Sự kiện 2/9/1945 dưới góc nhìn của một người Mỹ

Quoc Anh

Những gì viết dưới đây được lược trích trong cuốn “Why Vietnam?” của A. Patti, người Mỹ có chức vụ cao nhất tại Việt Nam lúc đó.

Phải chăng, cơ hội bị bỏ lỡ?

Có thể là hình ảnh về văn bản

Ảnh: Căn phòng trên phố Hàng Ngang, nơi Hồ Chí Minh sống và làm việc vào tháng 8-9/1945.

… Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa nhanh bất ngờ, chỉ trong hơn 10 ngày, Việt Minh đã kiểm soát trên danh nghĩa toàn bộ Việt Nam, quả là một giấc mơ thần kỳ đối với họ, thắng lợi không đổ máu chỉ bằng sức mạnh của quần chúng đã làm động lực cho Hồ Chí Minh tin tưởng đi đến mục đích cuối cùng là dành độc lập cho Việt Nam và điều quan trọng nhất là Việt minh sẽ là tổ chức duy nhất với nòng cốt là những người cộng sản sẽ xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình của Liên Xô… Dù trên thực tế ông luôn nhắc các đồng chí của mình phải khôn khéo và che giấu nó.

Điều quan tâm nhất của Hồ Chí Minh trong thời điểm gấp rút này là việc ra mắt và công bố cho quốc dân, và thế giới chính thức biết về nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự kiến vào ngày 2/9/1945 (Chỉ đúng một tuần khi ông từ Tân trào về Hà Nội) trước khi quân đội Tưởng Giới Thạch và các đảng phái người Việt được Tưởng bảo trợ đi theo vào giải giáp quân Nhật. “Danh có chính, ngôn mới thuận” – cho thấy ông đã có bước đi khôn ngoan.

Ngày 2/9 ông sẽ có bài phát biểu quan trọng tuyên bố nền độc lập của Việt Nam.

Vậy Bản Tuyên ngôn độc lập sẽ nên được viết như thế nào?

Là một người cộng sản theo học thuyết Mác xít ông đã không trích dẫn một câu chữ nào trong Tuyên ngôn đảng Cộng sản vì như thế chẳng khác nào tự sát.

Liên Xô quá xa và đang kiệt quệ sau Thế chiến thứ 2, Stalin còn hiểu biết về Việt Minh quá ít, và chưa thực sự tin tưởng Hồ Chí Minh, còn nghi ngờ ông là người của Đệ tứ Quốc tế (Trotskyist) và có tư tưởng dân tộc như Tito ở Nam Tư.

Đảng CS Trung Quốc do Mao cầm đầu chưa giành được chính quyền và còn mải miết trong nội chiến với Trung Hoa Dân quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo trong thế yếu…

Chỉ có nước Mỹ mới có thể đảm bảo cho tính chính danh của chính phủ Việt Minh.

Soạn thảo xong Bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh mời Patti đến gặp.

Trên tờ danh thiếp cá nhân, ông Hồ ghi nguệch ngoạc mấy chữ ngắn gọn nhưng có vẻ thúc ép: “Nếu có thể được, cần đến gặp chúng tôi trước 12 giờ hôm nay. Hồ”. Patti không nghĩ ra được ông muốn gặp về vấn đề gì.

Patti là người Mỹ có chức vụ cao nhất ở Hà Nội lúc ấy, con đường trực tiếp ngắn nhất để Hồ Chí Minh gửi thông điệp của ông đến chính phủ Mỹ.

Patti là một nhân viên tình báo của OSS nên đây có thể là con dao hai lưỡi, nhiều khi họ phải tỏ ra “hai mặt”. Đây là cách thức họ xây dựng lòng tin để bảo vệ cho sự sống còn của mình. Hồ Chí Minh có thể biết điều này và cũng tương kế, tựu kế sử dụng Patti cho các mục đích của mình.

Ông Hồ đã cho một xe đón Patti đến ngôi nhà Hàng Ngang vào lúc 10 giờ 30. Trường Chinh dẫn Patti đến chỗ ông Hồ, ở đó thấy có nhiều người ra vào với vẻ rất hân hoan và tấp nập, bận rộn. Ông Hồ vào, vẫn ung dung và mỉm cười, ông giơ bàn tay gầy gò ra bắt chặt tay Patti và nói:

- “Tôi sợ có khi ông không nhận được thư của tôi. Tôi rất muốn trao đổi với ông về một số chủ trương và các kế hoạch tương lai của chúng tôi”.

Trường Chinh kéo mấy cái ghế lại gần bàn và họ ngồi xuống đó. Ngoài cái dáng mảnh khảnh, ông Hồ có vẻ hoàn toàn mạnh khỏe, sôi nổi và thích nói nên đã kể ngay cho Patti nghe những tin tức mới về Huế: Bảo Đại đã đọc bản Tuyên bố trước công chúng và trao ấn kiếm nhà vua cho phái đoàn của Chính phủ Lâm thời. Ông Hồ rất phấn khởi. Ông coi hành động cuối cùng này của nhà vua cũng là tàn dư cuối cùng của chủ nghĩa thực dân và mở đầu cho một thời đại mới. Nhưng ông nói thêm, như tự nói với mình, có thể cuộc đấu tranh chưa phải đã hoàn toàn kết thúc, người Trung Quốc đang tới và người Pháp đã ở sẵn đây.

“Ô, đúng, người Trung Quốc”, ông nhắc lại. Đã có báo cáo nói có xung đột nhỏ giữa người Trung Quốc và dân chúng ở Lào Cai và Hà Giang. Điều đó có thể cho ông biết được con đường mà người Trung Quốc sẽ đi chăng?

Ông sẽ phái các đại diện của chính phủ đến đón trước các đoàn quân Trung Quốc đang tiến sang để kiềm chế dân chúng địa phương nếu người Trung Quốc “ngỗ ngược” hay “quá hăm hở” để thu vét chiến lợi phẩm.

Patti nói với ông là người Nhật đã được báo tin và đã chất vấn các nhà chức trách Trung Quốc nhưng họ chưa trả lời và nhận được tin gì mới sẽ vui lòng chuyển cho ông Hồ ngay.

“Thế bao giờ thì Trương Phát Khuê tới?” – ông Hồ hỏi.

“Tôi không rõ”, Patti đáp, “Trương đã phái tướng Tiêu Văn đi cùng với quân đội Quốc dân Đảng, nhưng người chỉ huy cao cấp nhất lại là tướng Lư Hán và ông này sẽ tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật”.

Ông Hồ không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên, và sau một lúc trầm ngâm, ông cười nói, “Đây chỉ là một thủ đoạn của Tưởng Giới Thạch muốn điệu hổ ly sơn thôi. Không có quân đội của Lư Hán ở Vân Nam thì Long Vân sẽ dễ dàng bị quật đổ”.

Với một vẻ suy tư, ông tỏ ra lo lắng về việc quân Vân Nam kéo vào sẽ gây ra nhiều vấn đề không thể khắc phục được. Chúng không phải là một đội quân có kỷ luật như của Trương và ông Hồ phán đoán là sẽ có rối loạn.

Ông Hồ cũng có nói về những Việt kiều sẽ được Quốc dân Đảng kéo theo. Ông cho họ là bọn “quốc gia giả hiệu”, “đầy tớ Quốc dân Đảng”, không mảy may có liên hệ với nhân dân Việt Nam.

Bàn về ảnh hưởng của những người này có thể có đối đầu với Chính phủ Lâm thời, ông tả họ như là những người không có tổ chức, một nhóm cơ hội tranh giành nhau, tàn dư của các đảng quốc gia cũ, không có chương trình hành động cơ bản nhưng lại có quá nhiều lãnh tụ.

Theo ý ông thì điều nguy hiểm là ở cho họ có thể gây ra một sự hỗn loạn nếu như người Trung Quốc áp đặt họ lên đầu người Việt Nam như là một chính phủ bù nhìn, một khả năng mà ông không thể gạt bỏ một cách nhẹ nhàng.

Ông Hồ nhắc cho Patti hay động cơ của Trung Quốc đối với nền độc lập của Việt Nam chẳng có gì thật thà và mang tính chất vị tha. Tuy có lời tuyên bố “cao thượng” của Tưởng – “không có yêu sách về đất đai ở Đông Dương”, và sự ủng hộ “rộng rãi” của ông ta đối với các phong trào quốc gia Việt Nam ở Trung Quốc; ý đồ của họ rõ ràng không phải là tốt nhất cho người Việt Nam.

Theo quan niệm của ông Hồ thì Quốc dân Đảng muốn làm thất bại ý đồ của Pháp định khôi phục lại địa vị ở Đông Dương và muốn ngăn chặn sự liên minh của người Việt Nam với các lực lượng Cộng sản Trung Quốc trong phạm vi quyền lợi của Trung Quốc.

Để nói rõ ý mình, ông Hồ nhận xét Quốc dân Đảng đã chọn Lư Hán và Tiêu Văn thay mặt cho Long Vân và Trương Phát Khuê.

Những người này rất có ý nghĩa đối với ông Hồ. Trong 15 năm qua, tuy Thống đốc Long Vân và Lư Hán, cháu ông ta, đã chứa chấp những người Việt Nam Quốc gia thân Nhật và thân Trung Quốc trong tỉnh của họ, nhưng ông Hồ coi cả hai như là những tên tướng cướp, đã bỏ tù và giết hại nhiều người Việt Nam vô tội để che đậy cho việc buôn bán bất chính của họ ở biên giới Đông Dương.

Đối với Trương Phát Khuê và Tiêu Văn, ông Hồ tỏ ra có độ lượng hơn. Họ không thô bỉ bằng người Vân Nam nhưng cũng rất ích kỷ.

Trương tiêu biểu cho tinh thần chống Cộng của Quốc dân Đảng và ông Hồ còn nhớ sâu sắc những đau khổ, nhục nhã đã phải chịu đựng suốt 15 tháng trong nhà tù Quảng Tây của Trương.

Nhưng ông Hồ cũng nhớ đến thế lực của Tiêu Văn trong việc giải thoát cho ông khỏi tù đày và đã mang lại cho ông một địa vị quan trọng trong mặt trận quốc gia những người Quốc dân Đảng chống Pháp ở Trung Quốc.

Sự cộng tác nhất thời này không phải do vì Trương và Tiêu có cảm tình đối với ông Hồ hay phong trào của ông, mà chính là họ hy vọng có thể lợi dụng và kiểm soát được ông và tổ chức của ông.

Song lại chính ông Hồ và Việt Minh đã tận dụng được sự cộng tác ngắn ngủi đó.

Nhưng ông Hồ cho biết ông mời Patti đến không phải để bàn luận chuyện người Trung Quốc, ông muốn cho Patti hay về những kế hoạch hoạt động trong những ngày sắp tới của ông.

Ông Hồ muốn Patti là người đầu tiên được biết. Lúc đầu Patti hơi nghi ngại nên cứ nghe và không bình luận.

Ông Hồ kể nội các của ông đã họp phiên đầu tiên ngày 27-8 ở Bắc Bộ phủ, đã có quyết định chính thức hoá Chính phủ Lâm thời và lấy ngày 2-9 là Ngày Độc lập. Trong dịp này, ông sẽ công bố nền độc lập của dân tộc, sẽ giới thiệu các thành viên trong Chính phủ Lâm thời với nhân dân và sẽ vạch ra chương trình hoạt động của Chính phủ cho mọi người đều biết.

Đã có một uỷ ban để soạn thảo lời tuyên thệ nhận chức của ông và các bộ trưởng, nhưng bản thảo Bản Tuyên ngôn Độc lập còn cần phải được làm xong gấp.

Theo ông, chính đó là một trong những lý do ông muốn gặp Patti.

Ông gọi một người ở buồng bên mang bản thảo tới và đưa cho Patti với một dáng thoả mãn. Rõ ràng trong việc khởi thảo bản này ông là tác giả.

Bản tài liệu đánh máy bằng tiếng Việt Nam, có nhiều chữ bị xoá đi và được viết đè lên bằng bút mực, với nhiều ghi chú bên lề.

Patti ngây ra, và ông Hồ thấy ngay là Patti không thể đọc được. Ông Hồ cho gọi một người trẻ tuổi vào để dịch.

Trong mấy câu đầu, người phiên dịch đã nói lên một số danh từ rất đỗi quen thuộc và giống lạ lùng như bản Tuyên ngôn của Mỹ.

Câu tiếp sau là “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ”.

Patti chặn người phiên dịch lại, kinh ngạc quay sang hỏi ông Hồ có thực ông có ý định sử dụng câu đó trong bản Tuyên ngôn của ông không.

Ông Hồ ngồi dựa vào ghế, hai tay úp vào nhau, ngón tay sát vào môi một cách nhẹ nhàng và đang như suy tưởng. Với một nụ cười nhã nhặn, ông hỏi lại Patti “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”.

Patti cảm thấy ngượng ngập và lúng túng. “Tất nhiên, tại sao lại không?”.

Bình tĩnh lại, Patti nói người phiên dịch đọc lại đoạn đó từ đầu một lần nữa. Anh ta đọc: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ đã được Tạo hoá trao cho những quyền không thể chuyển nhượng lại được; trong đó có quyền tự do, quyền sống và quyền được hưởng hạnh phúc”.

Cố sức nhớ lại, Patti mới thấy các danh từ đã được chuyển vị và nhận xét là trật tự các chữ “quyền tự do” (Liberty) và “quyền sống” (Life) đã bị thay đổi.

Ông Hồ nắm ngay lấy và nói: “Đúng! Không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”.

Ông muốn nài Patti phát biểu thêm.

Patti đã phải trình bày là không biết gì hơn và cũng cảm thấy bất tiện khi nhận thấy mình đã tham gia – dù rằng rất ít – vào việc đưa ra công thức cho một thực thể chính trị và cũng không muốn tạo ra một cái cảm giác là có mình tham gia vào đó.

Ngày 2/9/1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập tại quảng trưởng Ba Đình, tuyên bố nền độc lập của Việt Nam.

Đây cũng là thời điểm đánh dấu những ngày tươi đẹp, an bình ngắn ngủi của Việt Minh đã kết thúc.

Những dự đoán tình hình của Hồ Chí Minh không còn trên giả định, mọi việc diễn ra ngay sau những ngày kế cận.

Ngày 9/9/1945 quân Tưởng do tướng Tiêu Văn dẫn đầu đã vào Hà Nội.

Lính Anh đến Sài Gòn vào ngày 6 tháng 9 và sau đó quân số được tăng cường trong nhiều tuần. Gracey và các nhân viên đến để nắm quyền kiểm soát vào ngày 13 tháng 9. Ủy ban miền Nam (của Trần Văn Giàu) ngay lập tức tiếp cận Gracey, nhưng Gracey từ chối thực hiện bất kỳ giao dịch nào với họ. Gracy chỉ quan tâm đến việc đối phó với chính quyền quân sự Nhật Bản và giúp người Pháp.

Tình hình ở Hà Nội có vẻ êm ả hơn trong những ngày đợi quân Tưởng vào, nhưng thực tế cả người Pháp, người Tàu sống ở đây đều đã có mưu toan tính toán trước.

Tại sao Tưởng Giới Thạch lại cử Lư Hán làm tổng tư lệnh và Tiêu Văn làm phó trong lực lượng quân Tưởng vào giải giáp Nhật ở phía Bắc?

Trương Phát Khuê đã từng kết nối Hồ Chí Minh với các đảng phái Việt Nam do Tưởng hậu thuẫn để tạo ra Đồng Minh Hội, mục đích thống nhất thành một tổ chức cho việc gây ảnh hưởng của Trung Hoa Dân Quốc đến Việt Nam sau này để chống lại sự ảnh hưởng và quay lại của Pháp tại Đông Dương mà chính Mỹ dưới thời TT Franklin Roosevelt đã bật đèn xanh.

Sự việc đã thay đổi khi Pháp và Anh hai nước có thuộc địa lớn nhất đã gây sức ép lên tân Tổng thống Truman người thay thế Roosevelt mới qua đời (12/4/1945).

Và Truman đã đưa ra một giải pháp thỏa hiệp, theo đó tốt nhất là để người Trung Hoa và người Pháp đàm phán với nhau về vấn đề Đông Dương, nhưng việc quân Tưởng vào phía Bắc Việt Nam theo Hội nghị Potsdam không được thay đổi.

Người Pháp với người Trung Hoa đàm phán với nhau đều được Trương Phát Khuê nắm được mục đích, Trung Hoa chỉ đòi hỏi quyền lợi kinh tế, và không có ý định hất cẳng người Pháp. Trương rất bất mãn khi không được Tưởng Giới Thạch phái sang Việt Nam giải giáp quân Nhật.

Để tránh những phiền hà, rắc rối với các lực lượng kháng chiến người Việt chống Pháp, Tưởng Giới Thạch đã cử Lư Hán – một kẻ chẳng liên quan gì đến Hồ Chí Minh và các tổ chức đảng phái trong Đồng Minh Hội –, và Tiêu Văn – một kẻ cơ hội – dẫn quân vào Việt Nam, một mặt giải giáp quân Nhật, mặt khác gây sức ép lên Pháp trong đàm phán, khi nào các thỏa thuận kết thúc sẽ rút quân để người Pháp vào thế chân, mặt khác cũng tranh thủ o ép, tống tiền Việt Minh.

Với mưu tính của Tưởng Giới Thạch như vậy, nên các đảng phái đối lập với Việt Minh về thực chất không còn chỗ bám víu vào người Trung Hoa, kết quả sau này khi quân Tưởng rút đi Việt Minh đã tổ chức tấn công không thương tiếc và tàn sát các lực lượng này trước sự làm ngơ của quân Pháp vào thay thế quân Tưởng.

Qua những gì Hồ Chí Minh đã nói chuyện với Patti trong cuộc gặp nói về bản Tuyên ngôn Độc lập, chứng tỏ ông không nắm được cụ thể tình hình việc Pháp và Trung Hoa đang đi đêm với nhau, hoặc có biết nhưng không nắm được chính xác về việc Trung Hoa không có ý định ở lại lâu dài Việt Nam, đúng như lời Tưởng Giới Thạch đã cam kết “không có yêu sách về đất đai ở Đông Dương”.

Với lập trường tin tưởng người Trung Hoa sẽ tìm cách thay thế Pháp ở Đông Dương ông đã mắc sai lầm trong đối sách mà không hề nghĩ rằng Pháp và Trung Hoa vẫn có mối quan hệ đồng minh, họ có thể mâu thuẫn về quyền lợi những để xảy ra xung đột bằng vũ lực thì khó có thể xảy ra, hơn nữa vai trò nhạc trưởng của Mỹ sẽ điều khiển tất cả.

Tại Trung Quốc, mâu thuẫn đối kháng tranh giành quyền cai trị giữa Tưởng Giới Thạch và Mao Cộng sản khiến Tưởng Giới Thạch phải hướng mục đích chính vào đó, họ cần các đồng minh khác trong đó có Pháp. Một thỏa hiệp quyền lợi để hóa giải mâu thuẫn là cách tốt đẹp nhất cho cả người Pháp và Trung Hoa.

Trong trường hợp Hồ Chí Minh nắm được đầy đủ thông tin về cuộc mua bán Đông Dương của Pháp và người Trung Hoa, trong đó người Pháp sẽ chắc chắn đưa quân đội quay lại, ông sẽ đi trước một bước thỏa hiệp với người Pháp, việc mà ông đã từ chối không đàm phán với người Pháp và yêu cầu người Mỹ can thiệp trước và sau khi cuộc tổng khởi nghĩa thành công, để cuối cùng khi quân đội Tưởng rút đi, Việt Minh vẫn phải ngồi đàm phán với người Pháp và kết quả không tránh được một cuộc chiến tranh với người Pháp.

Một điều tệ hại nữa xảy ra – Vì tin rằng người Trung Hoa sẽ muốn đặt nền cai trị ở Đông Dương nên ông cho rằng các đảng phái độc lập là kẻ thù tiềm tàng cần phải tiêu diệt – Và điều đó cũng đã làm suy yếu chính nội lực của người Việt Nam trong phòng trào chống Pháp.

Khi người Trung Hoa đã thỏa thuận trao quyền cai trị Đông Dương cho người Pháp, tất nhiên những phe phái đối lập với Việt Minh sẽ mất chỗ dựa vào Tưởng Giới Thạch, họ sẽ thay đổi lập trường của mình và hợp tác với Việt Minh một cách thật lòng.

Trong tình thế Việt Minh còn yếu ớt cả về lực lượng, kinh tế… dường như Việt Minh lại quá lắm kẻ thù đã khiến họ lâm vào bế tắc, và rối trận.

Từ chỗ nhất định không đàm phán với Pháp mà người đại diện là Jean Sainteny, lúc quân Tưởng vào ông Hồ đã bố trí cho Tiêu Văn vào ở Phủ Toàn Quyền để đuổi Sainteny ra, sau đó Hồ Chí Minh lại phải thỏa hiệp với người Pháp đưa quân quay lại để đuổi người Trung Hoa trong câu chuyện đã rồi, khi Tưởng và Pháp đã ký Hiệp ước Hoa - Pháp trước đó.

Nguồn: FB Anh Quoc

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn