Nỗi niềm Tâm lý học

Mạc Văn Trang 

Từ số phận của ngành Tâm lý học, suy ra các ngành khoa học khác chắc cũng vậy. Một tổ chức nghiên cứu khoa học cần ổn định càng lâu dài càng tốt, từ đó mới có các nhà khoa học đầu đàn, tạo thành ekip nối tiếp theo đuổi nhiều năm một lĩnh vực, mới hy vọng có những phát hiện mới, đóng góp mới. Thay đổi tổ chức xoành xoạch cũng phá vỡ các liên hệ quốc tế mà đơn vị đã dày công hợp tác.

Có cảm giác, các nhà lãnh đạo Việt Nam từ cấp tỉnh, cấp bộ trở lên – họ coi các nhà nghiên cứu như các viên chức, các tổ chức nghiên cứu như đơn vị hành chính, cứ tuỳ ý sắp xếp theo ý chí chủ quan, với tầm nhìn ngắn hạn, thực dụng.

Nhận được Thư mời tham gia Hội nghị Tâm lý học Nhân cách thế giới lần thứ 5, 2027 (5th World Conference on Personality 2027), tôi biết mình không tham dự được, nên tìm mấy bạn đồng nghiệp, chuyển thư cho họ đi dự.

Tìm Viện Tâm lý học thuộc Viện Hàn lâm KHXH VN – Viện hàng đầu của cả nước, nơi trước đây tôi thường cộng tác, nay giật mình, Viện mới nhập với Viện Xã hội học, gọi là Viện Xã hội học và Tâm lý học, thuộc Viện HLKHXH VN. Viện có 4 Phòng nghiên cứu Xã hội học, Tâm lý học chỉ có 2 phòng nghiên cứu: Phòng Tâm lý học xã hội và Ứng dụng và Phòng Tâm lý học Văn hóa. Mấy phòng nghiên cứu chuyên sâu trước đây của Viện Tâm lý học, trong đó nghiên cứu Tâm lý Nhân cách, không còn nữa.

Tìm về Ban Tâm lý học của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (KHGD VN) nơi tôi từng nghiên cứu, là Trung tâm Tâm lý học hàng đầu cả nước, những năm 1970 - 2000, nơi đào tạo TS Tâm lý học đầu tiên của cả nước. Nay “tan tác” hết rồi! Năm 2000, ông Bộ trưởng Giáo dục đổi Viện thành “Viện nghiên cứu Chiến lược và Chương trình giáo dục”, đưa hết những ban nghiên cứu chuyên sâu của Tâm lý học, Giáo dục học về các trường đại học.

Ông Bộ trưởng sau lại tái lập Viện KHGD VN, “trả lại tên cho em” và tái lập Ban Tâm lý học… 

Nay 2026, ông Bộ trưởng mới lại quy hoạch Viện KHGDVN thành “Viện Chiến lược và Chính sách giáo dục”, đâu còn Ban Tâm lý học?

Từ số phận của Tâm lý học, suy ra các ngành khoa học khác chắc cũng vậy. Một tổ chức nghiên cứu khoa học cần ổn định càng lâu dài càng tốt, từ đó mới có các nhà khoa học đầu đàn, tạo thành ekip nối tiếp theo đuổi nhiều năm một lĩnh vực, mới hy vọng có những phát hiện mới, đóng góp mới. Thay đổi tổ chức xoành xoạch cũng phá vỡ các liên hệ quốc tế mà đơn vị đã dày công hợp tác.

Có cảm giác, các nhà lãnh đạo Việt Nam từ cấp tỉnh, bộ trưởng trở lên coi các nhà nghiên cứu như các viên chức, các tổ chức nghiên cứu như đơn vị hành chính, cứ tuỳ ý sắp xếp theo ý chí chủ quan, với tầm nhìn ngắn hạn, thực dụng.

Viện KHGD phải nghiên cứu hàng trăm vấn đề rất cơ bản, chi ly của giáo dục. Còn chiến lược, chính sách giáo dục, trước đây BT Tạ Quang Bửu, BT Trần Hồng Quân đã có sáng kiến rất hay là: lấy Viện làm Thường trực của nhóm nghiên cứu chiến lược; nhóm gồm các chuyên gia được tuyển chọn khắp cả nước và cả ở nước ngoài… Xong việc thì giải tán.

Viện nghiên cứu phải bền vững căn cơ, Viện mà ăn xổi, thì chỉ như kết quả nghiên cứu Kit test covid -19!

Ivan Petrovich Pavlov (Liên xô) phải nghiên cứu, thực nghiệm với đàn chó hơn 20 năm mới ra lý thuyết “Phản xạ có điều kiện”, được giải Nobel về sinh lý học thần kinh và tâm lý học.

Hàng chục nhà Tâm lý học nổi tiếng của Liên xô đều nghiên cứu ở các Viện Tâm lý học 30-40 năm.

Jean Piaget (Thuỵ sĩ) phải theo đuổi đề tài sự phát triển tâm lý của trẻ em “từ không đến có diễn ra như thế nào” và các giai đoạn phát triển ra sao suốt hơn 30 năm…

B. F. Skinner (Mỹ) đã nghiên cứu mấy chục năm về hành vi chuột, bồ câu rồi chuyển sang hành vi người… Khiến ông trở thành nhà Tâm lý học hành vi hiện đại có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20…

Carl Gustav Jung, người phát triển học thuyết Phân tâm học từ S. Freud, để rồi xây dựng nên học thuyết tâm lý học phân tích như một hệ thống lý luận toàn diện, có ảnh hưởng sâu rộng trong thế kỷ 20…

Howard Gardner (Mỹ) phải miệt mài hơn 20 năm nghiên cứu Tâm lý học phát triển mới ra được công trình thuyết đa trí tuệ (như được nêu trong cuốn sách năm 1983 Frames of Mind: The theory of Multiple Intelligences).

Nêu vài trường hợp tiêu biểu để thấy, muốn có công trình khoa học thì nhà khoa học đó phải yên tâm say sưa nghiên cứu nhiều năm liền và phải đào tạo được các “đệ tử” kế tục sự nghiệp, mới thành trường phái khoa học.

Ở đại học Harvard có đề tài nghiên cứu Tâm lý học nhân cách theo dõi đến 60 năm: nghiên cứu đặc điểm tính cách của một nhóm trẻ em, rồi theo dõi từng giai đoạn trưởng thành, cho đến già, sẽ khác biệt như thế nào. Từ đó có thể chẩn đoán sớm sự phát triển nhân cách của con người nói chung…

Nói như học giả Phạm Quỳnh, người ta nghiên cứu phụng sự nhân loại, ta chưa làm được thì nghiên cứu để phụng sự quốc gia...

Nhưng để phụng sự quốc gia thì cũng phải yên tâm, say sưa nghiên cứu nhiều năm, chứ cứ nhấp nha nhấp nhổm thì nghiên với cứu gì!

Ở Việt Nam, cũng có những nhà Tâm lý học được đào tạo bài bản, nhưng đều không phát triển được. Như tôi biết, bà Đỗ Thị Xuân, học trò trực tiếp của J. Piaget, nhưng về nước không phát triển được, vì trái với Tâm lý học Marxit, thậm chí còn sống trong lo hãi.

GS Viện sĩ TSKH Tâm lý học Phạm Minh Hạc được đào tạo ở Liên Xô, về làm Viện trưởng Viện KHGD mấy năm thì lên Ban Khoa giáo TƯ, UVTƯ Đảng, Bộ trưởng Giáo dục… Rồi ra đi!

GS TS Phạm Tất Dong cũng được đào tạo từ Liên Xô, về là Trưởng ban Tâm lý học, Viện KHGD, ông rất say sưa nghiên cứu, anh em đặt nhiều kỳ vọng. Nhưng lại lên Phó ban Khoa giáo TƯ. Rồi về hưu.

GS TSKH Tâm lý học Hồ Ngọc Đại, người say sưa nhiệt huyết làm khoa học “nhất thế giới”. Người hơn 50 năm miệt mài thực nghiệm dạy trẻ em ở Nga rồi Việt nam, mà không bảo vệ được sách giáo khoa Tiểu học Công nghệ giáo dục, do ông lãnh đạo. Ông đã nghiên cứu theo kiểu “quảng canh” mà thế giới không ai học được! Ông nghỉ hưu thì Trung tâm Công nghệ giáo dục, Trường thực nghiệm giao cho người khác quản lý, dù họ chẳng hiểu gì về “Công nghệ giáo dục”. Ông không có “đệ tử” nào là GS, TS bảo vệ và nối tiếp phát triển “Trường phái Công nghệ giáo dục”. Thật tiếc.

Từ ngành Khoa học Tâm lý, nghĩ sang các ngành Khoa học khác, không biết có chung số phận?

TÓM LẠI, tôi nghĩ, làm khoa học dành cho những người say sưa theo đuổi đối tượng nghiên cứu trong nhiều năm, cho đến cả đời; họ cần được tôn trọng tự do học thuật, được tạo điều kiện và yên ổn nghiên cứu. (Tất nhiên hàng năm/ định kỳ, họ phải báo cáo làm được gì, công bố kết quả, và tiếp tục…).

Họ cần làm việc trong một tổ chức/đơn vị/nhóm nghiên cứu, tạo ra ekip có đầu đàn, kế cận, cộng sự, cùng say sưa làm việc để đạt được mục đích và phát triển lực lượng nghiên cứu theo chiều sâu.

Một Tổ chức cũng như mỗi nhà nghiên cứu đều nên quán chiếu câu nói của Teruko Kobayashi: “Một hòn đá lăn mãi thì rêu sẽ không bám vào được”.

Ngày 6/10/2026

M.V.T.

Tác giả gửi BVN  

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn