TS Luật Cù Huy hà Vũ: Kiến nghị bảo tồn hồ Hoàn Kiếm và xây “Cổng Khải Hoàn” tại Quần Ngựa, Hà Nội

TS Luật Cù Huy Hà Vũ

Di sản phải được tôn trọng đúng với lịch sử của nó, và chiến thắng phải được tưởng niệm đúng nơi lịch sử trao cho nó chính danh.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

________________________

KIẾN NGHỊ

BẢO TỒN HỒ HOÀN KIẾM VÀ XÂY “CỔNG KHẢI HOÀN” 

TẠI QUẦN NGỰA, HÀ NỘI

Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2026

Kính gửi:  Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

      Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng

             Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

Đồng kính gửi:

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

Bộ Xây dựng;

     Bộ Quốc phòng;

Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội;

Sở Xây dựng thành phố Hà Nội;

Hội Kiến trúc sư Việt Nam;

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam;

Các cơ quan nghiên cứu, báo chí, truyền thông và những người quan tâm tới lịch sử, di sản và tương lai kiến trúc của Thủ đô.

Tôi là Cù Huy Hà Vũ, Tiến sĩ Luật, địa chỉ thường trú tại 24 Điện Biên Phủ, phường Ba Đình, Hà Nội, hiện tạm trú tại California, Hoa Kỳ, trân trọng gửi tới Quý Lãnh đạo, Quý Cơ quan và Quý vị Kiến nghị sau đây.

TÓM TẮT KIẾN NGHỊ

Tôi hoàn toàn ủng hộ việc cải tạo, chỉnh trang, mở rộng không gian công cộng và nâng cao chất lượng cảnh quan khu vực Hồ Hoàn Kiếm – một trong những không gian lịch sử – văn hóa đặc biệt nhất của Thủ đô và của Việt Nam. Chính vì giá trị đặc biệt ấy, tôi kiến nghị không xây dựng tại phía Bắc Hồ Hoàn Kiếm – Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục công trình “Khải hoàn môn” được đề xuất trong phương án điều chỉnh cục bộ Quy hoạch phân khu đô thị khu vực hồ Hoàn Kiếm và phụ cận đang được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức lấy ý kiến nhân dân.

Kiến nghị này xuất phát từ một nguyên tắc giản dị nhưng không thể nhân nhượng: di sản phải được tôn trọng đúng với lịch sử của nó, và chiến thắng phải được tưởng niệm đúng nơi lịch sử trao cho nó chính danh.

Vì vậy, bảo tồn Hồ Hoàn Kiếm và xây Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa không phải hai yêu cầu tách rời, càng không phải sự đối lập giữa bảo tồn và sáng tạo. Đó là hai vế của cùng một trách nhiệm đối với lịch sử dân tộc: không xây sai chỗ và không để một cuộc trở về vĩ đại thiếu một biểu tượng xứng đáng.

Lý do không phải vì Việt Nam không cần một công trình “khải hoàn”. Ngược lại, một dân tộc đã nhiều lần phải đứng lên chống ngoại xâm; một dân tộc đã đi qua chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp; một dân tộc đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ – đỉnh cao quân sự quyết định của cuộc kháng chiến; một quân đội đã trở về tiếp quản Thủ đô ngày 10/10/1954 trong niềm hân hoan của nhân dân – dân tộc ấy hoàn toàn có đủ lịch sử, đủ chiến công và đủ phẩm giá để có một Cổng Khải Hoàn của chính mình.

Nhưng Cổng Khải Hoàn chỉ thật sự có sức mạnh khi đứng đúng nơi. Hồ Hoàn Kiếm không thiếu biểu tượng. Hồ Hoàn Kiếm đã mang trong chính tên gọi của mình một thông điệp hoàn chỉnh: nhận gươm – chiến đấu – chiến thắng – hoàn kiếm – trở về hòa bình. Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục cũng đã mang ký ức riêng về khai dân trí, canh tân và tự cường. Đặt một đại vật thể “khải hoàn” tại đó có nguy cơ làm những lớp ký ức đã tồn tại phải lùi xuống làm phông nền cho một biểu tượng mới.

Trong khi ấy, Quần Ngựa có điều mà Hồ Hoàn Kiếm không có: chính danh trực tiếp của cuộc khải hoàn ngày 10/10/1954. Đúng 8 giờ sáng ngày 10/10/1954, Trung đoàn Thủ đô xuất phát từ Sân vận động Quần Ngựa, tiến qua các phố Hà Nội để vào Thành Hà Nội. Đối với những người lính từng chiến đấu trong lòng Hà Nội rồi rời Thủ đô để tiếp tục kháng chiến, đó là “ngày về vinh quang”.

Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa phải lấy ngày 10/10/1954 làm hạt nhân lịch sử trực tiếp, nhưng không dừng lại ở một đơn vị quân đội hay một ngày kỷ niệm. Từ cuộc trở về của Trung đoàn Thủ đô và Quân đội nhân dân Việt Nam sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Cổng Khải Hoàn phải vươn tới tầm vóc của một biểu tượng quốc gia về ý chí độc lập, sức sống dân tộc và truyền thống chiến thắng ngoại xâm của Việt Nam qua nhiều thế kỷ.

Đó không phải là việc gán mọi chiến thắng của lịch sử Việt Nam cho Quần Ngựa. Quần Ngựa trao cho Cổng Khải Hoàn địa điểm; ngày 10/10/1954 trao cho Cổng Khải Hoàn sự kiện; chiến thắng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trao cho Cổng Khải Hoàn tầm vóc dân tộc; lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam trao cho Cổng Khải Hoàn chiều sâu quốc gia.

Bởi đây phải là một công trình của Việt Nam, cho Việt Nam và có khả năng tồn tại nhiều thế hệ, thiết kế của nó không được sao chép Khải Hoàn Môn ở Paris và không được khóa trước bằng chiều cao 36 mét hay bất kỳ ngôn ngữ kiến trúc có sẵn nào. Hình thức kiến trúc của Cổng Khải Hoàn phải được xác lập trên cơ sở chính danh lịch sử, điều kiện không gian – đô thị của Quần Ngựa và kết quả thi tuyển phương án kiến trúc xứng tầm quốc gia.

Bảo tồn Hồ Hoàn Kiếm – xây Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa

I. VẤN ĐỀ KHÔNG PHẢI “CÓ HAY KHÔNG CÓ CỔNG KHẢI HOÀN” – MÀ LÀ “CỔNG KHẢI HOÀN PHẢI ĐƯỢC DỰNG Ở ĐÂU?”

Tranh luận về công trình “Khải hoàn môn” tại phía Bắc Hồ Hoàn Kiếm sẽ đi sai hướng nếu bị giản lược thành hai phe: một bên muốn xây dựng biểu tượng mới và một bên chỉ muốn bảo tồn cái cũ.

Bảo tồn và sáng tạo không đối lập nhau. Một thành phố lớn phải biết bảo tồn những nơi đã trở thành di sản, đồng thời cũng phải đủ bản lĩnh để sáng tạo những biểu tượng mới cho tương lai. Nhưng bảo tồn phải đúng nơi. Và sáng tạo cũng phải đúng nơi.

Vì vậy, câu hỏi đầu tiên đối với một công trình có thể tồn tại hàng trăm năm không nên chỉ là “Công trình có đẹp không?” hay “Công trình cao bao nhiêu mét?”, mà phải là: “Tại sao công trình này phải đứng ở đây?”

Đó là câu hỏi về chính danh địa điểm. Một công trình biểu tượng càng lớn, càng lâu bền, càng có khả năng thống trị cảnh quan thì nghĩa vụ chứng minh chính danh địa điểm của nó càng cao.

Nếu cùng một vật thể có thể chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác mà ý nghĩa gần như không thay đổi, thì quan hệ giữa công trình với địa điểm là yếu. Ngược lại, nếu một địa điểm chứa chính sự kiện mà công trình tưởng niệm, khiến việc chuyển công trình đi nơi khác làm suy giảm rõ rệt ý nghĩa của nó, thì địa điểm ấy có chính danh mạnh.

Hồ Hoàn Kiếm yếu về chính danh đối với Cổng Khải Hoàn.

Quần Ngựa mạnh về chính danh đối với Cổng Khải Hoàn.

II. HỒ HOÀN KIẾM KHÔNG PHẢI MỘT KHOẢNG TRỐNG CHỜ MỘT BIỂU TƯỢNG MỚI

Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ [1]. Nhưng ngay cả trước khi có danh hiệu pháp lý ấy, Hồ Gươm đã là một trong những không gian biểu tượng mạnh nhất của Việt Nam. 

Sức mạnh ấy không nằm ở sự đồ sộ. Tháp Rùa không cần cao nhất; Tháp Bút không cần lớn nhất; Cầu Thê Húc không cần hoành tráng nhất; Đền Ngọc Sơn không cần thống trị đường chân trời. Những công trình ấy có sức mạnh vì chúng tồn tại trong một chỉnh thể ký ức gồm mặt nước, cây xanh, khoảng trời, kiến trúc thấp, đường phố, truyền thuyết, lịch sử và ký ức cộng đồng.

Một đại vật thể mới không nhất thiết phải che khuất Tháp Rùa mới gây tổn hại tới cảnh quan. Nó có thể không che bất cứ di tích nào nhưng vẫn thống trị di tích; có thể tạo ra một “khung nhìn” mới khiến toàn bộ Hồ Gươm dần được nhìn qua kiến trúc mới; có thể trở thành phông nền mặc định của truyền thông, lễ hội và hình ảnh đô thị.

Khi đó, những biểu tượng đã hình thành qua nhiều thế hệ vẫn còn nguyên về vật chất nhưng bị thay đổi thứ bậc trong ký ức. Đó là một dạng mất mát tinh tế hơn phá hủy vật thể, nhưng không vì thế mà ít nghiêm trọng hơn.

Hồ Gươm không phải một phông nền cần được “hoàn thiện” bằng một biểu tượng mới. 

Hồ Gươm đã là biểu tượng.

III. “HOÀN KIẾM” ĐÃ ĐƯA TƯ TƯỞNG CHIẾN THẮNG ĐẾN MỘT TẦNG CAO HƠN “KHẢI HOÀN”

Phản biện sâu nhất đối với việc đặt “Khải hoàn môn” ở Hồ Gươm không phải là lập luận rằng đó là một loại hình “phương Tây”. Một dân tộc tự tin không cần sợ hãi một hình thức kiến trúc chỉ vì hình thức ấy từng tồn tại ở nơi khác. Việt Nam hoàn toàn có thể sáng tạo một Cổng Khải Hoàn của chính mình.

Vấn đề nằm ở nội dung của địa điểm Hồ Hoàn Kiếm. Truyền thuyết Hồ Gươm đặt chiến thắng trong một cấu trúc đặc biệt: NHẬN GƯƠM – CHIẾN ĐẤU – CHIẾN THẮNG – TRẢ GƯƠM.

Nếu “khải hoàn” nhấn mạnh người chiến thắng trở về, thì “Hoàn Kiếm” kể tiếp câu chuyện sau cuộc trở về ấy: người chiến thắng trả lại gươm. Vũ lực có thể cần thiết để bảo vệ độc lập; chiến thắng có thể là điều kiện để dân tộc tồn tại; nhưng chiến thắng không phải trạng thái cuối cùng mà dân tộc hướng tới. Trạng thái cuối cùng là hòa bình.

Hồ Hoàn Kiếm không phủ nhận chiến thắng. Hồ Hoàn Kiếm chứa đựng chiến thắng nhưng vượt qua sự phô diễn chiến thắng. Bảo tồn Hồ Hoàn Kiếm vì vậy không phải là từ chối lòng tự hào dân tộc, mà là tôn trọng một biểu đạt sâu sắc của bản lĩnh Việt Nam: biết chiến đấu khi đất nước bị xâm lăng, biết chiến thắng để giữ độc lập, và biết đặt thanh gươm xuống khi hòa bình đã trở lại.

Hồ Hoàn Kiếm không cần Cổng Khải Hoàn, bởi lịch sử của Hồ Hoàn Kiếm đã đi từ chiến thắng đến hoàn kiếm và hòa bình.

IV. QUẢNG TRƯỜNG ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC KHÔNG PHẢI LÀ MỘT KHOẢNG TRỐNG VÔ DANH

Phía Bắc Hồ Hoàn Kiếm còn mang một lớp ký ức khác: Đông Kinh Nghĩa Thục. Đó là ký ức về khai dân trí, giáo dục, canh tân và tự cường. Tên của quảng trường không chỉ là một địa danh hành chính; nó đã mang nội dung lịch sử.

Một đại công trình mới đủ lớn và đủ áp đảo có thể khiến địa điểm tiếp tục mang tên Đông Kinh Nghĩa Thục trên bản đồ nhưng trong trí nhớ xã hội dần được nhận diện chủ yếu qua công trình mới. Không nên để xảy ra sự thay thế ký ức ấy.

Một cấu trúc văn hóa cân bằng hơn là: Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục nói về KHAI DÂN TRÍ – CANH TÂN – TỰ CƯỜNG; Hồ Hoàn Kiếm nói về CHIẾN THẮNG – HOÀN KIẾM – HÒA BÌNH. 

Hồ Hoàn Kiếm và Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, mỗi nơi đã có tiếng nói lịch sử của chính mình. Không cần một đại vật thể mới đứng giữa chúng để nói thay cả hai.

V. CỔNG KHẢI HOÀN CẦN MỘT “NGỮ PHÁP KHÔNG GIAN” KHÁC

Một Cổng Khải Hoàn không chỉ là một vật thể để nhìn. Ý nghĩa mạnh nhất của “cổng” nằm trong hành vi đi qua: có người tiến đến, có một trục hành tiến, có một ngưỡng phải vượt qua, có một phía trước và một phía sau, có một cuộc trở về, có người đón chào.

Do đó, Cổng Khải Hoàn thuộc về ngữ pháp TRỤC – HÀNH TIẾN – VƯỢT QUA – TRỞ VỀ – NGHI LỄ. Trong khi Hồ Gươm thuộc về ngữ pháp MẶT NƯỚC – KHOẢNG MỞ – ĐA ĐIỂM – CHUYỂN TIẾP – CHỒNG LỚP KÝ ỨC.

Không phải một ngữ pháp tốt và một ngữ pháp xấu. Vấn đề là đúng chỗ hay sai chỗ. 

Chính ở đây Quần Ngựa xuất hiện không phải như một địa điểm thay thế tùy tiện, mà như câu trả lời của lịch sử.

VI. QUẦN NGỰA: ĐỊA ĐIỂM CỦA “NGÀY VỀ”

Đúng 8 giờ sáng ngày 10/10/1954, Trung đoàn Thủ đô xuất phát từ Sân vận động Quần Ngựa để tiến vào trung tâm Hà Nội. Các nguồn lịch sử chính thức ghi nhận cánh quân phía Tây do Trung đoàn Thủ đô đảm nhiệm xuất phát từ Quần Ngựa, theo hướng Kim Mã và các phố trung tâm tiến vào Thành Hà Nội [6][7].

Không có sự giải thích hậu nghiệm nào cần được dựng lên để tạo quan hệ giữa địa điểm và khải hoàn. Sự kiện đã xảy ra tại đó. Quần Ngựa là nơi đoàn quân bắt đầu ngày về.

Đối với Trung đoàn Thủ đô, chữ “về” mang một ý nghĩa đặc biệt. Các đơn vị Vệ quốc quân, và các lực lượng công an xung phong, tự vệ sau đó hợp thành Trung đoàn Thủ đô đã chiến đấu bảo vệ Hà Nội ngay từ những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, bắt đầu ngày 19 tháng 12 năm 1946; sau đó rút khỏi Thủ đô để bảo toàn lực lượng và tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ. Đến ngày 10/10/1954, họ trở lại Hà Nội trong đoàn quân chiến thắng. Đó là “ngày về vinh quang” [8].

Vì thế, tại Quần Ngựa tồn tại một chu trình lịch sử hoàn chỉnh: CHIẾN ĐẤU – RA ĐI KHÁNG CHIẾN – CHIẾN THẮNG – KHẢI HOÀN.

Nếu một Cổng Khải Hoàn được dựng tại đây, người đời sau không cần hỏi “Tại sao Cổng lại ở Quần Ngựa?”. Lịch sử tự trả lời: “Bởi chính từ đây đoàn quân chiến thắng đã trở về.” Đó là chính danh địa điểm.

Quần Ngựa – điểm xuất phát của ngày trở về.

Cổng Khải Hoàn – hình thức kiến trúc của cuộc trở về trong chiến thắng.

VII. NGÀY 10/10/1954 KHÔNG CHỈ LÀ NGÀY TRỞ VỀ CỦA MỘT ĐOÀN QUÂN

Nếu chỉ nhìn Trung đoàn Thủ đô như một đơn vị hành quân từ Quần Ngựa vào nội thành Hà Nội, ta sẽ nhìn quá hẹp sự kiện. Đằng sau đoàn quân ấy là chín năm kháng chiến trường kỳ của cả dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp.

Đằng sau ngày 10/10/1954 là hàng triệu người đã chiến đấu, lao động, vận chuyển, sản xuất, hy sinh và chịu đựng để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Đằng sau cuộc trở về Hà Nội là chiến thắng của một cuộc chiến tranh ở quy mô toàn quốc. Và trên đỉnh cao quân sự của cuộc chiến ấy là Điện Biên Phủ.

Ngày 10/10/1954 vì vậy không thể bị thu nhỏ thành một cuộc diễu hành. Đó là khoảnh khắc chiến thắng của cả dân tộc hiện diện hữu hình trên đường phố Thủ đô. Nếu Trung đoàn Thủ đô là chủ thể trực tiếp của cuộc trở về từ Quần Ngựa, thì phía sau Trung đoàn là Quân đội nhân dân Việt Nam; và phía sau Quân đội là cả dân tộc Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ.

Từ đây, ý nghĩa của Cổng Khải Hoàn được nâng lên: nó không chỉ tưởng niệm một đơn vị quân đội; không chỉ đánh dấu một địa điểm; không chỉ kỷ niệm một ngày. 

Đó là Cổng Khải Hoàn của đoàn quân mang chiến thắng của cả dân tộc trở về Thủ đô.

VIII. TỪ CUỘC KHẢI HOÀN NĂM 1954 ĐẾN CHIỀU SÂU NHIỀU THẾ KỶ CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC

Tầm vóc quốc gia của Cổng Khải Hoàn không dừng lại ở cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thăng Long – Hà Nội là một kinh đô có lịch sử đặc biệt. Trong nhiều thế kỷ, quân xâm lược đã nhiều lần tiến vào hoặc chiếm giữ kinh thành.

Quân Mông – Nguyên từng nhiều lần tiến vào Thăng Long nhưng cuối cùng không khuất phục được triều Trần và Đại Việt. Quân Minh từng chiếm Đông Đô, sau đổi thành Đông Quan, và thiết lập ách đô hộ, nhưng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi – Nguyễn Trãi lãnh đạo cuối cùng đã đánh bại quân Minh, khôi phục nền độc lập dân tộc. Quân Thanh tiến vào Thăng Long cuối năm 1788 nhưng bị quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Hoàng đế Quang Trung đánh tan trong cuộc phản công thần tốc đầu xuân Kỷ Dậu 1789, với những chiến thắng quyết định tại Ngọc Hồi – Đống Đa. Thực dân Pháp thiết lập chế độ thuộc địa kéo dài nhiều thập niên, rồi trở lại tiến hành chiến tranh nhằm tái lập ách đô hộ, nhưng cuối cùng thất bại trước cuộc kháng chiến của toàn dân tộc Việt Nam, với Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang nòng cốt, mà Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là đỉnh cao quân sự [9].

Mỗi thời đại khác nhau. Mỗi cuộc chiến khác nhau. Không được giản lược nhiều thế kỷ lịch sử thành một câu chuyện duy nhất. Nhưng trong chiều sâu ấy vẫn có một hằng số: dân tộc Việt Nam có thể bị đặt trước những thử thách khốc liệt, kinh đô có thể có lúc bị giặc ngoại xâm tiến vào hoặc chiếm giữ, nhưng ý chí độc lập của dân tộc không bị chinh phục.

Đây là tầng nghĩa quốc gia mà Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa có thể biểu đạt. Nhưng phải giữ một ranh giới sử học rõ ràng: không phải mọi đoàn quân chiến thắng đều từng đi qua Quần Ngựa, và Cổng Khải Hoàn không được biến thành một cuốn biên niên sử bằng đá cố gắng kể tất cả các cuộc chiến.

Chính danh của Quần Ngựa bắt nguồn trực tiếp từ 10/10/1954. Từ hạt nhân lịch sử có thật ấy, Cổng Khải Hoàn có quyền vươn lên thành biểu tượng của một phẩm chất lớn hơn: ý chí không chịu mất nước và năng lực giành lại quyền làm chủ đất nước của dân tộc Việt Nam.

Quần Ngựa trao địa điểm.

10/10/1954 trao sự kiện khải hoàn.

Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp trao tầm vóc dân tộc.

Lịch sử chống ngoại xâm trao chiều sâu quốc gia.

IX. TẠI SAO PHẢI LÀ “CỔNG KHẢI HOÀN” MÀ KHÔNG PHẢI “TƯỢNG ĐÀI CHIẾN THẮNG”?

Nếu nội dung chỉ là tưởng niệm chiến thắng, một tượng đài có thể là một khả năng. Nhưng ngày 10/10/1954 chứa một hành vi khác biệt: TRỞ VỀ.

Trung đoàn Thủ đô không chỉ trở về sau chiến thắng; những người lính trở về Thủ đô – trái tim của cả nước, nơi họ đã phải rời đi để tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ. Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ giành thắng lợi trên chiến trường; đại quân chiến thắng tiến vào tiếp quản Thủ đô. Nhân dân Hà Nội không chỉ đón mừng kết thúc chiến tranh; họ đứng bên đường đón đoàn quân của mình trở về.

Chính hành vi đi – trở về – bước qua ngưỡng – tiến vào kinh thành làm cho hình thức CỔNG có một khả năng biểu đạt mà tượng đài đứng yên không có. Cổng không chỉ được nhìn; cổng được đi qua. Cổng tạo một ngưỡng giữa hành trình chiến đấu và sự trở về. Cổng biến chuyển động lịch sử thành trải nghiệm không gian.

Vì thế, trong trường hợp Quần Ngựa và ngày 10/10/1954, “Cổng Khải Hoàn” không phải một tên gọi trang trí. Nó là sự tương ứng trực tiếp giữa loại hình kiến trúc và cấu trúc của sự kiện lịch sử.

Kiến nghị này không đề xuất một “biểu tượng khải hoàn” chung chung, mà xác định rõ: Cổng Khải Hoàn.

X. CỔNG KHẢI HOÀN CỦA VIỆT NAM KHÔNG THỂ LÀ BẢN SAO CỦA ARC DE TRIOMPHE Ở PARIS

Khẳng định loại hình Cổng Khải Hoàn không có nghĩa khóa trước hình thức kiến trúc. Đây là sự phân biệt quyết định: khóa nội dung – mở sáng tạo; khóa loại hình – mở kiến trúc.

Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa không được trở thành một Khải Hoàn Môn Paris thu nhỏ, phóng lớn hoặc “Việt hóa” bằng vài hoa văn trang trí. 

Không được mặc định công trình phải cao 36 mét; phải có hai cánh; phải có một vòm theo tỷ lệ cổ điển; phải mang một hình thức “Á Đông” được lựa chọn sẵn; hoặc phải đồ sộ chỉ để chứng minh tầm vóc.

Tầm vóc biểu tượng không đồng nghĩa với kích thước vật thể. Một công trình quốc gia phải lớn trước hết ở ý nghĩa, sức sáng tạo, khả năng sống cùng thành phố và khả năng đi vào ký ức nhiều thế hệ.

Thiết kế Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa phải được xác lập hoàn toàn mới trên cơ sở chính danh lịch sử của địa điểm, cấu trúc đô thị hiện hữu và kết quả thi tuyển phương án kiến trúc xứng tầm quốc gia.

XI. TỔ CHỨC THI TUYỂN PHƯƠNG ÁN KIẾN TRÚC XỨNG TẦM QUỐC GIA

Một công trình muốn đại diện cho ký ức của dân tộc không thể chỉ là sản phẩm của một quyết định hành chính khép kín. Nó cần trở thành một cuộc sáng tạo quốc gia.

Điều 17 Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 quy định việc thi tuyển phương án kiến trúc nhằm lựa chọn phương án tối ưu và xác định các trường hợp phải thi tuyển phương án kiến trúc, trong đó có công trình tượng đài, công trình biểu tượng về truyền thống, văn hóa, lịch sử và các công trình quan trọng, điểm nhấn trong đô thị [4]. Quy định chi tiết hiện hành cho phép tổ chức thi tuyển rộng rãi theo pháp luật [5].

Đối với Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa, cần đi xa hơn mức tối thiểu của thủ tục: biến việc thi tuyển thành một sự kiện sáng tạo kiến trúc quốc gia; mời mọi kiến trúc sư, nghệ sĩ, nhà thiết kế người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước tham gia; đồng thời mở cửa cho trí tuệ quốc tế khi phù hợp với pháp luật và yêu cầu của cuộc thi.

Trung tâm tinh thần của cuộc thi phải là Việt Nam. Đề bài không nên yêu cầu thí sinh sao chép một “vòm khải hoàn”, mà phải đặt ra thách thức: sáng tạo Cổng Khải Hoàn của Việt Nam thế kỷ XXI tại nơi Trung đoàn Thủ đô bắt đầu ngày trở về 10/10/1954; một công trình vừa mang ký ức cụ thể của Hà Nội, vừa đủ sức biểu đạt chiều sâu lịch sử và lòng tự hào của dân tộc Việt Nam.

Công trình của dân tộc – địa điểm của lịch sử – sáng tạo của người Việt toàn cầu.

XII. NHỮNG NGUYÊN TẮC KHÔNG ĐƯỢC ĐÁNH ĐỔI TRONG CUỘC THI

Thứ nhất, hạt nhân lịch sử phải là ngày 10/10/1954 và cuộc trở về của Trung đoàn Thủ đô – Quân đội nhân dân Việt Nam từ Quần Ngựa.

Thứ hai, tầm biểu tượng phải vượt lên trên một đơn vị quân đội để phản ánh thắng lợi của cuộc kháng chiến toàn dân tộc chống thực dân Pháp.

Thứ ba, chiều sâu lịch sử có thể đối thoại với truyền thống chống ngoại xâm của Việt Nam qua nhiều thế kỷ, nhưng không được biến các thời đại khác nhau thành một câu chuyện lịch sử giả tạo.

Thứ tư, Cổng Khải Hoàn phải là kiến trúc Việt Nam đương đại; không sao chép Paris và không giản đơn trang trí một mô hình ngoại lai bằng các họa tiết Việt Nam.

Thứ năm, quy mô phải được xác định trên cơ sở điều kiện thực tế của Quần Ngựa hôm nay: chức năng thể thao – công cộng, hệ thống giao thông Liễu Giai – Văn Cao – Đội Cấn, cảnh quan, mật độ xây dựng, trục nhìn và đời sống cư dân.

Thứ sáu, công trình phải tạo được nghi thức “đi qua” và khả năng tổ chức các sự kiện tưởng niệm, nhưng đồng thời phải sống được trong đời sống thường ngày của thành phố.

Thứ bảy, Hội đồng thi tuyển phải có tính liên ngành và có uy tín quốc gia, bao gồm kiến trúc, quy hoạch, lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, cảnh quan và các chuyên ngành liên quan.

Thứ tám, các phương án vào vòng cuối phải được công khai để giới chuyên môn và nhân dân tham gia đánh giá. Một biểu tượng quốc gia không thể được quyết định sau những cánh cửa khép kín để quốc dân chỉ biết đến khi mọi việc đã xong.

XIII. BẢO TỒN HỒ HOÀN KIẾM VÀ XÂY CỔNG KHẢI HOÀN LÀ HAI MẶT CỦA CÙNG MỘT Ý THỨC LỊCH SỬ

Có thể có người cho rằng phản đối một Khải hoàn môn tại Hồ Gươm rồi lại đề nghị xây Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa là mâu thuẫn. Thực ra hoàn toàn ngược lại. Đó chính là sự nhất quán.

Kiến nghị này không phản đối Cổng Khải Hoàn. Kiến nghị phản đối Cổng Khải Hoàn sai địa điểm. Tương tự, bảo tồn không có nghĩa đóng băng Hà Nội. Một Thủ đô ngàn năm văn hiến không thể chỉ sống bằng những biểu tượng của quá khứ; Hà Nội thế kỷ XXI có quyền và có trách nhiệm tạo ra những công trình mới có khả năng trở thành di sản của tương lai.

Nhưng để một công trình mới có thể trở thành di sản, nó phải bắt đầu bằng sự tôn trọng di sản.

Bảo tồn Hồ Hoàn Kiếm không phải là không xây Cổng Khải Hoàn, mà là không xây sai chỗ.

Xây Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa là đặt biểu tượng đúng nơi cuộc khải hoàn lịch sử ấy đã bắt đầu.

XIV. CĂN CỨ PHÁP LÝ CHO NGUYÊN TẮC “BẢO TỒN ĐÚNG CHỖ – SÁNG TẠO ĐÚNG CHỖ”

Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025, thiết lập khuôn khổ bảo vệ di sản không chỉ đối với yếu tố gốc mà còn đối với những tác động có khả năng ảnh hưởng tiêu cực tới cảnh quan văn hóa và không gian liên quan [2].

Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 tiếp tục đặt việc bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa và khu vực nội đô lịch sử vào vị trí đặc biệt trong quản lý và phát triển Thủ đô [3]. Do đó, đối với Hồ Hoàn Kiếm, câu hỏi pháp lý và quy hoạch không thể chỉ là “Công trình có đứng đúng ranh giới đất hay không?”, mà còn phải là “Công trình có làm thay đổi bất lợi cảnh quan văn hóa, trật tự thị giác và khả năng cảm nhận một Di tích quốc gia đặc biệt hay không?”.

Mặt khác, Luật Kiến trúc mở ra công cụ phù hợp cho việc sáng tạo biểu tượng mới: thi tuyển phương án kiến trúc [4]. Hai yêu cầu này không đối nghịch. Chúng gặp nhau trong một chính sách hợp lý: 

Hồ Gươm – thận trọng tối đa với can thiệp kiến trúc mới. 

Quần Ngựa – sáng tạo tối đa trên nền tảng chính danh lịch sử và quy hoạch phù hợp.

XV. CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG ĐỂ ĐƯỢC SỐNG TRONG HÒA BÌNH

Cổng Khải Hoàn không được tôn vinh chiến tranh. Điều được tôn vinh là quyền của một dân tộc được sống độc lập sau khi đã buộc phải chiến đấu để bảo vệ sự tồn tại của mình.

Lịch sử Việt Nam đủ dài và đủ đau thương để hiểu rằng chiến tranh tự thân không phải điều đáng ca ngợi. Điều đáng ca ngợi là một dân tộc không chấp nhận mất nước; biết đứng lên khi Tổ quốc bị xâm lược; biết chịu đựng, chiến đấu và hy sinh để giành lại quyền tự quyết; và sau chiến thắng lại trở về xây dựng cuộc sống hòa bình.

Bởi vậy, Hồ Hoàn Kiếm và Quần Ngựa không đối lập nhau. Ở Quần Ngựa là trở về trong chiến thắng. Ở Hồ Hoàn Kiếm là trả gươm để trở về hòa bình. Hai không gian có thể trở thành hai chương nối tiếp của cùng một triết lý lịch sử Việt Nam:

Khi Tổ quốc bị xâm lược, có thể phải cầm gươm để giữ nước.

Khi đã buộc phải chiến đấu, phải chiến thắng để giữ độc lập.

Nhưng mục đích cuối cùng của chiến thắng là để dân tộc được sống trong hòa bình.

XVI. KẾT LUẬN

Việt Nam không thiếu chiến thắng. Hà Nội không thiếu lịch sử. Hồ Hoàn Kiếm càng không thiếu biểu tượng.

Vấn đề đặt ra cho thế hệ hôm nay không phải là chúng ta có đủ khả năng dựng một công trình lớn hay không. Vấn đề là chúng ta có đủ bản lĩnh lịch sử để bảo tồn đúng nơi phải bảo tồn và xây dựng đúng nơi phải xây dựng hay không.

Một Thủ đô tự tin không cần đặt một đại vật thể bên Hồ Hoàn Kiếm để chứng minh mình hiện đại. Một dân tộc tự hào về chiến thắng của mình cũng không cần mượn chính danh của một địa điểm không thuộc về cuộc khải hoàn ấy. Bởi cuộc khải hoàn ngày 10/10/1954 đã có một địa điểm lịch sử trực tiếp của chính nó: Quần Ngựa.

Từ Quần Ngựa, Trung đoàn Thủ đô bắt đầu ngày về. Phía sau Trung đoàn Thủ đô là Quân đội nhân dân Việt Nam. Phía sau quân đội là chín năm kháng chiến trường kỳ của cả dân tộc. Và phía sau chín năm ấy là chiều sâu nhiều thế kỷ của một quốc gia đã không ngừng bảo vệ quyền độc lập và quyền tự quyết của mình.

Dựng Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa vì vậy không đơn thuần là dựng thêm một công trình kiến trúc. Đó là đặt biểu tượng của cuộc trở về đúng nơi cuộc trở về bắt đầu; là trao hình hài kiến trúc cho ký ức chiến thắng của một dân tộc; là để thế hệ hôm nay trả món nợ biết ơn đối với những người đã chiến đấu và hy sinh, đồng thời trao lại cho các thế hệ mai sau một biểu tượng xứng đáng với lịch sử mà họ được thừa hưởng.

Đó cũng là trách nhiệm của lòng yêu nước đối với lịch sử: không đặt biểu tượng của chiến thắng sai chỗ; không để di sản bị lấn át; không để một cơ hội sáng tạo biểu tượng quốc gia bị thu nhỏ thành một phương án kiến trúc đã định sẵn.

Hồ Hoàn Kiếm – bảo tồn.

Quần Ngựa – Cổng Khải Hoàn.

10/10/1954 – ngày trở về trong chiến thắng.

Dân tộc Việt Nam – chủ thể của chiến thắng.

XVII. KIẾN NGHỊ CHỐT

Từ những căn cứ lịch sử, văn hóa, kiến trúc và pháp lý nêu trên, tôi trân trọng kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội:

MỘT: Không xây dựng “Khải hoàn môn” tại phía Bắc Hồ Hoàn Kiếm – Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục; tiếp tục cải tạo, chỉnh trang khu vực trên nguyên tắc bảo tồn Hồ Hoàn Kiếm như một chỉnh thể lịch sử – văn hóa, lấy cảnh quan, khoảng mở, cây xanh, tầm nhìn, con người và các lớp ký ức hiện hữu làm trung tâm.

HAI: Xác lập chủ trương nghiên cứu xây dựng Cổng Khải Hoàn tại Quần Ngựa, lấy cuộc xuất phát tiến vào tiếp quản Thủ đô ngày 10/10/1954 của Trung đoàn Thủ đô làm chính danh lịch sử trực tiếp của địa điểm.

BA: Xác định Cổng Khải Hoàn là công trình mang tầm vóc biểu tượng quốc gia: ngày 10/10/1954 là hạt nhân lịch sử; thắng lợi của chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp là nền tảng dân tộc; truyền thống chống ngoại xâm của Việt Nam qua nhiều thế kỷ là chiều sâu lịch sử.

BỐN: Tổ chức thi tuyển rộng rãi phương án kiến trúc ở tầm quốc gia, huy động những năng lực sáng tạo xuất sắc của Việt Nam trong nước và ở nước ngoài, đồng thời mở rộng sự tham gia quốc tế khi phù hợp với pháp luật và mục tiêu của cuộc thi.

NĂM: Nhiệm vụ thi tuyển phải hướng tới sáng tạo một Cổng Khải Hoàn Việt Nam của thế kỷ XXI: không sao chép Khải Hoàn Môn Paris hoặc bất kỳ mẫu hình nước ngoài nào, không giản đơn “Việt hóa” một mô hình ngoại lai bằng họa tiết trang trí, mà phải tạo ra một ngôn ngữ kiến trúc mới, phù hợp với lịch sử, không gian và tầm vóc biểu tượng của Quần Ngựa.

SÁU: Trước khi xác định quy mô và vị trí chính xác, tiến hành đầy đủ nghiên cứu lịch sử, quy hoạch, giao thông, kiến trúc, cảnh quan, không gian công cộng và tác động xã hội tại Quần Ngựa; lấy những kết quả này làm dữ liệu bắt buộc của nhiệm vụ thi tuyển.

BẢY: Thành lập Hội đồng thi tuyển có uy tín quốc gia và tính liên ngành; công khai các phương án vào vòng cuối để giới chuyên môn và nhân dân tham gia đánh giá trước khi quyết định.

Một quyết định như vậy sẽ không chỉ giải quyết đúng cuộc tranh luận hôm nay xung quanh Hồ Hoàn Kiếm. Nó có thể để lại cho Hà Nội và Việt Nam một lựa chọn lịch sử: bảo tồn được một biểu tượng đã sống cùng dân tộc qua nhiều thế kỷ, đồng thời kiến tạo một biểu tượng mới tại nơi lịch sử thực sự trao cho nó chính danh.

Lòng yêu nước khi ấy không chỉ là cảm xúc – mà trở thành trách nhiệm đối với ký ức.

Niềm tự hào dân tộc không chỉ nhìn về quá khứ – mà trở thành năng lực sáng tạo cho tương lai.

Và chiến thắng của cha ông không chỉ được kể lại – mà được trao một hình hài xứng đáng để đi cùng dân tộc qua những thế hệ mai sau.

Trân trọng.

NGƯỜI KIẾN NGHỊ

                                                                                        

CÙ HUY HÀ VŨ

Tiến sĩ Luật

Email: Cuhuyhavuvietnam@gmail.com

Nguồn tham khảo chính

[1] Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.

[2] Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024, có hiệu lực từ 01/07/2025.

[3] Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 ngày 28/06/2024.

[4] Luật Kiến trúc số 40/2019/QH14 ngày 13/06/2019, đặc biệt Điều 17 về thi tuyển phương án kiến trúc.

[5] Nghị định số 85/2020/NĐ-CP ngày 17/07/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kiến trúc và các văn bản sửa đổi, bổ sung còn hiệu lực.

[6] Báo Nhân Dân, tư liệu về quá trình tiếp quản và Giải phóng Thủ đô ngày 10/10/1954, trong đó xác nhận Trung đoàn Thủ đô xuất phát từ khu vực Quần Ngựa tiến vào trung tâm Hà Nội.

[7] Báo Nhân Dân, “Những địa danh gắn liền với Ngày Giải phóng Thủ đô”, tư liệu về Trung đoàn Thủ đô đóng quân tại Sân vận động Quần Ngựa và xuất phát từ đây lúc 8 giờ sáng ngày 10/10/1954.

[8] Báo Quân đội nhân dân, “Trung đoàn Thủ Đô anh hùng – Ngày về vinh quang”, 28/09/2014.

[9] Các tài liệu sử học về những cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên, chống Minh, chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa và lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp; được sử dụng trong Kiến nghị nhằm xác lập chiều sâu lịch sử của truyền thống chống ngoại xâm, không nhằm đồng nhất các cuộc chiến hoặc gán các sự kiện đó cho địa điểm Quần Ngựa.

Tác giả gửi BVN

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn