Paul
R. Gregory (*)
Hiếu
Chân dịch
Không!
Chủ nghĩa xã hội nhất định thành công. Nhưng nó nhất
định thành công vào khoảng… giữa thế kỷ XXII kia, vì
nhà mác-xít sắc bén hàng đầu của chúng tôi có biệt
danh là cụ “Lú” cũng đã từng nói rằng “không biết
đến hết thế kỷ này đã nhìn thấy nó hay chưa” mà
lị.
Bauxite
Việt Nam
Khi
Liên bang Xô viết gần sụp đổ, Francis Fukuyama tuyên bố
chế độ dân chủ tự do đã chiến thắng chủ nghĩa xã
hội kế hoạch hóa trong bài nhận định năm 1989 của
ông, “Điểm tận cùng của Lịch sử?”. Hơn một
phần tư thế kỷ sau đó, Liên Xô quả thực đã tan rã.
Phần lãnh thổ Đông Âu của nó bây giờ thuộc về Liên
minh Âu châu. Trung Quốc có một nền kinh tế thị trường
cho dù đất nước vẫn bị cai trị bởi một đảng duy
nhất. Còn các nhà nước “xã hội chủ nghĩa” Bắc
Hàn, Cuba và Venezuela đang trong đống đổ nát về kinh tế.
Giờ đây, ít ai ủng hộ việc “quay lại Liên xô”.
Nhưng đồng thời, nhiều người vẫn coi chủ nghĩa xã
hội là một hệ thống kinh tế hấp dẫn. Hãy xem trường
hợp ông Bernie Sanders (**) – một người công khai thừa
nhận ủng hộ một nước Mỹ xã hội chủ nghĩa – và
rất nhiều người trẻ trưởng thành vào điểm chuyển
giao giữa hai thế kỷ ưa thích chủ nghĩa xã hội hơn chủ
nghĩa tư bản.
Sự
tương đồng về kỵ sĩ và con ngựa giải thích cho sự
hấp dẫn kéo dài của chủ nghĩa xã hội. Những người
xã hội chủ nghĩa tin rằng các chế độ xã hội chủ
nghĩa đã chọn sai kỵ sĩ để cưỡi con ngựa xã hội
chủ nghĩa đi tới chiến thắng xứng đáng với nó. Những
kỵ sĩ tệ hại như Stalin, Mao, Fidel, Pol Pot và Hugo Chavez
đã chọn những chiến thuật và chính sách dẫn con ngựa
xã hội chủ nghĩa của họ đi trật đường. Nhưng trên
thực tế, một cái nhìn vào cách thức Liên Xô hoạt động
lại bộc lộ rằng, chính bản thân con ngựa mới là vấn
đề.
Sau
khi giành được quyền lực một thế kỷ trước và nắm
giữ quyền lực thông qua một cuộc nội chiến, những
người cộng sản Liên Xô có ý định xây dựng một nhà
nước xã hội chủ nghĩa sẽ chôn vùi chủ nghĩa tư bản.
Sở hữu nhà nước và kế hoạch hóa khoa học sẽ thay
thế cho tình trạng vô chính phủ của thị trường. Lợi
ích vật chất sẽ dồn về phía giai cấp lao động. Một
nền kinh tế công bằng sẽ thay cho sự bóc lột của chủ
nghĩa tư bản và con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ
nổi lên, những người đặt ưu tiên cho lợi ích của xã
hội lên trên lợi ích cá nhân.
Chuyên chính vô sản sẽ
bảo đảm quyền lợi của giai cấp lao động. Thay vì bóc
lột giá trị thặng dư từ người lao động, nhà nước
xã hội chủ nghĩa sẽ lấy đồ cống nạp của các nhà
tư bản để tài trợ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội.
Những
nền tảng căn bản của “con ngựa” Xô-viết đã được
thiết lập vào đầu thập niên 1930. Theo hệ thống này,
Stalin và bộ chính trị của ông ta đặt ra những ưu tiên
chung cho các bộ công nghiệp và ủy ban kế hoạch nhà
nước. Các bộ và các nhà kế hoạch làm việc cùng nhau
để soạn ra các kế hoạch kinh tế. Cán bộ quản lý của
hàng trăm ngàn nhà máy, công xưởng, cửa hàng thực phẩm
và ngay đến các nông trại đều bị pháp luật bắt buộc
phải hoàn thành kế hoạch mà cấp trên giao cho.
Nhà
nước Xô-viết khởi động nền kinh tế kế hoạch hóa
xã hội chủ nghĩa của họ khi thế giới tư bản chủ
nghĩa chìm sâu vào suy thoái, chiến tranh thương mại và
lạm phát phi mã. Chính quyền Xô-viết khoe khoang về mức
tăng trưởng chưa từng có trước đây. Các tổ hợp công
nghiệp mới mọc lên từ số không. Các tạp chí đăng
hình ảnh những công nhân vui sướng nghỉ ngơi trong những
khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi. Thông điệp là: Phương
Tây đang thất bại và hệ thống kinh tế Xô-viết là con
đường đi tới tương lai.
Khi
cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã
hội Liên Xô trở nên rõ rệt trong thời Chiến tranh Lạnh,
hoạt động nghiên cứu học thuật nghiêm túc về nền
kinh tế Xô-viết cũng bắt đầu. Chương trình nghiên cứu
bao quát của các học giả phương Tây nhắm vào “kế
hoạch hóa khoa học” – những người xã hội chủ nghĩa
tin rằng các chuyên gia kỹ trị có thể quản lý nền
kinh tế tốt hơn là những lực lượng thị trường tự
phát. Suy cho cùng, chẳng phải các chuyên gia thì hiểu
biết hơn người mua người bán về chuyện cần sản xuất
cái gì, như thế nào và cho ai sử dụng hay sao?
Chính
các nhà kinh tế học người Áo F.A. Hayek và Ludwig von
Mises là những người chống lại niềm tin này quyết liệt
nhất. Trong sự phê phán có tính biểu tượng của họ,
được trình bày trong hàng loạt công trình nghiên cứu từ
thập niên 1920 đến 1940, họ đi đến kết luận rằng
chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Trong các nền kinh tế
hiện đại, hàng trăm ngàn doanh nghiệp sản xuất ra hàng
triệu sản phẩm. Quản lý một số lượng lớn như vậy
là việc quá phức tạp mà không một cơ quan hành chính
nào có thể phân bổ nguồn lực nổi, cho dù có sự trợ
giúp của công nghệ máy tính tinh vi nhất. Kinh tế hiện
đại do đó quá phức tạp và không kế hoạch hóa được.
Không có thị trường và giá cả, các nhà hoạch định
chính sách không biết được mặt hàng nào bị khan hiếm,
sản phẩm nào dư thừa. Nếu tài sản thuộc về mọi
người, thì những người quản lý tài sản cho xã hội
sẽ phải theo những luật lệ nào?
Giải
pháp của người Xô-viết cho những vấn đề về tính
phức tạp và thông tin là một kế hoạch quốc gia đặt
mục tiêu sản xuất cho những khu vực kinh tế lớn chứ
không phải cho những giao dịch cụ thể. Nói cách khác,
thay vì bắt buộc nhà máy A phải giao cho nhà máy B 10 tấn
dây cáp thép, các nhà kế hoạch đặt mục tiêu tổng số
tấn dây cáp được sản xuất trong cả nước. Chỉ có
một số mặt hàng đặc biệt – chẳng hạn như dầu
thô, quặng nhôm, than nâu, điện năng và toa vận chuyển
hàng hóa bằng đường sắt – mới được lập kế hoạch
như những giao dịch thật sự. Còn tất cả những mặt
hàng khác chỉ được kế hoạch hóa theo số lượng thô,
chẳng hạn như đặt mục tiêu dệt ra vài triệu mét
vuông vải. Các đặc điểm của sản phẩm, kế hoạch
giao hàng và thanh toán tiền chỉ được vạch ra ở những
cấp thấp, và thường dẫn tới những kết quả thảm
hại.
Kế
hoạch hóa khoa học kiểu Xô viết trong thực tế chỉ tác
động tới một phần rất nhỏ sản phẩm. Vào đầu thập
niên 1950, các cơ quan trung ương lập ra hơn 10.000 chỉ mục
kế hoạch trong khi sản phẩm công nghiệp có đến hơn 20
triệu chỉ mục khác nhau. Các cơ quan trung ương lập ra
những kế hoạch tổng quát cho các bộ công nghiệp, các
bộ này lại đề ra những kế hoạch chi tiết hơn cho các
“khu hành chính quan trọng”, nơi sẽ chuẩn bị kế
hoạch cho các doanh nghiệp. Không bao giờ có yêu cầu các
quan chức hàng đầu phải đưa ra kế hoạch sản xuất
các sản phẩm đặc biệt nào đó.
Để
làm cho vấn đề thêm phức tạp, gần như tất cả mọi
kế hoạch đều chỉ là “dự thảo”, có thể được
thay đổi bất cứ lúc nào bởi các quan chức của đảng
và chính quyền cấp cao hơn. Sự can thiệp thường xuyên
này, gọi là “giám sát”, là một điều phiền toái xảy
ra từ ngày đầu tiên tới ngày cuối cùng của hệ thống
Xô-viết, nhưng đó cũng là cột trụ cho công cuộc phân
bổ nguồn lực.
Các
nhà kế hoạch trung ương chuẩn bị những kế hoạch sơ
bộ cho một bộ phận nhỏ của nền kinh tế. Những “kế
hoạch dự thảo” này lại kích hoạt “những trận
chiến giành kế hoạch” to lớn khi các bộ và các doanh
nghiệp tìm cách hoàn thành mục tiêu sản xuất của họ
và đáp ứng các định mức giao hàng; tất cả những
chuyện này đều có thể thay đổi bởi các cán bộ đảng
và cán bộ địa phương vào bất cứ lúc nào.
Như
Bộ trưởng Công nghiệp nặng Sergo Ordzhonokidze than phiền
vào năm 1930: “Tôi đoán họ nghĩ rằng chúng tôi là một
lũ ngốc. Mỗi ngày họ cho chúng tôi từ nghị quyết này
đến nghị quyết khác mà không có cơ sở nào cả”. Một
nửa thế kỷ sau một nhà thầu quốc phòng ẩn danh cũng
đưa ra lời than phiền tương tự: “Họ nhúng mũi vào
mọi vấn đề. Chúng tôi bảo họ rằng họ đã sai, nhưng
họ vẫn đòi phải làm theo cách của họ”.
Nhiệm
vụ của người quản lý được cho là rất đơn giản:
Kế hoạch là pháp lệnh, công việc của người quản lý
là hoàn thành kế hoạch. Nhưng kế hoạch cứ tiếp tục
thay đổi. Hơn thế nữa, nó bao gồm nhiều nhiệm vụ
khác nhau, chẳng hạn như giao hàng, sản lượng và phân
loại. Xuyên qua toàn bộ lịch sử của Liên Xô, tổng sản
lượng gộp (đo bằng tấn, mét hoặc toa hàng/dặm) là
các chỉ tiêu kế hoạch quan trọng nhất và cũng dễ thao
túng nhất. Các nhà sản xuất đinh chẳng hạn, mà sản
lượng được tính theo trọng lượng, chỉ sản xuất các
loại đinh to và nặng. Các nhà sản xuất máy kéo, cố
gắng hoàn thành định mức máy kéo, bị phát hiện chỉ
giao cho khách hàng những chiếc máy kéo không có động
cơ; buộc khách hàng phải mua động cơ như mua phụ tùng.
Các nhà sản xuất giày mà kế hoạch dựa trên số lượng
giày làm ra chỉ sản xuất giày cùng một cỡ, cùng một
màu, bất chấp nỗi khổ tâm của khách hàng. Những mục
tiêu kế hoạch khác, chẳng hạn như áp dụng công nghệ
mới hoặc làm giảm chi phí sản xuất, bị lãng quên vì
bị coi là không có tác dụng giúp hoàn thành kế hoạch.
Dưới
chế độ kế hoạch hóa khoa học, cung cầu phải gần
ngang nhau – và do ác cảm của họ đối với tính lộn
xộn của thị trường, các nhà kế hoạch Xô-viết không
thể cân đối cung cầu bằng cách nâng giá hoặc hạ giá.
Thay vì vậy, họ soạn ra cái gọi là “cân đối vật
chất”, sử dụng phép kế toán cổ xưa để so sánh
những vật liệu nào đang có sẵn với những vật liệu
cần có theo một nghĩa nào đó.
Kế
hoạch hóa cân đối-vật chất kiểu Xô-viết có rất
nhiều khiếm khuyết. Ví dụ, chỉ có thể soạn ra một
số sự cân đối – năm 1938 chỉ có 379 sự cân đối ở
trung ương được chuẩn bị cho một thị trường có hàng
triệu mặt hàng. Và rồi, những sự cân đối này lại
dựa trên những thông tin méo mó. Các nhà sản xuất hàng
hóa trong phép cân đối này vận động để được phân
bổ những mục tiêu thấp, che giấu năng lực sản xuất
thật của họ. Những người sử dụng sản phẩm công
nghiệp trong phép cân đối, ngược lại, lại khai vống
lên những gì họ cần để bảo đảm việc hoàn thành kế
hoạch của riêng họ.
Hình
dung ra một sự cân đối thích hợp là một công việc
mệt mỏi – và các nhà kế hoạch Xô-viết không phải
năm nào cũng sáng tác ra cái mới; thay vì vậy, họ áp
dụng cách gọi là “kế hoạch hóa từ mức độ đã
hoàn tất”, nghĩa là kế hoạch của mỗi năm là kế
hoạch của năm trước đó cộng thêm một số điều
chỉnh nhỏ.
Vào
đầu thập niên 1930, các cơ quan cung cấp phân phối
nguyên vật liệu dựa trên những gì họ đã làm trong năm
trước đó. Lướt nhanh đến thập niên 1980, cũng vẫn
thấy cung cách làm việc như vậy. Khi một nhà sản xuất
vật liệu nghề hàn muốn sử dụng tấm kim loại mỏng
hơn thì câu trả lời chính thức là: “Tôi không quan tâm
tới công nghệ mới. Cứ làm như cũ để mọi sự vẫn
như cũ”. Kế hoạch hóa cân đối vật chất là kẻ thù
của sản phẩm mới và công nghệ mới bởi vì chúng đòi
hỏi phải làm lại một hệ thống các cân đối vốn đã
rất mong manh. Các nhà kinh tế học Mỹ nghiên cứu sản
xuất công nghiệp của Liên xô trong thập niên 1950 hết
sức ngạc nhiên khi thấy những cỗ máy đã sản xuất
vài thập niên mà không hề được cải tiến gì cả, một
chuyện chưa từng nghe thấy ở phương Tây.
Kế
hoạch hóa cân đối vật chất là điểm yếu cơ bản
nhất của hệ thống Xô-viết. Nó làm cho nền kinh tế
Liên xô bị đông cứng lại. Sản xuất của mỗi năm là
bản sao chép năm trước đó. Một cán bộ quản lý Liên
xô năm 1985 sẽ cảm thấy hết sức thoải mái trong cùng
doanh nghiệp đó vào năm 1935.
Ngoài
kế hoạch hóa cân đối vật chất, ngân sách mềm (soft
budgets) cũng tạo thành một khuyết điểm nghiêm trọng
khác. Nhà kinh tế học Janos Kornai của trường Đại học
Harvard lớn lên ở Hungary dưới thời xã hội chủ nghĩa
kế hoạch hóa. Nghiên cứu của ông, dựa trên những trải
nghiệm trực tiếp, tập trung vào những thất thoát kinh
tế diễn ra cùng với những giới hạn của ngân sách
mềm. Theo Kornai, nếu doanh nghiệp không phải đối mặt
với nguy cơ phá sản, chúng sẽ không tìm cách cắt giảm
chi phí và tìm những chiến lược sinh tồn khác. Từ ngày
đầu tiên của hệ thống Xô-viết, các doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ đã hiểu rằng họ sẽ được tự động cứu
nguy, nếu không nói là cứu ngay.
Nguyên
nhân ban đầu của chính sách ngân sách mềm là do hệ
thống Xô-viết dựa trên kế hoạch sản lượng. Đầu ra
của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác.
Nếu kế hoạch sản lượng bị đổ vỡ thì toàn bộ kế
hoạch sẽ thất bại. Đưa một doanh nghiệp ra khỏi nền
sản xuất do làm ăn kém cỏi không đơn giản là một sự
lựa chọn.
Trong
thực tế, các doanh nghiệp thua lỗ thường trả các khoản
tiền hàng bằng trái phiếu ghi nợ (IOU). Các phiếu ghi nợ
không được thanh toán đúng hạn sẽ nhiều lên dần rồi
đạt tới quy mô khủng hoảng. Gosbank, tức ngân hàng nhà
nước Liên Xô – sẽ vào cuộc và giải quyết các hóa
đơn chưa thanh toán bằng cách phát hành thêm tiền và tạo
ra cái mà các quan chức ngân hàng Xô-viết gọi là “treo
tiền” – đồng tiền chạy theo hàng hóa hơn là có hàng
hóa để mua. Trong thực tế, việc kinh doanh chính của
Gosbank trong những năm đầu tiên của hệ thống Liên Xô
là tổ chức những vụ cứu nguy tài chính. Khi một vụ
cứu nguy này hoàn tất cũng là lúc bắt đầu tiến hành
vụ cứu nguy kế tiếp.
Vấn
đề của chủ nghĩa xã hội không phải là kỵ sĩ tồi
mà là chính con ngựa. Hệ thống kinh tế Xô-viết mắc
nhiều chứng bệnh cuối cùng sẽ làm nó ngã quỵ. Bắt
đầu từ cuối thập niên 1960, kinh tế Liên xô rơi vào
cuộc suy thoái kéo dài, về sau được gọi là “giai đoạn
trì trệ”. Mikhail Gorbachev được chọn làm Tổng bí thư
Đảng Cộng sản Liên xô năm 1985 với cam kết rằng ông,
một nhà cải cách cấp tiến, sẽ đảo ngược đà suy
thoái này.
Gorbachev
đã thất bại vì cốt lõi của hệ thống kế hoạch hóa
Xô-viết đã mục ruỗng. Bất chấp thiên hướng cải
cách của ông, Gorbachev vẫn là một tín đồ của chủ
nghĩa xã hội. Ông quyết tâm cứu vãn chủ nghĩa xã hội
Xô-viết bằng cách làm cho nó giống với chủ nghĩa tư
bản. Khi làm như vậy, ông đã tạo ra một nền kinh tế
không phải là kế hoạch hóa, cũng không phải kinh tế
thị trường – một cuộc tranh chấp đầy hỗn loạn, mà
nhân dân Nga tới hôm nay vẫn buồn rầu gọi đó là “chủ
nghĩa tư bản hoang dã”.
P.R.G.
(*)
Paul Roderick Gregory lấy bằng Tiến sĩ kinh tế tại Đại
học Harvard, làm nghiên cứu viên của Viện Hoover, Giáo sư
khoa kinh tế của Đại học Houston, Texas; Giáo sư nghiên
cứu tại Học viện Đức về nghiên cứu kinh tế ở
Berlin; Chủ tịch danh dự Ban Tư vấn quốc tế trường
Kinh tế Kiev (Ukraine). Ông cũng đồng thời là Giáo sư
thỉnh giảng các trường Đại học quốc gia Moscow (Nga),
Đại học Viadrina (Nga) và Đại học Tự do Berlin (Đức).
(**)
Bernie Sanders: Thượng nghị sĩ Dân chủ bang Vermont, Hoa Kỳ,
thất bại trong cuộc tranh giành với bà Hillary Clinton tư
cách đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử Tổng thống
Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11-2016.
Nguồn:
http://www.viet-studies.net/kinhte/WhySocialismFails_Gregory_Trnas.html