Làm chủ công nghệ lõi và tương lai Kinh tế Việt Nam

Thanh Nhan  

Trong nhiều thập niên, tăng trưởng kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa trên bốn động lực: lực lượng lao động dồi dào, đầu tư vốn lớn, khai thác đất đai và tài nguyên, cùng dòng vốn FDI hướng vào xuất khẩu.

Mô hình này đã đưa Việt Nam từ một nền kinh tế thuộc nhóm nghèo nhất thế giới trở thành trung tâm sản xuất quan trọng của châu Á. Nhưng khi tiền lương tăng, dân số bước vào giai đoạn già hóa, dư địa khai thác đất đai thu hẹp và cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, những động lực cũ sẽ không còn đủ sức duy trì tăng trưởng cao.

Muốn tiến lên nhóm thu nhập cao, Việt Nam phải chuyển từ nền kinh tế sử dụng công nghệ sang nền kinh tế tạo ra, sở hữu và làm chủ công nghệ.

Làm chủ công nghệ lõi là gì?

Làm chủ công nghệ không có nghĩa là một quốc gia phải tự sản xuất mọi thứ. Trong nền kinh tế toàn cầu, ngay cả những cường quốc công nghệ cũng phải nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị và sử dụng bằng sáng chế của nhau. Điều quan trọng là quốc gia đó phải kiểm soát được những khâu quyết định giá trị và khả năng vận hành của sản phẩm:

- Tự nghiên cứu hoặc thiết kế;

- Nắm được bí quyết kỹ thuật;

- Làm chủ phần mềm và hệ thống điều khiển;

- Có khả năng sửa đổi, nâng cấp và tái sản xuất;

- Sở hữu hoặc kiểm soát tài sản trí tuệ;

- Không bị tê liệt nếu nguồn cung bên ngoài bị gián đoạn;

- Có thể thương mại hóa sản phẩm trên quy mô lớn.

Vì vậy, xây dựng nhà máy lắp ráp chip chưa đồng nghĩa với làm chủ bán dẫn. Sản xuất ô tô điện chưa chắc đã làm chủ cell pin, chip điều khiển và hệ điều hành. Vận hành điện gió cũng không có nghĩa đã chế tạo được turbine, inverter hay vật liệu chuyên dụng.

Công nghệ lõi nằm ở phần khó thay thế nhất, tạo ra nhiều giá trị nhất và quyết định quyền kiểm soát chuỗi sản xuất.

Việt Nam đang ở đâu?

Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025, Việt Nam đứng thứ 44 thế giới, xếp sau Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ trong nhóm các nền kinh tế công nghiệp mới đang được so sánh; đứng trên Thái Lan, Philippines, Brazil, Indonesia, Mexico và Nam Phi. Việt Nam cũng thuộc nhóm các nền kinh tế trung bình cải thiện thứ hạng đổi mới nhanh nhất kể từ năm 2013.

Đây là kết quả đáng ghi nhận, nhưng chưa thể hiện đầy đủ chiều sâu công nghệ.

Việt Nam đứng khá cao về xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm công nghệ cao, đồng thời đã trở thành một trung tâm sản xuất điện tử lớn trên thế giới. Tuy nhiên, phần đáng kể sản lượng vẫn thuộc khu vực FDI. Ngân hàng Thế giới (World Bank) nhận xét rằng, dù xuất khẩu điện tử Việt Nam đã vượt 132 tỷ USD năm 2023, các ngành thâm dụng R&D và dịch vụ tri thức vẫn còn ở giai đoạn ban đầu; khoảng 70% số đơn đăng ký sáng chế mới được đề cập trong phân tích thuộc về doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. 

Nói cách khác, Việt Nam đã sản xuất rất nhiều sản phẩm công nghệ cao, nhưng tỷ lệ công nghệ và giá trị do doanh nghiệp Việt Nam sở hữu vẫn chưa tương xứng với giá trị xuất nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao.

Vị thế của Việt Nam so với các nền kinh tế công nghiệp mới

Malaysia hiện đi trước Việt Nam về bán dẫn, điện tử, tự động hóa và công nghiệp hỗ trợ. Nước này có hệ sinh thái đóng gói, kiểm thử, thiết kế vi mạch và cung cấp thiết bị được tích lũy qua nhiều thập niên. Việt Nam có lợi thế về quy mô dân số, thị trường và tốc độ thu hút đầu tư mới, nhưng chưa bằng Malaysia về chiều sâu kỹ thuật và mạng lưới doanh nghiệp cung ứng bản địa.

Thổ Nhĩ Kỳ nổi bật với UAV, radar, tên lửa, xe quân sự, đóng tàu, ô tô và máy móc. Việt Nam mạnh hơn về điện tử xuất khẩu và khả năng kết nối với chuỗi cung ứng Đông Á, nhưng còn khoảng cách về cơ khí chính xác, động cơ và năng lực thiết kế những hệ thống công nghiệp phức tạp.

Brazil sở hữu những “đỉnh cao công nghệ” như máy bay dân dụng, khai thác dầu khí biển sâu, nhiên liệu sinh học và công nghệ nông nghiệp nhiệt đới. Việt Nam phát triển nhanh hơn về điện tử và tổ chức sản xuất hướng xuất khẩu, nhưng Brazil vẫn có nền khoa học và một số tập đoàn công nghệ bản địa mà Việt Nam chưa có.

Thái Lan có nền công nghiệp ô tô, hóa dầu, thực phẩm và linh kiện lâu đời. Công nghiệp hỗ trợ của Thái Lan hiện vẫn dày hơn Việt Nam, nhưng phần lớn công nghệ và thương hiệu chủ chốt thuộc các tập đoàn nước ngoài. Việt Nam có lợi thế rõ hơn về viễn thông, an ninh mạng, phần mềm và khả năng xây dựng doanh nghiệp công nghệ quốc gia.

Mexico tham gia sâu vào chuỗi ô tô, hàng không, điện tử và thiết bị y tế của Bắc Mỹ. Quy mô sản xuất rất lớn, nhưng trung tâm R&D và quyền sở hữu trí tuệ chủ yếu nằm trong tay các tập đoàn Hoa Kỳ và quốc tế. Việt Nam và Mexico cùng đứng trước bài toán chuyển từ cứ điểm sản xuất sang trung tâm thiết kế và sở hữu công nghệ.

Indonesia có thị trường nội địa lớn, tài nguyên nickel, công nghiệp luyện kim, pin, đóng tàu, hàng không và quốc phòng. Việt Nam không có lợi thế tài nguyên tương đương nhưng tổ chức sản xuất điện tử tốt hơn, hội nhập sâu hơn vào chuỗi Đông Á và có năng lực viễn thông, phần mềm, xuất khẩu công nghệ cao nổi bật hơn.

Philippines có ưu thế về tiếng Anh, dịch vụ BPO, lắp ráp, đóng gói và kiểm thử bán dẫn. Tuy nhiên, Việt Nam có cơ cấu công nghiệp đa dạng hơn, doanh nghiệp công nghệ bản địa lớn hơn và khả năng kết hợp phần cứng, phần mềm, viễn thông với sản xuất tốt hơn.

Nam Phi có truyền thống về khai khoáng, luyện kim, quốc phòng, năng lượng và nghiên cứu khoa học. Nhưng Việt Nam hiện có động lực công nghiệp hóa mạnh hơn, lực lượng kỹ thuật trẻ hơn và khả năng mở rộng sản xuất công nghệ cao tốt hơn.

Qua so sánh có thể thấy: Việt Nam chưa dẫn đầu về chiều sâu công nghệ, nhưng là một trong những nền kinh tế có tốc độ chuyển đổi nhanh nhất từ tiếp nhận sang từng bước làm chủ công nghệ.

AI, bán dẫn và kinh tế tri thức là cơ hội vượt cấp

Việt Nam khó thu hẹp nhanh khoảng cách trong những ngành đòi hỏi hàng trăm năm tích lũy như động cơ hàng không, máy công cụ siêu chính xác hay vật liệu nền tảng. Nhưng cục diện có thể khác trong các lĩnh vực “nhẹ về tài nguyên, nặng về trí tuệ” như AI, phần mềm, thiết kế chip và kinh tế tri thức.

Đây là những lĩnh vực tương đối phù hợp với Việt Nam bởi chúng coi trọng toán học, tư duy logic, khả năng học hỏi, kỹ năng giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo hơn là trữ lượng tài nguyên hay quy mô vốn ban đầu.

Lợi thế của Việt Nam không nên được giải thích đơn giản bằng “tố chất bẩm sinh”, mà đến từ những điều kiện cụ thể:

- Truyền thống dân chúng coi trọng giáo dục;

- Nguồn nhân lực trẻ, tiếp cận nhanh công nghệ;

- Lực lượng kỹ sư có chi phí cạnh tranh;

- Thị trường dân số với hơn 100 triệu dân;

- Năng lực triển khai hệ thống trên phạm vi toàn quốc;

- Mạng lưới chuyên gia người Việt ở nước ngoài;

- Vị trí gần các trung tâm công nghệ Đông Á.

Khoảng 30% sinh viên Việt Nam hiện theo học các ngành STEM và mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ lệ này lên 35%. 

AI: không nhất thiết chạy đua bằng quy mô

Việt Nam khó cạnh tranh trong việc huấn luyện những mô hình AI lớn nhất thế giới. Nhưng chúng ta có thể làm chủ AI tiếng Việt và AI chuyên ngành trong:

- Hành chính công và tra cứu pháp luật;

- Nông nghiệp và dự báo thiên tai;

- Ngân hàng và tài chính;

- Giáo dục và y tế;

- Sản xuất thông minh;

- Viễn thông và an ninh mạng;

- Robot và phương tiện không người lái.

Nếu được triển khai cho hàng chục triệu người dùng, những hệ thống này sẽ tạo ra dữ liệu, thuật toán và kinh nghiệm vận hành có giá trị riêng. Đây mới là tài sản công nghệ thực chất.

Bán dẫn: tập trung vào những khâu có thể tạo lợi thế

Việt Nam không nhất thiết phải bắt đầu bằng cuộc đua xây dựng nhà máy chế tạo chip tiên tiến với chi phí hàng chục tỷ USD. Hướng phù hợp hơn là:

- Thiết kế vi mạch;

- Xác minh và thiết kế vật lý;

- Đóng gói, kiểm thử tiên tiến;

- Chip viễn thông;

- Chip quản lý nguồn;

- Vi điều khiển;

- Chip cảm biến và IoT;

- Chip cho ô tô, thiết bị y tế và quốc phòng;

- Phần mềm nhúng và firmware.

Lợi thế tiềm năng của Việt Nam là khả năng nối ba mắt xích: thiết kế chip – sản xuất điện tử – phát triển phần mềm. Nếu hình thành được mối liên kết này, Việt Nam sẽ không chỉ gia công sản phẩm mà có thể tạo ra những hệ thống hoàn chỉnh mang thương hiệu Việt Nam.

CNTT: chuyển từ gia công sang sở hữu sản phẩm

Việt Nam đã chứng minh được năng lực trong xuất khẩu phần mềm, viễn thông, an ninh mạng, fintech, thương mại điện tử và triển khai các hệ thống số quy mô lớn.

Bước phát triển tiếp theo phải là chuyển từ:

Viết phần mềm thuê → cung cấp giải pháp → phát triển sản phẩm → sở hữu nền tảng và dữ liệu.

Giá trị dài hạn không nằm ở số lượng kỹ sư viết mã mà ở sản phẩm có người dùng quốc tế, thuật toán riêng, dữ liệu riêng, thương hiệu và tài sản trí tuệ.

Kinh tế tri thức: không chỉ có công nghệ thông tin

Kinh tế tri thức còn bao gồm nghiên cứu, thiết kế, tài chính số, công nghệ giáo dục, công nghệ pháp lý, y tế số, nội dung sáng tạo, tư vấn kỹ thuật, công nghệ nông nghiệp và dịch vụ chuyên môn xuyên biên giới.

Đây là con đường cho phép Việt Nam gia tăng giá trị mà không cần chờ hoàn thiện toàn bộ nền công nghiệp nặng. Một nhóm kỹ sư thiết kế chip, chuyên gia AI, nhà khoa học dữ liệu hay doanh nghiệp phần mềm Việt Nam có thể trực tiếp cung cấp sản phẩm cho thị trường thế giới.

Công nghệ lõi sẽ tạo ra động lực tăng trưởng mới như thế nào?

Thứ nhất, công nghệ giúp tăng năng suất lao động. Khi lao động giản đơn được hỗ trợ bởi phần mềm, robot, dữ liệu và tự động hóa, giá trị tạo ra trên mỗi lao động sẽ tăng lên.

Thứ hai, công nghệ làm tăng giá trị nội địa trong xuất khẩu. Thay vì chỉ nhận phí gia công, doanh nghiệp Việt Nam có thể thu lợi từ thiết kế, bằng sáng chế, phần mềm, thương hiệu và dịch vụ sau bán hàng.

Thứ ba, công nghệ hình thành những ngành kinh tế mới. AI, bán dẫn, dữ liệu, năng lượng mới, y sinh và công nghệ nông nghiệp có thể tạo ra những thị trường mà trước đây chưa tồn tại.

Thứ tư, làm chủ công nghệ giúp giảm phụ thuộc. Một quốc gia không kiểm soát được hạ tầng số, dữ liệu, thiết bị viễn thông, năng lượng và hệ thống điều khiển sẽ dễ bị tổn thương trước đứt gãy chuỗi cung ứng hoặc cạnh tranh địa chính trị.

Thứ năm, công nghệ giúp Việt Nam tránh bẫy thu nhập trung bình. Không quốc gia nào có thể trở thành nước thu nhập cao lâu dài chỉ bằng lao động giá rẻ, bất động sản và mở rộng tín dụng.

Việt Nam cần làm gì?

Điều quan trọng nhất là không dàn trải nguồn lực. Việt Nam cần lựa chọn một số công nghệ có khả năng làm chủ thực sự:

1. AI tiếng Việt và AI chuyên ngành;

2. Thiết kế chip và bán dẫn chuyên dụng;

3. Viễn thông 5G - 6G và an ninh mạng;

4. Robot, tự động hóa và phương tiện không người lái;

5. Công nghệ sinh học nông nghiệp;

6. Năng lượng, lưu trữ điện và vật liệu pin;

7. Công nghệ quốc phòng lưỡng dụng.

Nhà nước phải đóng vai trò người đặt hàng đầu tiên đối với sản phẩm công nghệ trong nước, nhưng việc hỗ trợ phải gắn với tiêu chuẩn kỹ thuật, cạnh tranh và kết quả thương mại hóa.

Các tập đoàn lớn cần trở thành tổng thầu công nghệ, kéo theo mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trường đại học phải được đánh giá không chỉ bằng số bài báo mà còn bằng bằng sáng chế, hợp đồng nghiên cứu, doanh nghiệp spin-off và công nghệ được đưa vào sản xuất.

Đặc biệt, chính sách thu hút FDI phải chuyển từ ưu đãi dựa trên vốn và đất đai sang những điều kiện cụ thể về đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung cấp Việt Nam, đặt trung tâm R&D và chuyển giao những công đoạn có giá trị cao.

Từ công xưởng đến trung tâm sáng tạo

Việt Nam đang đứng trước một ngã rẽ. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào vốn, đất đai, lao động giá cạnh tranh và công nghệ của doanh nghiệp nước ngoài, tăng trưởng vẫn có thể duy trì nhưng giá trị gia tăng thấp, năng suất khó bứt phá và nguy cơ mắc kẹt ở ngưỡng thu nhập trung bình sẽ ngày càng lớn.

Nếu biến được quy mô sản xuất hiện nay thành năng lực thiết kế, nghiên cứu, chế tạo và sở hữu trí tuệ, Việt Nam có thể tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới dựa trên năng suất và tri thức.

Việt Nam chưa phải quốc gia làm chủ công nghệ lõi trên diện rộng. Nhưng chúng ta đã có thị trường, nền sản xuất, nguồn nhân lực, doanh nghiệp dẫn dắt và vị trí thuận lợi trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Phần còn thiếu là cơ chế tập trung nguồn lực và khả năng kiên trì theo đuổi những chương trình công nghệ trong 10–20 năm.

Tương lai tăng trưởng của Việt Nam sẽ không được quyết định bởi việc chúng ta sản xuất bao nhiêu sản phẩm công nghệ cao, mà bởi trong những sản phẩm ấy, người Việt Nam thiết kế được gì, sở hữu được gì và giữ lại được bao nhiêu giá trị.

T.N.

Nguồn: FB KINH TẾ VIỆT NAM

 

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn