong 3 ngày 3 đêm thì đến đảo, đến nơi vừa canh giữ
vừa đánh cá mà ăn. Vật báu ở đó rất nhiều, nên đội
quân này vừa làm nhiệm vụ canh giữ vừa khai thác vật
báu. Đến tháng 8 thì về cửa Eo [Thuận An] lên tâu nộp
ở thành Phú Xuân”.
Dân
ghi lòng tạc dạ, sử sách rành rọt phân minh.
Đại
Việt sử ký toàn thư, Kỷ
Nhà Lê chép chỉ dụ của vua Lê Thánh
Tông “Một thước núi, một tấc
sông của ta, lẽ nào lại tự tiện vứt bỏ?... Nếu
người nào dám đem một tấc đất của vua Thái Tổ để
lại làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di”.
Vậy
thì kẻ nào phải tội tru di đây khi để mất Hoàng Sa,
Trường Sa?
Cần
nhớ rằng, theo luật quốc tế, một quốc gia chiếm giữ
một thực thể trong vòng 50 năm liên tục mà không có
tranh chấp thì thực thể đó thuộc chủ quyền của quốc
gia đang thực hiện việc chiếm giữ, quản lý. Bằng hành
động ăn cướp, Trung Quôc đã chiếm đóng trái phép một
số đảo tai Hoàng Sa sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974,
rồi năm 1988 cũng bằng hành động ăn cướp trắng trợn
hơn nữa, sau trận hải chiến Trường Sa, Trung Quốc chiếm
đảo Gạc Ma của Việt Nam.
Nếu
ngay bây giờ không có hành động quyết liệt đấu tranh
dưới mọi hình thức, trước hết là trên mặt trận
pháp lý quốc tế để giành lại chủ quyền lãnh thổ đã
bị Trung Quốc ăn cướp, thì thời hạn 6 năm còn lại là
quá ngặt nghèo.
Ấy
thế mà, không những không dám phát động toàn dân đứng
lên bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ
quốc, đê hèn và nhục nhã hơn khi nhà cầm quyền Việt
Nam ngăn chặn rồi đi đến trấn áp ý chí phản kháng
của những người Việt Nam yêu nước, trước hết là
trí thức và tuổi trẻ. Bị thít cổ bởi cái thòng lọng
của mật ước Thành Đô giữa Nguyễn Văn Linh và Giang
Trạch Dân dưới cái bóng của Đặng Tiểu Bình bao trùm
lên trên, một bộ phận trong thế lực cầm quyền được
Tàu thuần dưỡng và xỏ mũi đã tự nguyện để cho Bắc
Kinh tự tung tự tác xâm phạm rồi chiếm đóng một số
đảo thuộc chủ quyền Việt Nam và những nơi nằm trong
vùng tranh chấp mà thế giới đều biết. Ngay cả khi Tòa
trọng tài thường trực (PCA) bác bỏ đường lưỡi bò
mà Trung Quốc ngang ngược vẽ ra là không có cơ sở pháp
lý thì một bộ phận trong thế lực cầm quyền nước ta
vẫn không dám làm như Philippines kiện Trung Quốc ra Tòa
án quốc tế. Không những thế, còn dập tắt ngay ý định
soạn thảo và đưa ra văn bản pháp lý chuẩn bị cho việc
đó dưới áp lực của Bắc Kinh.
Cần
hiểu rằng, phán quyết của PCA đã được xem là phán
quyết mang tính lịch sử, trong đó, lần đầu tiên một
cơ quan tài phán quốc tế có tư cách pháp nhân bác bỏ
quyền lịch sử của Trung Quốc trong phạm vi đường lưỡi
bò, thực chất là bác bỏ đường lưỡi bò, xác định
nó không có cơ sở pháp lý và cũng bác bỏ luôn cả
quyền lịch sử đối với tài nguyên bên trong đường
lưỡi bò…
Đây cũng
là lần đầu tiên Toà đã ra bộ quy chế về pháp lý đầy
đủ về các cấu trúc trên biển, lần đầu tiên nhân
loại có một bộ định nghĩa đầy đủ thế nào là đảo,
là đá, bãi nửa nổi nửa chìm… và quy chế pháp lý đối
với từng cấu trúc như vậy, có thể xem là một sự
tiến bộ của nhân loại về mặt pháp lý, khoa học. Toà
cũng khẳng định những gây hại đối với môi trường,
làm gia tăng tranh chấp và những tính phi pháp trong nhiều
hành động của Trung Quốc, không chỉ đối với
Philippines mà còn đối với các hoạt động khác nói
chung. Vậy mà những năm qua chịu sức ép trắng trợn của
Tàu, một bộ phận trong thế lực cầm quyền cam tâm để
mất chủ quyền lãnh thổ, một phần đất đai của Tổ
quốc mà ông cha ta bao đời gây dựng và gìn giữ để
lại cho con cháu hôm nay đã rơi vào tay kẻ thù truyền
kiếp là chủ nghĩa bành trướng Đại Hán thế kỷ XXI.
Chính
vì thế, mà gợi lại câu chuyện với Menras về hành
trình gian khổ một cách vô lý và tồi tệ do bị ngầm
ngăn cản, rồi gây khó khăn trong quá trình ra đời cho
đến khi công chiếu cuốn phim “Hoang Sa Vietnam: La
meurtrissure” có tựa đề tiếng Việt là “Hoàng
Sa Việt Nam: nỗi đau mất mát”. Ai đó đã được
lệnh gây khó khăn cho tác giả đến lấy tư liệu ở Lý
Sơn, khi xin giấy phép trình chiếu, và rồi thẳng thừng
cấm không cho chiếu ở Sài Gòn và nhiều nơi khác ở
Việt Nam khi mà phim đã được chiếu tại Paris ngày
28.6.2011!
Sự
phẫn nộ của anh hôm nay cũng là sự phẫn nộ của chúng
tôi trong những lời anh nói: “Cho dù
nhạy cảm đến mức nào, việc giữ im lặng trước những
tội ác hàng ngày của bọn xâm lược, theo cách nói công
văn báo chí là “giữ nguyên hiện trạng”, là sự bỏ
mặc phũ phàng số phận của đồng bào mình đang hành
nghề hiền hòa trên vùng biển của đất nước vào trong
các thứ nanh vuốt hung dữ của một “thế lực thù
địch” thật sự”.
Trong cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm
lược nhân kỷ niệm ngày 17.1 1984 tưởng niệm những
người Việt Nam yêu nước ngã xuống trong trận hải
chiến Hoàng Sa, Lê Hiếu Đằng nói với Menras: “Chắc để
vừa lòng Bắc Kinh người ta sẽ huy động lực lượng
trấn áp”, khiến anh càng sục sôi hơn với cuộn phim
Hoàng Sa, tiếng nói của trái tim anh với tư cách một
công dân Việt Nam. Tôi nói với anh, từ Paris anh bay về
rồi ra thẳng huyện đảo giữa bốn bề sóng gió để
trực tiếp thu thập tư liệu từ những nhân chứng sống
gan góc giữ trọn niềm thủy chung với chủ quyền thiêng
liêng của tổ quốc trước mọi uy hiếp của kẻ thù có
sức gọi dậy trong tất cả chúng tôi niềm tin mãnh liệt
vào tinh thần quật khởi của dân tộc.
Hôm
nay đây gợi lại để mong vơi bớt đi nỗi ám ảnh nặng
nề của một đường lối vong bản hèn hạ chấp nhận
thân phận chư hầu, thể hiện trong chủ trương đàn áp
dã man những ai cả gan nhắc lại truyền thống yêu nước
chống Trung Quốc xâm lược được sự “chỉ đạo” từ
nơi chóp bu. Một chủ trương táng tận lương tâm đến
độ đục bỏ bia ghi tên liệt sĩ chống giặc Trung Quốc
xâm lược, cấm báo chí và hệ thống truyền thông không
được nhắc đến chỉ một từ về máu xương của quân
dân ta rải khắp núi rừng, xóm bản, thị trấn sáu tỉnh
phía Bắc trong cuộc chiến tranh biên giới. Khốn nạn hơn
nữa chúng chỉ đạo sách giáo khoa không được có một
câu về cuộc kháng chiến chống xâm lược năm 1979, trong
17 ngày, tính từ 17/2 khi Trung Quốc tràn qua biên giới
Việt Nam đến 5/3/1979 khi Trung Quốc bắt đầu rút quân,
qân dân ta, ta đã đuổi được 60 vạn quân Tàu thời
Đặng Tiểu Bình do Hứa Thế Hữu làm Tổng chỉ huy ra
khỏi bờ cõi.
Tên
tướng Tàu Hứa Thế Hữu không biết có phải là hậu
duệ của bại tướng xâm lược Hứa Thế Hanh chết tại
bờ phía Nam sông Hồng trong tàn quân xâm lược năm Kỷ
Dậu không, nhưng dù có dù không thì cái máu Tàu truyền
kiếp nhà chúng nó thì dân ta hiểu quá rõ. Mà nào chỉ
Hứa Thế Hữu, chính Đặng Tiểu Bình cũng đã cười hả
hê nói với một phóng viên nước ngoài: “Mười một
ngày này, trên đường trở về đã quét dọn một số
hang, có một số vật tư giấu ở hang này, hang nọ, một
số thôn trang, cũng quét dọn mấy ngàn người, trên vạn
người …”.
Cần
phải nhắc cho lũ chúng nó nhớ lại 17 ngày đập vỡ đầu
lũ Tàu xâm lược trong thế kỷ XX gắn với 10 ngày hành
quân thần tốc trong thế kỷ XVIII Quang Trung Nguyễn Huệ
đã tiêu diệt 29 vạn quân Thanh ngày mồng 5 tháng Giêng
năm Kỷ Dậu 1789 để có ngày Giỗ Trận Đống Đa mà
suốt mấy trăm năm qua nhân dân ta chưa một lần quên.
Chỉ có những kẻ từng cúi gập người theo cái quán
tính đã ăn vào máu hèn hạ chuyên lèn lách kiếm chác
trước là cờ Tàu tại nghi lễ đón khách của Bắc Kinh
mới không chịu nhớ đến sự kiện lịch sử này. Không
chỉ nhắc cho bọn xâm lược cướp nước, mà càng phải
nhắc cho những kẻ đã ban lệnh cấm vừa kể trên để
chúng thấy rõ sự khốn nạn của cái lệnh đích thị là
một hành động vô luân, chà đạp lên đạo lý dân tộc.
Ấy
thế mà hình như vẫn chưa đủ, còn cần phải tàn bạo
hơn nữa, vô sỉ hơn nữa trong sự quy phục để làm sao
tỏ rõ bằng được thân phận chư hầu để thật sự
vừa lòng kẻ bảo kê cho cái ghế quyền lực. Đúng vào
ngày19.1 tưởng niệm 74 người con ưu tú của đất nước
hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa cách nay 44 năm, thì
tại Nhà Hát lớn Hà Nội sẽ tổ chức đêm trình diễn
nghệ thuật Trung Quốc của đoàn nghệ thuật Nội Mông
để kỷ niệm 68 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao
Việt-Trung 18.1! Trước dư luận phẫn nộ của nhân dân
cả nước Bộ trưởng Văn hóa Thông tin trót ăn cháo lú
định cùng Đại sứ quán Tàu tổ chức đêm văn nghệ
này đã phải nuốt nhục hoãn cuộc biểu diễn.
Phải
hoãn biểu diễn, nhưng trấn áp, ngăn chặn hành động
yêu nước thắp hương tỏ lòng tri ân người đã ngã
xuống trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền đất nước
thì diễn ra tràn lan từ Hà Nội đến Sài Gòn và cả
nước. Họ trung thành với Tập Cận Bình đến như thế
chính là để nhận được sự hà hơi tiếp sức trong
cuộc chiến thanh toán đối thủ chính trị để giữ bằng
được cái ghế quyền lực đang rệu rã và ngày càng đối
lập với dân. Dã tâm của họ đã tự phơi ra trước mắt
mọi tầng lớp nhân dân khó có thủ đoạn lừa mị nào
có thể lấp liếm được. Ngược lại, càng bám vào Tàu
họ sẽ càng tự chuốc lấy sự bất bình và phẫn nộ
của dân.
Giải
pháp bạo lực sẽ tỷ lệ thuận với sự bất bình và
phẫn nộ dâng cao. Càng trấn áp, bỏ tù sẽ như đổ
thêm dầu vào lửa. Họ biết điều đó, lo sợ điều đó.
Chẳng thế mà năm nay số người được điều động đến
ngăn chặn tại cổng nhà của một số trí thức thường
có mặt ở hàng đầu trong các cuộc mittinh, biểu tình
chống Trung Quốc xâm lược như Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn
Mẫm, Huỳnh Kim Báu và những người khác đông gấp bội
so với những lần trước. Người ta cố gắng “ngăn
chặn từ xa”, cố tách họ ra khỏi lực lượng trẻ mà
họ biết rằng họ không kiểm soát nổi. Họ không thể
có cách nào khác trong bối cảnh đường lối chính sách
rối như mớ bòng bong hiện nay.
Chưa
lúc nào mà những chủ trương lớn mang tính chiến lược
lại được ban hành tùy tiện rất thiếu cân nhắc như
thời gian qua mà quyết định 102 rồi quyết định 105 là
những ví dụ về tự lột trần tính phản văn minh, phản
tiến bộ trước cái nhìn tinh tường của công chúng có
hiểu biết trong nước và dư luận thế giới. Hoặc như
cách xử lý tình huống xảy ra nhân ngày 19 tháng 1 tưởng
niệm trận hải chiến Hoàng Sa 1974 và việc định tổ
chức liên hoan nghệ thuật do đoàn Nội Mông trình diễn
đúng vào ngày ấy nhân kỷ niệm 68 năm quan hệ ngoại
giao Việt Trung 1.8.1950 như vừa nói cho thấy sự lúng
túng, bất lực của một bộ máy quản lý đất nước đã
quá bất cập.
Hôm
nay,19.1.2018, cuộc thắp nhang tưởng niệm những người
con ưu tú của Mẹ Việt Nam đau thương và quật cường
đã bằng máu mình tưới đẫm trên một phần lãnh thổ
thiêng liêng của tổ quốc dưới chân tượng Đức Thánh
Trần bên bến Bạch Đằng tại Sài Gòn của trí thức,
nhân sĩ và những người biết trân trọng đạo lý dân
tộc đã bị ngăn chặn từ xa. Đó là sự trình diễn nỗi
sợ hãi của người cầm quyền trước sóng cồn của
tinh thần yêu nước đang ào ạt và dồn dập đập vào
hệ thống cường quyền ngày càng mạnh không gì cản
nổi. Nén nhang thắp lên dưới chân tượng có thể bị
cướp đi, nhưng ngọn lửa trong tim người yêu nước thì
càng bốc cao vì được tiếp thêm sức. Họ vẫn nghe “rì
rầm trong tiếng đất, những buổi ngày xưa vọng nói về”
(Nguyễn Đình Thi).
Nói
rằng:
“Tổ
quốc thề không quên,
Toàn
dân nguyền nhớ mãi.
Chống
ngoại xâm là truyền thống muôn đời
Giữ
lãnh thổ vốn luân thường vạn đại.
Máu
tử sĩ sẽ nuôi khôn dân tộc, mau kiên trì giành lại
giang sơn,
Xương
anh linh rồi nung chín hùng tâm, sớm quyết liệt san bằng
oan trái”.
(Văn
tế tử sĩ trong trận hải chiến Hoàng sa
17-19.1.1974 của Nguyễn Phúc Vĩnh Ba)
Ngày
9.1.2018
T.
L.
Tác
giả gửi BVN.
____________________
Chú
thích ảnh từ trên xuống:
Ảnh
1. Menras và Tương Lai tại quán cà phê trước giờ biểu
tình 17.2.2012.
Ảnh
2: Menras tại Lý Sơn.
Ảnh
3: Nghi lễ dâng hương tại đình làng An Vĩnh, huyện đảo
Lý Sơn trong ngày truyền thống hàng năm “Khao lề thế
lính”.
Ảnh
3: Lê Hiếu Đằng, André Menras và Tương Lai trong cuộc
biểu tình ngày 17.2.2012 tại Sài Gòn.
Ảnh
4: Biểu tượng Hoàng Sa 1974.




