Hungary: Tự do và ái tình *

TS Đinh Hoàng Thắng, Tạp chí Chính luận – Năm thứ LXX, số 23, ngày 5 tháng 6 năm 2026

Chuyển ngữ bởi Jelen János, nguyên Đại sứ Hungary tại Việt Nam

“Tự do và Ái tình/ Vì các ngươi ta sống!” (Petőfi Sándor)

Tôi không biết từ bao giờ hai câu thơ của Petőfi Sándor đã trở thành một thứ “quốc ca hướng nội” của những người mà cuộc đời họ từng được Hungary trao tặng một phần ký ức. Những ai đã từng bước đi bên bờ Duna, trong mùa thu vàng rực của Budapest; từng ngồi lặng tại một quán cà phê nhỏ dưới chân đồi Buda; từng lang thang trên đại lộ Andrássy trong màn sương cuối đông; hoặc chỉ một lần tắm nắng bên hồ Balaton vào một buổi chiều mùa hạ – phần lớn đều nhớ đến hai câu thơ ấy như một hoài niệm về mối tình đầu của tuổi trẻ. Trên thế giới có lẽ không nhiều dân tộc mà thi ca tình yêu và khát vọng tự do lại hòa quyện làm một sâu sắc như dân tộc Hungary.

Đã hơn nửa thế kỷ kể từ ngày tôi rời Hungary. Nhưng có một câu hỏi cho đến tận gần đây vẫn không thôi day dứt tôi: Làm sao một dân tộc gần như yêu tự do theo bản năng, từng sở hữu một truyền thống báo chí phản biện mạnh mẽ bậc nhất Đông Âu, từng đứng lên chống lại Đế chế Habsburg năm 1848 và đổ máu trước xe tăng Liên Xô năm 1956, lại có thể trôi dạt vào điều mà Viktor Orbán gọi bằng một cái tên vừa trơn tuột vừa đáng ngại: “nền dân chủ phi tự do” (illiberal democracy)? Làm sao Budapest – một trong những thủ đô trí thức nhất châu Âu – lại có thể trở thành biểu tượng của một “đầm lầy hậu Xô viết” sau hơn một thập niên dưới sự thống trị của Fidesz?

Có lẽ bởi sau năm 1989 chúng ta đã quá ngây thơ. Nhiều người đã tin vào huyền thoại “sự cáo chung của lịch sử”. Chúng ta nghĩ rằng chỉ cần Bức tường Berlin sụp đổ thì dân chủ sẽ tự nở hoa như đồng cỏ vào mùa xuân. Nhưng lịch sử chưa bao giờ đơn giản như vậy! Con đường chuyển tiếp hậu cộng sản không phải lúc nào cũng trải đầy cánh hồng. Ba Lan có Công đoàn Đoàn kết và Giáo hội Công giáo như một đối trọng đạo đức. Tiệp Khắc có Václav Havel cùng giới trí thức đối lập huyền thoại. Các quốc gia Baltic mang một chấn thương lịch sử sâu sắc từ thời Liên Xô chiếm đóng nên gần như đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ.

Nhưng đất nước Hungary thì khác!

Hungary bước ra khỏi chủ nghĩa cộng sản khi vừa mới đi được nửa chặng đường.

“Chủ nghĩa cộng sản xôi thịt” thời Kádár (cách truyền thông vẫn thường diễu nhại “gulyáskommunizmus” của Hungary) đã khiến cuộc sống mềm mại hơn so với phần còn lại của Đông Âu. Người Hungary được đi lại, xem phim Mỹ, nghe nhạc phương Tây – họ sống thoáng và thoải mái hơn rất nhiều so với người Romania hay Bulgaria. Chính sự dễ chịu tương đối ấy đã tạo nên một nghịch lý lịch sử: Ở Hungary đã không diễn ra sự đoạn tuyệt tinh thần sâu sắc với chế độ cũ. Những mạng lưới quyền lực cũ vẫn tồn tại. Những phản xạ chính trị cũ cũng tồn tại. Nỗi sợ bất ổn và hỗn loạn vẫn âm ỉ trong tầng sâu của xã hội.

Và rồi Orbán xuất hiện.

Bi kịch của Hungary có lẽ nằm ở chỗ Viktor Orbán ban đầu không phải là kẻ thù của tự do. Năm 1989, tại lễ cải táng Imre Nagy, chàng thanh niên tóc dài Orbán đã làm rung chuyển quảng trường Anh hùng khi công khai đòi Liên Xô rút quân khỏi Hungary. Khi ấy, ông hiện thân cho thế hệ mới, cho niềm hy vọng châu Âu, cho một Hungary hậu cộng sản trẻ trung và can đảm.

Nhưng quyền lực nắm giữ quá lâu có thể đầu độc ngay cả những người từng đứng về phía tự do.

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, giữa lúc phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ và sự thất vọng đối với tầng lớp tinh hoa tự do gia tăng, Orbán hiểu rằng người dân không chỉ cần tự do. Họ còn cần cảm giác an toàn, niềm tự hào dân tộc và niềm tin rằng có ai đó sẽ bảo vệ họ khỏi “Brussels”, khỏi làn sóng di cư và khỏi toàn cầu hóa. Orbán đã trao cho họ cảm giác ấy.

Đổi lại, Hungary dần dần, gần như tự nguyện, đánh mất “từng mảnh hồn cốt” dân chủ của mình. Báo chí bị kiểm soát. Tư pháp bị bóp méo. Xã hội dân sự bị bóp nghẹt. Các trường đại học độc lập bị tấn công. Trường CEU do George Soros sáng lập bị đẩy khỏi Budapest như trong một cuộc thanh trừng mang tính biểu tượng. Những người từng yêu Budapest vì tự do bỗng cảm thấy bầu không khí trí tuệ của nó ngày càng như một bóng tối nặng nề bao phủ xuống thủ đô và cả đất nước.

Nhưng không có chế độ nào chỉ dựa vào tuyên truyền và nỗi sợ hãi mà có thể tồn tại mãi mãi.

Có lẽ chính Orbán cũng chưa hiểu hết rằng ký ức về tự do ở Hungary sâu hơn bất kỳ bộ máy quyền lực nào. Một dân tộc từng trải qua năm 1956 không thể ngủ quên mãi mãi. Nếu không có Budapest năm 1956 với hàng ngàn thi thể trên đường phố, với những thanh niên cầm bom xăng Molotov đơn độc chống lại xe tăng Liên Xô, nếu không có máu đổ trên quảng trường Kossuth – thì cũng sẽ không có Hungary ngày nay. Cuộc nổi dậy ấy thất bại về quân sự nhưng đã trở thành lớp trầm tích sâu nhất trong tâm hồn Hungary hiện đại. Người Hungary có thể im lặng rất lâu, có thể mệt mỏi, có thể thỏa hiệp, nhưng ký ức về tự do chưa bao giờ chết hẳn trong trái tim họ.

Và rồi xã hội Hungary bắt đầu thức giấc trở lại.

Giới trẻ cảm thấy mình đang bị đẩy ra khỏi châu Âu. Giới trí thức nhìn thấy đất nước ngày càng bị cô lập. Các doanh nhân nhận ra nền kinh tế không còn vận hành theo quy luật thị trường mà theo các mạng lưới thân hữu và mafia chính trị. Các nhà báo độc lập vẫn tiếp tục viết dù bị bịt miệng bằng nhiều cách tinh vi. Các tổ chức dân sự vẫn tồn tại dù bị gán nhãn là “đặc vụ nước ngoài”. Những cuộc biểu tình phản đối luật giáo dục, các hạn chế đối với báo chí và nạn tham nhũng dần dần hợp thành một dòng sông ngầm dưới chân Orbán – ngày một cuộn chảy và ngày một gầm vang hơn.

Và rồi Magyar Péter xuất hiện — như một nghịch lý khác của lịch sử.

Ông không phải một vị cứu tinh từ bên ngoài. Magyar bước ra từ chính hệ thống Fidesz. Ông từng là chồng của cựu Bộ trưởng Tư pháp Varga Judit. Ông từng là một phần của bộ máy quyền lực. Điều đó khiến nhiều người nghi ngờ. Nhưng lịch sử cho thấy những biến chuyển lớn thường không bắt đầu từ bên ngoài mà từ những vết nứt xuất hiện trong lòng hệ thống. Liên Xô từng có Gorbachev của mình. Nam Phi từng có De Klerk. Đài Loan cũng từng xuất hiện những con người trong buổi hoàng hôn của chế độ Quốc Dân Đảng nhận ra rằng nếu không thay đổi thì đất nước sẽ đi vào ngõ cụt.

Ý nghĩa của Magyar Péter không chỉ nằm ở các bài diễn văn. Nó còn nằm ở cách ông đi khắp Hungary như một nhà truyền giáo chính trị. Ông đến những ngôi làng nghèo nhất, những thành trì kiên cố nhất của Fidesz. Ông đứng hàng giờ trên các quảng trường tỉnh lẻ để giải thích chương trình của đảng Tisza. Ông sử dụng mạng xã hội để phá vỡ vòng vây của truyền thông nhà nước. Những đám đông lắng nghe ông ở Debrecen, Szeged, Miskolc hay Pécs đã gợi nhớ điều gì đó rất xưa cũ: văn hóa tranh luận công khai thời Petőfi và Kossuth, ký ức về một xã hội từng rất châu Âu.

Nhưng nếu Hungary thực sự đang đứng trước ngưỡng cửa của một thời đại mới thì sẽ là bất công nếu lịch sử chỉ ghi nhớ mỗi tên Magyar Péter. Chúng ta phải nhớ đến các nhà báo của Telex, Direkt36, HVG và 444.hu — những người đã gìn giữ lương tri báo chí Hungary như “những ngọn nến trong đêm” suốt những năm tháng đen tối nhất. Phải nhớ đến phong trào sinh viên Momentum, những cuộc biểu tình của giáo viên, những thẩm phán bảo vệ nền tư pháp độc lập. Phải nhớ đến những trí thức như Heller Ágnes hay Kim Lane Scheppele cùng biết bao nhà văn, nghệ sĩ, giáo sư đã không để Hungary bị nuốt chửng hoàn toàn bởi sự cam chịu. Và sâu xa hơn tất cả, chúng ta phải nhớ đến những người Hungary vô danh của năm 1956. Bởi chính họ mới là những người gieo những hạt giống đầu tiên của nền dân chủ Hungary hôm nay.

Có lẽ bài học thú vị nhất của câu chuyện Hungary là nó không chỉ nói về Dân tộc Hungary. Nó nói về số phận của mọi xã hội hậu cộng sản. Nó cho thấy dân chủ không phải con đường một chiều. Một quốc gia có thể tiến lên rồi lại trượt lùi. Có thể gia nhập châu Âu rồi lại rơi vào bóng tối của chủ nghĩa dân túy. Nhưng Hungary cũng cho thấy một chân lý khác: Không có hệ thống nào có thể khóa chặt tương lai mãi mãi. Ngay cả trong những xã hội tưởng như đã chết lâm sàng, những dòng chảy âm thầm của lương tri vẫn tồn tại. Và có lẽ đây cũng là điều người Việt Nam nên suy ngẫm khi nhìn về Hungary ngày nay.

Lịch sử đôi khi không thay đổi bằng những cuộc cách mạng.

Mà bằng sự thức tỉnh chậm rãi của một xã hội.

Bằng những vết nứt nhỏ xuất hiện trong lòng hệ thống.

Bằng sự vỡ mộng của những người từng phục vụ trong chính bộ máy quyền lực.

Và bằng khát vọng được quay trở lại dòng chảy chính của nền văn minh nhân loại.

Có thể Magyar Péter sẽ thành công. Cũng có thể ông sẽ gặp nhiều khó khăn phía trước. Hôm nay chưa ai có thể biết. Nhưng chỉ riêng việc Hungary đã làm rung chuyển cấu trúc của “nền dân chủ phi tự do” cũng đã thắp lên hy vọng vượt ra ngoài biên giới đất nước mình.

Bởi ánh sáng cuối đường hầm chưa bao giờ chỉ chiếu rọi cho một dân tộc duy nhất.

Và có lẽ vì thế mà những câu thơ của Petőfi vẫn còn vang vọng đến hôm nay bằng một sức mạnh vừa mãnh liệt vừa ám ảnh:

“Tự do và Ái tình

Vì các ngươi ta sống

Vì Tình yêu lồng lộng, tôi hiến cả đời tôi

Vì Tự do muôn đời, ta hy sinh Tình ái”

(Bản dịch của Xuân Diệu)

Bởi một dân tộc không tự do thì cũng không thể yêu thương một cách trọn vẹn.

Và một dân tộc đánh mất khả năng yêu thương thì cuối cùng cũng sẽ đánh mất luôn tự do.

Đ.H.T.

---

* Bài tiểu luận trên được Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng viết vào ngày 9 tháng 5 năm 2026, ngày được tác giả cho là “cuộc chuyển đổi chế độ lần thứ hai của Hungary”. Tác giả đề tặng bài viết này trước tiên tới độc giả Việt Nam và Hungary, cũng như giới báo chí hai nước, như một lời tri ân và kính trọng đối với Hungary và nhân dân Hungary – vì hành trang tinh thần, sự giúp đỡ đầy ắp tình người và những trải nghiệm suốt đời mà ông và thế hệ ông đã nhận được trong thời gian học tập, nghiên cứu và những năm đầu lập nghiệp tại đất nước này.

 

 Tác giả gửi BVN

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn