Cách phê bình bị biến đổi bởi Tư bản Thân hữu

(Những bài học rút ra từ thực tiễn Trung Quốc)

Nguyên Hưng 

Thực tiễn Trung Quốc cho thấy tư bản thân hữu biến đổi phê bình mỹ thuật không bằng cách tiêu diệt nó, mà bằng cách tái cấu trúc nguồn lực, tiêu chí thẩm định, cách lịch sử hóa, quan hệ với công chúng và phân hóa nội bộ đội ngũ. Phê bình vẫn tồn tại, vẫn mang vẻ chuyên môn và học thuật, nhưng ngày càng nghiêng về việc xác nhận và hợp thức hóa hơn là chất vấn. Trong môi trường xã hội Việt Nam hiện tại, đây là một trong những cách thức hiệu quả nhất để logic dị trị thâm nhập sâu vào định chế mềm then chốt của trường nghệ thuật, làm cho khoảng tự trị tương đối vốn đã mong manh càng trở nên có điều kiện.

Trong môi trường xã hội Việt Nam hiện tại, khác với hệ thống công thời bao cấp, tư bản thân hữu bất động sản và tài chính không tác động lên phê bình mỹ thuật theo kiểu cưỡng bức thô thiển. Sự biến đổi diễn ra tinh vi hơn, thông qua việc tái cấu trúc nguồn lực, sân chơi, tiêu chí thẩm định và lập trường diễn ngôn. Phê bình dần chuyển từ vị thế trung gian tương đối độc lập sang vị thế phụ thuộc có điều kiện, trong đó năng lực chuyên môn được huy động để phục vụ logic tích lũy biểu tượng và hợp thức hóa vị thế. Đây chính là quỹ đạo đã diễn ra khá rõ ở Trung Quốc trong hơn một thập niên qua, khi tư bản tư nhân gắn với quyền lực kết hợp với định hướng văn hóa ngày càng thắt chặt, từng bước biến phê bình từ lực lượng phản tư thành mắt xích hỗ trợ niềm tin thị trường và tính chính danh.

Tranh của hoạ sĩ Quốc Thành Lê

Cơ chế biến đổi đầu tiên nằm ở việc KIỂM SOÁT và PHÂN PHỐI NGUỒN LỰC

Thực tiễn Trung Quốc cho thấy tư bản lớn tài trợ catalogue, hỗ trợ không gian xuất bản, mời viết bài cho các triển lãm quy mô và tổ chức diễn đàn mang tính biểu tượng đã nhanh chóng ĐỊNH HÌNH KHUNG ƯU TIÊN của giới viết. Nhà phê bình được tiếp cận nguồn lực và sân chơi mạnh hơn so với điều kiện độc lập thông thường. Đổi lại, tiêu chí lựa chọn đề tài và góc nhìn phân tích dần được điều chỉnh. Những bài viết chỉ ra sự lệch pha giữa giá trị trao đổi và chiều sâu thẩm mỹ, hoặc đặt câu hỏi về quan hệ quyền lực và logic đầu cơ, ngày càng ít được đặt hàng. Ngược lại, những bài nhấn mạnh tính bản sắc, tính liên tục lịch sử và vẻ đương đại an toàn được nâng đỡ. Nguồn lực không cần mua chuộc từng câu chữ; nó định hình khung ưu tiên của việc viết và xuất bản. 

Việt Nam đang đi vào quỹ đạo tương tự, chỉ khác ở quy mô và tốc độ. 

Cơ chế thứ hai là sự CHUYỂN DỊCH TIÊU CHÍ THẨM ĐỊNH

Ở Trung Quốc, khi phê bình ngày càng gắn với các bảo tàng tư nhân và bộ sưu tập lớn của "giới doanh nhân có quan hệ", các tiêu chí phân tích cấu trúc hình thức, cường độ cảm giác và tính phê phán không bị loại bỏ hoàn toàn nhưng bị sắp xếp lại thứ tự ưu tiên. Chiều sâu ý niệm được đọc thiên về khả năng gắn với diễn ngôn bản sắc hoặc lịch sử nội sinh. Tính phê phán được làm dịu thành tính “phản tư có xây dựng”. Những phẩm chất gồ ghề, bất an, khó tiêu thụ ít được nhấn mạnh hoặc được đặt vào bối cảnh trung hòa. Kết quả là chức năng thẩm định vẫn tồn tại về hình thức, nhưng nội dung thẩm định nghiêng về việc XÁC NHẬN GIÁ TRỊ hơn là CHẤT VẤN GIÁ TRỊ. Đây là bài học trực tiếp cho Việt Nam: khi nguồn lực chi phối tiêu chí, phê bình vẫn “chuyên nghiệp” nhưng đã ĐỔI CHIỀU. 

Cơ chế thứ ba nằm ở CHỨC NĂNG LỊCH SỬ HÓA

Thực tiễn Trung Quốc cho thấy khi phê bình liên minh với tư bản và định hướng văn hóa chính thống, mạch lịch sử nghệ thuật được kể theo hướng liền mạch, trưởng thành tự thân, ít đứt gãy. Tác phẩm được nối kết với câu chuyện phục hưng văn hóa, với bản sắc dân tộc hoặc với quá trình hiện đại hóa có kiểm soát. Cách lịch sử hóa này giúp HỢP THỨC HÓA MỨC GIÁ CAO và giảm thiểu các câu hỏi về tính xác thực hoặc chiều sâu tư tưởng. Phê bình không bị buộc phải nói dối, nhưng được dẫn dắt để chọn những mắt xích lịch sử thuận tiện và bỏ qua những mắt xích bất tiện. Việt Nam đang chứng kiến cùng một logic khi diễn ngôn về tranh Đông Dương và giai đoạn 1975 - 1995 được xây dựng theo hướng liên tục và nội sinh. 

Cơ chế thứ tư là SỰ BIẾN ĐỔI QUAN HỆ VỚI CÔNG CHÚNG

Ở Trung Quốc, khi phê bình được hỗ trợ mạnh về truyền thông và không gian, công chúng hóa diễn ra mạnh mẽ hơn, nhưng CÔNG CHÚNG ĐƯỢC DẪN DẮT theo hướng chấp nhận thang giá trị đã được điều chỉnh. Bài viết chuyên môn tinh tế, ngôn ngữ học thuật quốc tế và hình thức trình bày chỉnh chu tạo ra vẻ uy tín cao, đồng thời làm cho việc chất vấn trở nên khó khăn hơn. Công chúng tiếp nhận lớp diễn ngôn có vẻ chuyên nghiệp mà ít có công cụ để nhận diện logic hợp thức hóa đứng đằng sau. Đây là bài học về hiệu quả kép: vừa mở rộng ảnh hưởng, vừa làm giảm khả năng phản biện của công chúng. 

Cơ chế thứ năm là sự PHÂN HÓA NỘI BỘ ĐỘI NGŨ PHÊ BÌNH

Thực tiễn Trung Quốc cho thấy tư bản không tác động đồng đều. Một bộ phận được nâng đỡ về nguồn lực và sân chơi, dần vận hành trong khung ưu tiên của logic thân hữu và định hướng chính thống. Một bộ phận khác cố gắng giữ khoảng cách độc lập nhưng phải đối mặt với nguồn lực hạn chế, không gian xuất bản hẹp và tầm ảnh hưởng bị thu hẹp. Sự phân hóa này làm suy yếu khả năng tạo thành một lực lượng phê bình đủ mạnh để tạo đối trọng. Phê bình độc lập không bị cấm đoán hoàn toàn, nhưng bị đẩy vào thế yếu, trong khi phê bình gắn với nguồn lực lớn chiếm lĩnh các diễn đàn có tầm ảnh hưởng. 

Việt Nam đang lặp lại cấu trúc phân hóa tương tự, chỉ ở mức độ còn nhẹ hơn. 

Cuối cùng, SỰ BIẾN ĐỔI DIỄN RA Ở MỨC ĐỘ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP VÀ TỰ NHẬN THỨC

 Bài học từ Trung Quốc cho thấy nhà phê bình làm việc trong điều kiện nguồn lực bất đối xứng buộc phải thương lượng liên tục: viết đến đâu thì vẫn giữ được chuyên môn, viết đến đâu thì bắt đầu phục vụ logic hợp thức hóa. Ranh giới ấy mỏng manh và dễ bị xê dịch theo từng dự án, từng nguồn tài trợ. Theo thời gian, thói quen thương lượng trở thành THÓI QUEN TỰ ĐIỀU CHỈNH. Phê bình không cần bị kiểm duyệt trực tiếp. Nó tự điều chỉnh để phù hợp với khung ưu tiên của nguồn lực đang nâng đỡ mình. Đây chính là điểm tinh vi nhất: quyền lực không cần ra lệnh, nó tái cấu trúc điều kiện làm việc và khung ưu tiên đến mức NHÀ PHÊ BÌNH TỰ NGUYỆN ĐIỀU CHỈNH LẬP TRƯỜNG để tiếp tục được viết và được xuất bản.

Tóm lại, thực tiễn Trung Quốc cho thấy tư bản thân hữu biến đổi phê bình mỹ thuật không bằng cách tiêu diệt nó, mà bằng cách tái cấu trúc nguồn lực, tiêu chí thẩm định, cách lịch sử hóa, quan hệ với công chúng và phân hóa nội bộ đội ngũ. Phê bình vẫn tồn tại, vẫn mang vẻ chuyên môn và học thuật, nhưng ngày càng nghiêng về việc xác nhận và hợp thức hóa hơn là chất vấn. Trong môi trường xã hội Việt Nam hiện tại, đây là một trong những cách thức hiệu quả nhất để logic dị trị thâm nhập sâu vào định chế mềm then chốt của trường nghệ thuật, làm cho khoảng tự trị tương đối vốn đã mong manh càng trở nên có điều kiện. Những gì đã diễn ra ở Trung Quốc không phải là tương lai tất yếu, nhưng là tấm gương rõ nét về quỹ đạo mà Việt Nam đang tiệm cận. 

N.H.

(Trích từ sổ tay triết học nghệ thuật - phiên bản rút gọn)

Nguồn: FB Nguhuart

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn