Câu chuyện môi trường – NƯỚC*

Trả lời phỏng vấn báo Dân trí  của Tô Văn Trường  chuyên gia tài nguyên nước và môi trường.

Nguyễn Hoàng Hải thực hiện

PV: Thưa ông, nhìn từ góc độ khoa học môi trường, đâu là nguyên nhân chính khiến nhiều sông ở Hà Nội như sông Nhuệ, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét vẫn có nước đen, mùi hôi kéo dài. Nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất, làng nghề, bùn ô nhiễm tích tụ hay do dòng chảy quá yếu?

TVT: Chúng ta cần có góc nhìn rộng hơn, hiện nay không chỉ có sông Nhuệ, Lừ, Sét, Kim Ngưu ở Hà Nội bị ô nhiễm, mà có thể nói rằng, vấn đề ô nhiễm nguồn nước ở nước ta đã ở mức nghiêm trọng, cả khu vực thành thị và nông thôn, ở hầu hết các con sông. 

Việc kiểm soát nguồn gây ô nhiễm đã có cải thiện, đặc biệt là ở các điểm xả thải tập trung như các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các nhà máy lớn, tuy nhiên, có thể nói việc xả thải nước sinh hoạt và các cơ sở sản xuất phân tán hầu như chưa được và rất khó kiểm soát. Với quá trình đô thị hóa nhanh, hạ tầng dân cư phát triển, mở rộng và năng lực sản xuất và tiêu thụ hàng hóa ngày càng tăng, lượng nước thải sinh hoạt và nước thải từ các cơ sở sản xuất cũng ngày càng tăng theo tương ứng. Hầu hết các đô thị và khu vực dân cư, sản xuất phân tán của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải riêng biệt với hệ thống thoát nước mưa. 

Nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất nếu không được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn trước khi xả thải ra môi trường thì các dòng sông ngày càng ô nhiễm, sẽ đến thời điểm sẽ trở thành các con sông chết như sông Nhuệ, Lừ, Sét, Kim Ngưu. Do đó, đã đến lúc (nói đúng hơn là đã quá muộn) chúng ta phải thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất trước khi xả ra môi trường.

Ngoài áp lực từ nước thải chưa được xử lý, còn có một nguyên nhân khách quan là dòng chảy rất hạn chế. Khi lượng nước thải đưa vào vượt quá khả năng tự làm sạch của dòng sông, các chất hữu cơ bị phân hủy trong điều kiện thiếu oxy gây ra màu đen, mùi hôi và hiện tượng suy thoái hệ sinh thái.

PV:  Việc nước thải từ các cống, khu dân cư, cơ sở sản xuất chảy trực tiếp xuống sông nguy hiểm như thế nào đối với hệ sinh thái và sức khỏe người dân? Để xác định một điểm xả có gây ô nhiễm nghiêm trọng hay không cần xét nghiệm những chỉ tiêu nào như BOD5, COD, amoni, coliform, kim loại nặng…?

TVT: Nước thải sinh hoạt gây nhiều nguy hại tức thời đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người mà ai cũng nhận thấy: cá chết, nước hôi thối không sử dụng được, thậm chí không xử lý được để cung cấp nước sạch, lại gây khó khăn cho giao thông đường thủy, và nhất là gây ô nhiễm môi trường sống của người dân ven các dòng sông, kênh... Hơn thế nữa, nước thải công nghiệp và hoạt động làng nghề có thể gây tác hại lâu dài như khi kim loại nặng (chì, cadimi, thủy ngân...) xâm nhập hệ sinh thái nước từ đó có thể xâm nhập cơ thể con người. Điều này đặc biệt nghiêm trọng khi nguồn nước ô nhiễm được dùng để cấy trồng: Chất ô nhiễm tích tụ trong nông sản rồi đi vào cơ thể người tiêu thụ nông sản. 

Mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào thành phần nước thải và con đường phơi nhiễm. Nước thải sinh hoạt chưa xử lý chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh, chất hữu cơ làm suy giảm oxy trong nước; trong khi nước thải công nghiệp có thể chứa các chất độc khó phân hủy như kim loại nặng, hóa chất hữu cơ. Những chất này nếu tích tụ lâu dài trong môi trường nước, đất và chuỗi thức ăn sẽ gây rủi ro lớn cho sức khỏe cộng đồng.

Thông thường cần đánh giá nhóm chỉ tiêu hữu cơ như BOD5, COD, oxy hòa tan (DO); nhóm dinh dưỡng như amoni, nitrit, nitrat, photphat; nhóm vi sinh như coliform, E.coli; và tùy nguồn thải cần kiểm tra thêm kim loại nặng, dầu mỡ, hóa chất đặc thù. Không thể chỉ dựa vào một vài chỉ tiêu riêng lẻ để kết luận mức độ ô nhiễm.

Để xác định tình trạng ô nhiễm, ta đã có Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp cũng như yêu cầu đảm bảo chất lượng nước mặt, nước ngầm, là những cơ sở pháp quy để thực hiện tuân thủ, trong đó chỉ định các thông số phải xét nghiệm và giới hạn cho phép của những thông số này.

PV: Hà Nội đang dành nguồn lực rất lớn để cải tạo các dòng sông. Theo ông, thứ tự ưu tiên đúng phải là gì: chặn và xử lý toàn bộ nguồn thải, nạo vét bùn đáy, tạo dòng chảy, bổ cập nước hay chỉnh trang cảnh quan?

Nếu chưa khóa được nguồn xả mà đã nạo vét, bổ cập nước theo ông nguy cơ “làm sạch rồi lại ô nhiễm” có xảy ra không?

TVT: Trong các giải pháp phóng viên nêu, theo tôi, việc quan trọng nhất là thu gom rốt ráo và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn theo quy định. Nguồn ô nhiễm chưa được kiểm soát là nguyên nhân cơ bản và nếu giải quyết được vấn đề này thì tất cả các giải pháp khác đều không có ý nghĩa trong việc giảm thiểu ô nhiễm nước. 

Cần phân định mức ưu tiên chứ ta không có đủ nguồn lực để làm tất cả bước đầu. Ví dụ, đặt ưu tiên cho sông hoặc kênh được dùng để cấp nước sinh hoạt (ưu tiên 1) hoặc nước tưới tiêu nông nghiệp (ưu tiên 2). Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là ví dụ cho thấy những công trình có vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp và dân sinh cần được ưu tiên kiểm soát ô nhiễm, bởi khi nguồn nước suy giảm chất lượng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều địa phương. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng đề án cải tạo, chỉnh trang và phát huy đa giá trị hệ thống thủy lợi này, trong đó nhóm giải pháp ưu tiên 1 là kiểm soát ô nhiễm, sau đó mới đến cải tạo hạ tầng thủy lợi và chỉnh trang, cảnh quan.

Trong các dự án cải thiện môi trường, việc thu gom các dòng xả để xử lý và kiểm soát các nguồn xả (không cho xả tự do ra môi trường nữa) là khâu thiết yếu, không thực hiện sẽ không đạt kết quả.

Một dòng sông muốn hồi sinh phải tiếp cận theo nguyên tắc chữa bệnh từ gốc. Nạo vét chỉ loại bỏ phần hậu quả đã tích tụ; bổ cập nước chỉ có tác dụng pha loãng trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu nguồn ô nhiễm vẫn tiếp tục đổ vào thì mọi khoản đầu tư trước đó sẽ nhanh chóng mất tác dụng.

PV: Để chấm dứt tình trạng xả thải bừa bãi xuống sông, Hà Nội cần thay đổi cách quản lý như thế nào? Có nên lập bản đồ công khai toàn bộ cửa xả, gắn quan trắc tự động/camera tại các điểm xả lớn, truy xuất nguồn nước thải và quy trách nhiệm cụ thể cho từng đơn vị, địa phương hay không?

TVT: Việc xả nước thải, đặc biệt là nước thải sinh hoạt không riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội, mà có thể nói là trên cả nước xảy ra tràn lan, mọi nơi, mọi chỗ. Do đó, không cần thiết phải gắn các thiết bị quan trắc để nhận biết. Không thể và cũng không cần thiết phải lắp đặt thiết bị quan trắc tự động tại mọi điểm xả nhỏ lẻ vì chi phí rất lớn và hiệu quả quản lý không tương xứng. Tuy nhiên, với các nguồn thải lớn, nguồn thải có nguy cơ cao, việc quan trắc tự động, truyền dữ liệu trực tuyến là cần thiết để kiểm soát liên tục và xử lý trách nhiệm khi có vi phạm.

Việc người gây ô nhiễm phải trả chi phí để xử lý ô nhiễm là một công việc hiển nhiên. Việc thu phí nước thải được quy định trong Nghị định 346/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, theo đó nói chung phí nước thải bằng 10% giá bán nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Việc này có điểm hợp lý là hễ dùng nước sạch thì có nước thải, cho nên dùng nước sạch tới mức nào thì phải trả tiền nước thải tương ứng tới mức đó. 

Tuy nhiên, thu phí nước thải chỉ là một công cụ kinh tế hỗ trợ quản lý, không thể thay thế trách nhiệm bắt buộc và đặc biệt là nhận thức của các tổ chức, cá nhân trong việc xử lý nước thải đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường.

PV: Xin cám ơn tiến sĩ!  

T.V.T. – N.H.H.                                    

TS. Tô Văn Trường gửi BVN

(*) Đầu đề do BVN đặt.

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn