Nông nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Xuất khẩu tỷ đô, vì sao người nông dân vẫn chưa giàu?

Tô Văn Trường

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 70 tỷ USD là thành tựu đáng tự hào. Nhưng sức mạnh của nền nông nghiệp còn phải được nhìn từ khả năng tích lũy của người sản xuất. Nếu nông dân vẫn bấp bênh sau mỗi vụ mùa, chúng ta cần nhìn lại cách tạo ra, phân chia giá trị và chia sẻ rủi ro trong cả chuỗi.

Năm 2025, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024. Thành tích ấy khẳng định năng lực sản xuất và vị thế của nông sản Việt Nam. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu không thể thay lời giải cho câu hỏi: người trực tiếp làm ra sản phẩm được hưởng bao nhiêu?

Không phải mọi nông dân đều khó khăn. Nhưng những thời điểm giá nông sản giảm, chi phí tăng và người sản xuất chỉ mong hòa vốn cho thấy một giới hạn của mô hình phát triển: làm ra nhiều hơn chưa chắc sống tốt hơn. Chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, vì thế, phải bắt đầu từ hiệu quả và sự an toàn sinh kế của người nông dân.

Giá trị xuất khẩu không phải thu nhập của nông dân

Kim ngạch xuất khẩu phản ánh giá trị giao dịch của cả chuỗi, từ sản xuất đến thu gom, chế biến, bảo quản, vận chuyển và thương mại. Đó không phải lợi nhuận của ngành, càng không phải thu nhập của người trồng trọt, chăn nuôi. Muốn đánh giá hiệu quả thực chất, phải tính đủ chi phí, kể cả công lao động gia đình và hao mòn tư liệu sản xuất.

Cũng không nên quy mọi bất lợi cho thương lái hay khâu trung gian. Sấy, bảo quản, vận chuyển và tìm kiếm thị trường đều tạo giá trị, đòi hỏi vốn và chịu rủi ro. Điều cần làm rõ là chi phí có minh bạch, cạnh tranh có lành mạnh và lợi ích có được phân chia tương xứng với đóng góp hay không.

Nông dân thường yếu thế vì bán sản phẩm khi cần tiền trả chi phí vụ trước và chuẩn bị vụ sau. Nếu thiếu kho, thiếu vốn và thông tin, họ khó chờ giá thuận lợi. Trong hoàn cảnh ấy, tăng năng suất chưa chắc cải thiện quyền thương lượng. Một hợp đồng đáng tin cậy, khả năng bảo quản và nguồn tín dụng phù hợp có thể quan trọng không kém một giống mới.

Cần phân biệt có lãi với có khả năng làm giàu. Một hộ có lợi nhuận trên mỗi hecta nhưng diện tích quá nhỏ vẫn khó tích lũy. Một vụ được giá chưa chắc bù nổi nhiều vụ thua lỗ. Bài toán thu nhập vì vậy phải tính cả quy mô sản xuất, năng suất lao động và độ ổn định qua nhiều năm, thay vì chỉ so giá bán với chi phí một vụ.

Khi thu nhập chỉ đủ duy trì một vụ sản xuất, nông dân khó dành tiền cho thiết bị, kỹ năng hoặc dự phòng. Thiếu tích lũy lại khiến họ dễ phụ thuộc vào vốn vay và bán sớm. Muốn thoát vòng luẩn quẩn ấy, người sản xuất cần có thêm khả năng lựa chọn và đầu tư dài hạn.

Giữ lợi thế của cây lúa, không giữ mọi cánh đồng bằng mọi giá

Lúa gạo có vị trí chiến lược, nhưng an ninh lương thực không đồng nghĩa với duy trì trồng lúa trên mọi diện tích bất chấp điều kiện tự nhiên. Với Đồng bằng sông Cửu Long, hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún, thiếu phù sa và biến động dòng chảy đang đặt ra yêu cầu tổ chức lại sản xuất theo từng vùng sinh thái.

Nơi có lợi thế về đất và nước cần phát triển lúa chất lượng cao, phát thải thấp; vùng thích hợp có thể chuyển sang cây ăn trái, thủy sản hoặc kết hợp lúa - tôm, lúa - cá. Tuy nhiên, chuyển đổi không phải cuộc chạy đua theo giá. Một loại cây đang có giá cao chưa chắc phù hợp với nguồn nước, năng lực bảo quản và thị trường tiêu thụ khi diện tích tăng lên.

Mỗi phương án cần tính đủ chi phí đầu tư, thời gian chờ thu hoạch, rủi ro đầu ra và khả năng quay lại mô hình cũ. Nghiên cứu giống chịu hạn, chịu mặn, chịu phèn phải đi trước; hạ tầng và doanh nghiệp liên kết phải theo kịp. Không thể vận động nông dân chuyển đổi rồi để họ tự tìm thị trường và gánh toàn bộ tổn thất.

Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp gợi mở hướng tăng giá trị bằng cách giảm đầu vào. Một số mô hình thí điểm ghi nhận lợi nhuận tăng khoảng 4-7,6 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, kết quả thí điểm chưa tự động bảo đảm hiệu quả trên diện rộng. Cần làm rõ điều kiện áp dụng, chi phí tổ chức và khả năng duy trì lợi ích qua nhiều vụ sản xuất.

Điều thuyết phục nông dân phải là hiệu quả có thể kiểm chứng: giảm chi phí, giữ chất lượng, có đầu ra và lợi nhuận ổn định. Khi cần duy trì vùng lúa vì lợi ích an ninh lương thực, cũng cần cơ chế chia sẻ chi phí phù hợp. Không nên để người giữ nền tảng an ninh lương thực phải chấp nhận sinh kế bấp bênh như một nghĩa vụ mặc nhiên.

Nước mặn không chỉ là nguy cơ

Nước mặn là bất lợi với cây lúa và sinh hoạt, nhưng có thể là nguồn lực cho thủy sản tại những vùng phù hợp. Đồng bằng cần được quản lý theo sự phân bố nước ngọt, nước lợ, nước mặn và biến động theo mùa. Tư duy sử dụng nước phải bắt đầu từ nhu cầu của từng vùng sinh thái, thay vì chỉ đặt mục tiêu ngăn mặn ở mọi nơi.

Điều đó không có nghĩa mở rộng nuôi tôm bằng mọi giá. Nếu lợi nhuận dựa trên khai thác nước ngầm quá mức, suy giảm rừng ngập mặn hay xả thải không kiểm soát, cái được trước mắt có thể phải trả bằng thiệt hại lâu dài. Một mô hình có lãi cho từng hộ chưa chắc có lợi cho cả vùng nếu chi phí môi trường được chuyển sang cộng đồng.

Vì vậy, chuyển đổi sinh kế phải đi cùng quản lý nguồn nước, cấp thoát nước, kiểm soát dịch bệnh và sức chịu tải môi trường. Công trình thủy lợi cần phục vụ các mục tiêu ấy bằng vận hành linh hoạt, phối hợp giữa các vùng. Sống thuận tự nhiên không phải phó mặc cho tự nhiên, mà là hiểu giới hạn của nó để lựa chọn cách đầu tư và sản xuất phù hợp.

Nước không dừng ở ranh giới thửa ruộng. Chuyển đổi đơn lẻ có thể gây xung đột giữa nơi cần giữ ngọt và nơi cần lấy mặn. Do đó, lựa chọn cây trồng, vật nuôi phải được xem xét cùng phương án quản lý nước của cả khu vực. Lợi ích của một mô hình không thể tách khỏi ảnh hưởng đến sinh kế chung.

Tập trung sản xuất, tăng quyền cho người có đất

Tổ chức lại sản xuất là điều kiện để vượt qua bất lợi nhỏ lẻ. Nhưng tập trung sản xuất không nhất thiết đồng nghĩa với chuyển đất vào tay một số chủ thể. Điều cần liên kết là đất đai, vốn, công nghệ, dữ liệu, dịch vụ và thị trường; đồng thời bảo đảm quyền lợi của người có đất.

Hợp tác xã, thuê đất dài hạn, góp quyền sử dụng đất hay liên kết vùng nguyên liệu đều có thể được lựa chọn tùy điều kiện. Mỗi hình thức cần làm rõ cách chia lợi ích, phân bổ rủi ro và xử lý khi liên kết chấm dứt. Quy mô lớn chỉ có ý nghĩa khi tạo hiệu quả thực chất, không phải khi diện tích được cộng lại trên giấy.

Hợp tác xã phải đủ năng lực tổ chức quy trình, kiểm soát chất lượng, mua chung vật tư, sơ chế, bảo quản và thương lượng hợp đồng. Khi đó, nông dân mới có thể tham gia sâu hơn vào các khâu tạo giá trị, thay vì chỉ bán nguyên liệu. Tuy nhiên, tập hợp nhiều hộ không tự động tạo sức mạnh nếu quản trị thiếu minh bạch hoặc người điều hành thiếu năng lực kinh doanh.

Thành công của hợp tác xã nên được đo bằng thu nhập tăng thêm, chi phí giảm và mức độ tin cậy của xã viên. Nông dân cần được tiếp cận thông tin, tham gia quyết định và giám sát phân phối lợi ích. Họ phải là người đồng kiến tạo chuỗi giá trị, không chỉ là bên thực hiện quy trình do người khác đặt ra.

Không thể dùng “giải cứu” thay cho quản trị rủi ro

Thu mua tạm trữ có thể cần thiết khi thị trường biến động, nhưng không thể thay thế việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ. Nếu đầu vụ khuyến khích mở rộng, cuối vụ mới tìm nơi tiêu thụ, rủi ro đã được tạo ra trước khi giá giảm. Quản trị chuỗi phải bắt đầu từ thông tin cung - cầu và kế hoạch sản xuất.

Hợp đồng liên kết cần làm rõ tiêu chuẩn chất lượng, phương pháp xác định giá, thời hạn thanh toán và cách xử lý biến động bất thường. Không nên chỉ yêu cầu nông dân giữ cam kết khi giá tăng mà thiếu cơ chế bảo vệ họ lúc giá giảm; cũng không thể buộc doanh nghiệp gánh mọi tổn thất. Liên kết bền vững cần trách nhiệm hai chiều và nguyên tắc chia sẻ rủi ro có thể thực hiện.

Tín dụng, kho bảo quản, bảo hiểm nông nghiệp và công cụ phòng ngừa biến động giá cần được thiết kế phù hợp với từng ngành hàng. Những công cụ ấy không xóa được rủi ro, nhưng có thể giảm tình trạng người sản xuất phải tự gánh tất cả. Vai trò của Nhà nước là tạo thông tin đáng tin cậy, hạ tầng và môi trường giao dịch minh bạch, thay vì chỉ can thiệp khi nông sản đã ùn ứ.

Khoa học phải được trả công bằng giá trị tạo ra

Khoa học chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi kết quả nghiên cứu đến được nơi sản xuất và tạo lợi ích đủ rõ. Nếu một giống mới dừng ở nghiệm thu, một thiết bị không phù hợp khả năng đầu tư của nông dân, thì thành tích nghiên cứu chưa chuyển thành năng lực cạnh tranh.

Cần đặt hàng từ những vấn đề cụ thể: giảm bao nhiêu chi phí, thích ứng được với điều kiện nào, giảm tổn thất sau thu hoạch ra sao, giúp người sản xuất tăng thu nhập đến đâu. Đánh giá kết quả phải tính khả năng áp dụng và duy trì trong thực tế, không chỉ số đề tài hoặc mô hình trình diễn. Với nghiên cứu giống cần nhiều năm, phải bảo đảm nguồn lực dài hạn và đánh giá theo từng chặng.

Kinh nghiệm gắn nghiên cứu với chuyển giao, doanh nghiệp và chia sẻ lợi ích cần được vận dụng phù hợp. Nhà khoa học có đóng góp phải được hưởng lợi hợp pháp từ thương mại hóa; doanh nghiệp có động lực đầu tư thử nghiệm; nông dân được tham gia phản hồi và kiểm chứng. Thiếu một mắt xích, công nghệ tốt vẫn có thể nằm ngoài cánh đồng.

Có thể nghiên cứu quỹ nhân tài và đổi mới sáng tạo nông nghiệp, ưu tiên giống thích ứng, công nghệ sinh học, nuôi thủy sản, bảo quản, logistics lạnh và giảm phát thải. Kinh phí cần gắn với kết quả và trách nhiệm giải trình. Cùng với đó là đào tạo những “kỹ sư của cánh đồng” hiểu kỹ thuật, dữ liệu và thị trường, đủ khả năng làm việc cùng hợp tác xã và nông dân.

Công nghệ cũng cần được chọn bằng hiệu quả, không phải độ mới hay mức độ đắt tiền. Với hộ nhỏ, dịch vụ dùng chung qua hợp tác xã có thể phù hợp hơn yêu cầu từng hộ tự mua thiết bị. Đổi mới sáng tạo chỉ có ý nghĩa khi người sản xuất tiếp cận được và sử dụng có lợi.

Thước đo cuối cùng là khả năng sống tốt bằng nghề nông

Nghị quyết 19-NQ/TW và Kết luận 219-KL/TW đã đặt ra yêu cầu nâng cao đời sống nông dân, phát triển nông nghiệp hiệu quả, bền vững. Để yêu cầu ấy đi vào thực chất, hệ thống đánh giá cần theo dõi lợi nhuận ròng, thu nhập trên lao động, khả năng tích lũy và mức độ ổn định qua nhiều năm, bên cạnh năng suất, sản lượng và kim ngạch.

Cũng phải tính lượng nước, vật tư và tài nguyên sử dụng để tạo ra giá trị. Tăng trưởng dựa vào đất suy thoái, nguồn nước suy giảm hoặc lao động gia đình được tính quá rẻ không thể xem là thành công bền vững. Thu nhập hôm nay phải đi cùng khả năng tiếp tục sản xuất ngày mai.

Nông dân sẽ tự nguyện tham gia mô hình mới khi nhìn thấy lợi ích đáng tin cậy và có quyền quyết định. Vì vậy, chính sách cần hướng tới năng lực làm chủ của họ: làm chủ thông tin, lựa chọn sản xuất, tham gia thương lượng và được bảo vệ trước những rủi ro vượt quá khả năng của từng hộ.

Với lúa gạo, lợi thế lâu dài phải chuyển từ bán nhiều sang chất lượng, khác biệt và thương hiệu. Giá trị tăng thêm cần được truyền trở lại người thực hiện quy trình tốt. Nếu nông dân phải chịu chi phí đáp ứng tiêu chuẩn mà không nhận lợi ích tương xứng, lời kêu gọi sản xuất xanh sẽ khó trở thành động lực bền vững.

Nông nghiệp Việt Nam cần tiếp tục mở rộng thị trường và nâng cao vị thế xuất khẩu. Nhưng con số tỷ đô chỉ trọn vẹn ý nghĩa khi chuyển thành khả năng tích lũy, tái đầu tư và cuộc sống tốt hơn trên đồng ruộng. Kỷ nguyên mới của nông nghiệp phải được nhận ra trong đời sống người nông dân: họ có thể làm giàu chính đáng, chủ động gắn bó với nghề và tin rằng thế hệ sau còn một tương lai đáng lựa chọn.

T.V.T.

Tác giả gửi BVN 

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn