03/12/2012

Chết dưới tay Trung Quốc, Chương IV – Cái chết của nền sản xuất của Hoa Kỳ: Tại sao hàng Mỹ không còn ‘ăn khách’ (*) nữa?

Peter Navarro & Greg Autry

Nhóm Lê Minh Thịnh dịch

Chúng tôi xin gửi đến quý vị Chương IV quyển sách "Chết dưới tay Trung Quốc" – Death by China.

Trung Quốc đem "quân" (bao gồm kỹ sư, nhân công, điệp viên, và cả đĩ điếm) đi khai thác các quặng mỏ trong đó có bauxite, và đất hiếm cần cho các ngành công nghiệp nặng và luyện kim. Ngược lại, Trung Quốc lúc tràn ngập thị trường, lúc khư khư giữ lại những quặng mỏ này cho nhu cầu của chính họ, vì thế thao túng các nguyên liệu trọng yếu của thế giới. Những quốc gia giàu có tài nguyên nhưng lãnh đạo thiếu sáng suốt và tham nhũng sẽ trở thành thuộc địa tài nguyên của Trung Quốc. Nơi đó người dân bản địa không những không được hưởng thụ nguồn tài nguyên giàu có, mà còn bị bóc lột tàn tệ, làm cho đất nước bị đắm chìm trong nghèo nàn và lạc hậu. Nếu không khéo, Canada cũng nằm trong danh sách thuộc địa này.

Được biết, vào năm 2009, mặc cho hàng ngàn nhà khoa học, nhà văn hóa và những tấm lòng tâm huyết vì quê hương dân tộc ký kiến nghị chống khai thác bauxite tại Tây Nguyên Việt Nam, ông Thủ tướng Việt Nam lại phán rằng "khai thác bô-xít là chủ trương lớn của Đảng".

Vì thế cuốn sách này, theo chúng tôi, đóng góp cho Việt Nam những kinh nghiệm bổ ích.

Kính thư,

TS Lê Minh Thịnh,

Giám đốc Điều hành, phụ trách Ban Thông tin

Cộng đồng Người Việt Quốc gia vùng Montreal

Người viết cuốn sách này theo chúng tôi đã hé nhìn ra một điều có thể gọi là quan trọng bậc nhất trong việc đánh giá sức mạnh điên khùng của chủ nghĩa tư bản đỏ hiện nay của Trung Quốc, đó là, Trung Quốc cạnh tranh buôn bán kinh doanh với thế giới với những chuẩn tắc đi ngược một trăm phần trăm với những chuẩn mực sống của loài người từ trước đến nay. Ông viết:

Và xin bạn cần biết điều này: Kẻ cướp Trung Quốc không bao giờ bị lương tâm cắn rứt – từ một người buôn bán nhỏ trên các phố ở Thượng Hải mời chào đĩa DVD lậu của bộ phim Harry Potter với giá 80 xu, cho tới chức sắc cao cấp của công ty sản xuất xe hơi cỡ bự như Chery Automotive Company, đã ăn cắp cả tên và thiết kế từ Công ty mang nhãn hiệu Chevy của Hoa Kỳ. Sở dĩ họ không bị lương tâm cắn rứt là vì, trên một tỷ người Trung Quốc được sinh ra và lớn lên ở một môi trường chân không về luân thường đạo lý trong đó quyền sở hữu tài sản bị chà đạp, và nhà nước làm chủ tất cả. Sự lệch lạc đạo đức và luân lý này bắt nguồn ngay từ Chủ tịch Mao và tiếp diễn qua cuộc Cách mạng Văn hóa điên khùng. Chính sự lệch lạc phi luân lý này đã tạo ra một thái độ gọi là “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Trong khi thái độ coi thường việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc được các nước láng giềng châu Á biết rõ, thì các nước Tây phương lại chẳng biết tí gì về nguồn gốc văn hóa và chính trị dẫn tới tình trạng phi đạo đức này của Trung Cộng”.

Sự thật còn tồi tệ hơn thế nhiều. Như ta biết, các hãng sản xuất của Hoa Kỳ và nhiều nước phương Tây, nhật Bản... luôn luôn bị ràng buộc bởi những điều luật chặt chẽ về môi sinh, về vi phạm điều kiện sống của con người, nhưng, với Trung Quốc thì, nói đến chủ nghĩa nhân đạo là điều hoàn toàn xa xỉ. Nên nhớ, trong những năm cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 thế kỷ trước, Mao Trạch Đông đã từng tuyên bố: Trung Quốc không sợ một chút nào việc Mỹ thả bom nguyên tử xuống các vùng đất Trung Quốc. Vì sao? Theo Mao, giỏi lắm thì 300 triệu dân Trung Quốc sẽ chết, nhưng điều đó không hại gì cả vì dân số Trung Quốc lúc bấy giờ là 600 triệu, chết đi một nửa chẳng có là gì. Thử tưởng tượng, giờ đây dân số Trung Quốc đã tăng lên đến trên 1 tỷ 3 người, một mối đe dọa khủng khiếp cho sống còn của Trung Quốc. Cho nên không lấy gì làm lạ khi Trung Quốc hiện tại là cả một công trường khổng lồ thải loại vô tội vạ các chất độc hại ra bất kỳ nơi nào có thể thải được trên đất Trung Quốc, đúng như tác giả mô tả:

Việc Trung Quốc hủy hoại môi trường để gia tăng và đẩy mạnh xuất cảng được chứng minh rất rõ bằng sự kiện hiển nhiên sau đây. Trong khoảng ba thập niên ngắn ngủi để Trung Quốc nổi lên như một công xưởng của thế giới, Trung Quốc cũng đã được biết tới với hai nét nổi bật, đó là: “quốc gia ô nhiễm nhất hành tinh” và “quốc gia can dự nhiều nhất vào việc làm biến đổi khí hậu”. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới các nhân công Hoa Kỳ, chính dân Trung Quốc cũng đã phải trả một cái giá quá đắt dưới hình thức tỷ lệ gia tăng khủng khiếp về bệnh ung thư, tim mạch, bệnh về đường hô hấp và da liễu.

Hoàn cảnh khốn khổ của loài động vật và thực vật cũng là thước đo mức độ trầm trọng của vấn đề ô nhiễm môi trường. Bất kỳ du khách đến Trung Quốc nào để ý sẽ thấy rằng cả ở nông thôn lẫn thành thị hầu như vắng bóng chim muông. Xuân, hạ, thu, đông, mùa nào cũng vắng tiếng chim ca: đó là phong cảnh độc hại của Trung Quốc”.

Chúng tôi nghĩ, với bọn cộng sản như Trung Quốc, việc hủy hoại môi trường trước hết chưa phải là hãm hại nhân loại mà là để hãm nhân dân Trung Quốc, làm sao để cho tỷ lệ dân số Trung Quốc phải giảm xuống chừng hai phần ba, nếu không thì bọn chúng làm sao đối phó nổi với sự tăng vọt dân số làm chúng đang phải điên đầu? Một hiện tượng có vẻ như khó giải thích là không hiểu vì sao ở việt Nam gần đây lại phát hiện ra những “xu chiêng” nhập từ Trung Quốc mà bên trong có độn những hóa chất có thể làm triệt sự sinh sản và đưa đến bệnh ung thư? Có gì đâu, cũng như vô số thực phẩm tẩm hóa chất, đấy là một cách giết người kín nhẹm không ghê tay, nhưng mục tiêu không phải nhắm vào người dân nước ngoài đâu, hay người dân nước ngoài chưa phải là mục tiêu hàng đầu của những hành vi lén lút thế đâu. Trước hết, phải làm cho dân Trung Quốc chết bớt. “xu chiêng” giết dân Trung Quốc bi lọt sang cửa khẩu Việt Nam là do luật cung cầu của thị trường, điều có lẽ không nhất thiết nằm trong ý đồ sâu hiểm ưu tiên của chính quyền Trung Quốc. Và đó mới chính là thực chất chủ nghĩa nhân đạo cộng sản được sơn phết bằng vô số lý luận rẻ tiền mà bất kỳ ai trong hàng ngũ trí thức thuộc các nước XHCN thì đều đã được học, nó luôn luôn rêu rao rằng CNXH là đối lập với các loại học thuyết phản động như học thuyết Malthus (Thomas Robert Malthus (1766 - 1834) cho rằng chiến tranh là điều tất yếu phải xảy ra vì dân số bao giờ cũng tăng theo cấp số nhân trong khi nguồn tài nguyên, của cải lại tăng theo cấp số cộng nên tạo ra sự mất cân đối trên hành tinh. Nhưng thực chất thì chính Mao và bọn học trò Mao hiện nay đã là đồ đệ trung thành của Malthus, khi Mao cho tiến hành Đại nhảy vọt giết đến hơn ba mươi triệu người dân nước mình, rồi tiếp đấy lại tiến hành Đại cách mạng Văn hóa giết thêm hơn năm mươi triệu nữa (theo Tân Tử Lăng). Bọn Giang Trạch Dân chủ trương giết đệ tử Pháp Luân Công lấy nội tạng, Hồ Cẩm Đào - Ôn Gia Bảo đi theo Đặng Tiểu Bình đánh chiếm lãnh thổ lãnh hải láng giềng và di dân ồ ạt sang nhiều quốc gia trên thế giới, rồi bây giờ là Tập Cận Bình đang cho quân lính ráo riết tập luyện các loại thao tác hải quân như phi cơ chiến đấu hạ cánh và cất cánh trên tàu sân bay, và ra lệnh cho lực lượng kiểm soát biển ở Hải Nam soát xét tàu bè qua lại trên biển Đông kể từ ngày 1-1-2013... không phải là đang dấn thêm một bước rất nguy hiểm cái chiến lược “nhân đạo ăn cướp” của chúng để giải quyết một phần nạn nhân mãn đang đe dọa chúng từng ngày, thì còn gì nữa?

Bauxite Việt Nam

Trung Quốc đã trở thành một thế lực tài chính và thương mại trọng yếu. Nhưng, họ không hành xử như các nền kinh tế lớn khác. Thay vào đó, Trung Quốc đi theo chính sách con buôn, cố giữ thặng dư thương mại ở một mức cao giả tạo. Trong nền kinh tế thế giới bị đình trệ như hôm nay, chính sách này nói thẳng thừng là “mánh lới triệt hạ đối thủ” Paul Krugman, Kinh tế gia đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2008.

Trong thập niên vừa qua, cưỡi chễm chệ trên con ngựa thành Troy của tự do mậu dịch, một Trung Quốc phá giá và ép giá đã đánh cắp hàng triệu việc làm trong lãnh vực sản xuất ngay trước mũi chúng ta. Nếu giữ lại được số việc làm này thì tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ sẽ thấp hơn 5% thay vì tới gần 10% như hiện nay, ngân sách Chính phủ Hoa Kỳ sẽ cân bằng, và đất nước chúng ta có thể có một tương lai tươi sáng hơn. Câu hỏi hiển nhiên là: Tại sao chúng ta, ở vị thế một quốc gia, lại quá thụ động khi đối diện với một trong những vụ ăn cướp vĩ đại nhất của lịch sử kinh tế thế giới: đó là vụ Trung Quốc cướp đi nền tảng sản xuất Hoa Kỳ?

Chắc có người nói: "Ô, đâu có phải vậy! Trung Quốc đang giành lấy việc làm của người Mỹ một cách chính đáng bằng cách sử dụng lực lượng lao động rẻ tiền và có kỷ luật đấy chứ". Đó cũng chính là những luận điệu được rêu rao bởi các người biện hộ cho Trung Quốc, những kẻ cố tình phủ nhận các thủ đoạn thương mại bất chính của Trung Quốc.

Thật ra, nếu nghiên cứu kỹ về những nguồn lực thực sự tạo lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc, bạn sẽ thấy rất rõ ràng rằng hơn một nửa lợi thế này đến từ một ma trận phức tạp gồm tám thủ đoạn thương mại bất chính, những thủ đoạn này đều đã bị cấm triệt để bởi những quy chế thông thường của tự do mậu dịch. “Tám Vũ khí Hủy diệt Việc làm" cao siêu này gồm có:

1. Mạng lưới tinh vi về trợ cấp xuất cảng bất hợp pháp.

2. Tiền Trung Quốc được thao túng một cách tinh ranh và định giá thấp một cách trơ trẽn.

3. Giả mạo trắng trợn, chiếm đoạt và ăn cắp công khai kho tàng sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ.

4. Quyết định thiển cận không tưởng tượng nổi của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẵn sàng đánh đổi việc hủy hoại môi trường để bớt vài xu trong chi phí sản xuất.

5. Các tiêu chuẩn an toàn lao động và bảo vệ sức khỏe cho công nhân cực kỳ lỏng lẻo, so với tiêu chuẩn quốc tế quá thấp đến nỗi nám phổi, tàn phế chân tay, và vô vàn các bệnh ung thư không chỉ là các rủi ro nghề nghiệp có thể có mà là điều hầu như chắc chắn sẽ xảy ra.

6. Giá biểu thuế quan không chính đáng, hạn ngạch và những quy định khắt khe đối với xuất cảng các nguyên liệu thô quan trọng từ A tới Z – từ antimony tới zinc – được dùng làm các thủ đoạn chiến lược nhằm khống chế ngành công nghiệp nặng và luyện kim của cả thế giới.

7. Chính sách phá giá và các thủ đoạn tung hàng tràn ngập thị trường nhằm loại các đối thủ nước ngoài ra khỏi những thị trường tài nguyên trọng yếu, sau đó bóc lột người tiêu dùng bằng giá độc quyền.

8. "Vạn Lý Trường Thành Bảo hộ" mà Trung Quốc khoác lác khoe khoang đã không cho các đối thủ nước ngoài thiết lập cơ sở làm ăn trên đất Trung Quốc.

Đừng tưởng lầm nữa. Đây chính là những vũ khí kinh tế thực sự với hỏa lực đáng kể. Trận pháo kích đồng loạt bằng những vũ khí này vào nền sản xuất của Hoa Kỳ đã khiến cho hàng ngàn công xưởng phải đóng cửa và biến hàng triệu công nhân Hoa Kỳ thành những ‘tổn thất ngoài dự kiến’ – tất cả đều diễn ra dưới chiêu bài bịp bợm là "tự do mậu dịch".

Tại sao chẳng có cái gì "tự do" khi nói về tự do mậu dịch với Trung Quốc

Nếu muốn hiểu rõ những điều đi ngược với ‘tự do mậu dịch’, thì bạn hãy đọc bất kỳ cuốn sách kinh tế nào mà bọn trẻ đang sử dụng trong các đại học ngày nay. Có lẽ bạn sẽ bị đầu choáng mắt hoa và lộn ruột lên, bởi vì nội dung của những cuốn sách giáo khoa này quá khác biệt với thực tế của đấu trường thương mại toàn cầu. Điều này cũng chẳng khác gì đem tư tưởng [đấu tranh bất bạo động] của Gandhi  làm tài liệu giảng dạy trong các khóa học về chiến lược quân sự thay thế cho binh thư của các lý thuyết gia quân sự như Clausewitz và Tôn Tử.

Thực vậy, mặc dù có vô vàn bằng chứng trái ngược, những cuốn giáo khoa này vẫn tiếp tục ca tụng tính ưu việt của tự do mậu dịch, và cái mà người ta gọi là "lợi ích của mậu dịch" mà tất cả chúng ta đáng lẽ phải được hưởng. Nhưng dưới đây là những gì mà tài liệu tuyên truyền đó đã vô tình không nhận ra được: tuy tự do mậu dịch rất hay trên lý thuyết, nhưng nó lại hầu như không có trong thực tế. Những điều kiện để có được tự do mậu dịch như thế không có trên Trái Đất này, cũng chẳng khác gì những giả định về điều kiện chân không và tình trạng không có ma sát trong các sách giáo khoa vật lý bậc trung học.

Trong hồ sơ tố tụng Trung Quốc đối với Hoa Kỳ, cái thuyết tự do mậu dịch đầy sức cám dỗ này giống như cuộc hôn nhân: nó sẽ chẳng đi đến đâu nếu nước này bội ước nước kia. Thật vậy, khi mà Trung Quốc thi hành một cách có hệ thống tám thủ đoạn thương mại bất chính được mô tả ở chương này thì trò chơi "đôi bên cùng có lợi" mà trong đó cả hai nước đều giả định là sẽ cùng thắng, sẽ nhanh chóng biến thành trò chơi “kẻ thắng người thua" trong đó có một kẻ thắng lớn, còn người kia thì thua đậm. Chính vì vậy, "tự do mậu dịch" giữa con Rồng và chú Sam, rút cục đã trở thành khẩu hiệu mật với ý nghĩa "Hãy khai tử nền sản xuất của Hoa Kỳ".

Nếu người Trung Quốc xây dựng nhà máy, việc làm sẽ không đến nước Hoa Kỳ!

Tại sao chúng ta lại quan tâm tới sự suy vong nền sản xuất của Hoa Kỳ? Phải chăng chúng ta đã từng nghe các học giả như Thomas Friedman trong cuốn Thế giới phẳng phán rằng tương lai phồn thịnh của Hoa Kỳ dựa vào việc phát triển nhanh chóng việc làm trong lãnh vực dịch vụ? Phải chăng những cái đầu biết nói như Fareed Zakaria của tờ Newsweek và thậm chí cả James Fallows của tờ Altantic luôn luôn nhắc đi nhắc lại rằng sự chuyển dịch việc làm trong lãnh vực sản xuất từ Hoa Kỳ và Âu châu tới các nước có thu nhập thấp như Trung Quốc và Ấn Độ là vấn đề không thể tránh được, cũng như thủy triều lên rồi xuống và mặt trời mọc rồi lặn?

Vâng, tất nhiên chúng ta đã bị ép buộc phải nghe cái luận điệu ngụy trí thức vô giá trị này. Nhưng – xin lỗi phải dùng từ ngữ của chính các nhà báo như Fallows, Friedman, và Zakaria – quý vị đều sai lầm ... “bằng phẳng” như nhau cả. Những chuyên gia “tiên đoán trật lất” này, cùng với những người có cùng luận điệu, đều không nắm vững một trong những nguyên tắc căn bản nhất của kinh tế học:

Công nhân Hoa Kỳ có thể cạnh tranh với công nhân ở các nước có thu nhập thấp ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, miễn là họ phải hiệu quả hơn – và sân chơi tự do mậu dịch phải bằng phẳng!

Đây chính là lợi thế cạnh tranh của công nhân Hoa Kỳ: sử dụng máy móc và kỹ thuật cao cấp hơn, và áp dụng các quy trình sáng tạo nhằm gia tăng năng suất lao động. Qua việc đạt năng suất lao động cao nhất trên thế giới, các công nhân áo xanh của nền sản xuất Hoa Kỳ đã luôn luôn được trả lương khá, và vì thế họ có đủ khả năng tài chánh để thực hiện giấc mơ Hoa Kỳ (**) của họ.

Thay vào đó, giấc mơ của công nhân áo xanh Hoa Kỳ có được căn nhà có hàng rào trắng và con cái được học hành ở đại học, đã biến thành huyễn tượng kinh hoàng, bởi vì cho dù công nhân Hoa Kỳ hôm nay làm việc hiệu quả thế nào đi nữa, họ không thể chống lại được “Tám Vũ khí Hủy diệt Việc làm” của Trung Quốc. Thực vậy, nếu nền công nghiệp sản xuất của Hoa Kỳ trước kia đã chiếm 25% tổng sản lượng nội địa (GDP – gross domestic product), thì ngày nay con số này đã rút xuống chỉ còn 10%.

Không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, trong khi Trung Quốc đã khoét rỗng nền sản xuất của Hoa Kỳ một cách hệ thống, thì nền kinh tế của Trung Quốc lại đã tăng trưởng với một tỷ lệ kinh ngạc là 10% mỗi năm. Ngược lại, trong thập niên vừa qua, mức tăng trưởng của nền kinh tế Hoa Kỳ chỉ là 2.4%. Cần phải lưu ý rằng, con số tăng trưởng nhỏ nhoi 2.4% này trong những năm 2000 thấp hơn 25% so với tỷ lệ tăng trưởng 3.2% của giai đoạn từ năm 1946 tới năm 1999.

“Hãy khoan, hãy khoan!”, bạn nói “Giảm có 0.8% về tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm trong suốt thập niên vừa qua có gì là đáng kể”. Nhưng vấn đề là con số khác biệt 0.8% ở đây tương đương với việc không tạo ra được khoảng 1 triệu việc làm mới mỗi năm, và tích lũy lại, thì chúng ta đã mất hơn 10 triệu việc làm trong thập niên vừa qua. Không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, con số này gần như chính là con số việc làm mà chúng ta cần phải có để có thể nâng nền kinh tế Hoa Kỳ trở lại mức toàn dụng và tận dụng tiềm năng sản xuất.

Nếu chúng ta xây dựng cơ sở sản xuất, việc làm sẽ đến với Hoa Kỳ!

Và đây là viễn cảnh lớn hơn về nền sản xuất Hoa Kỳ: không chỉ những con số thô thiển về hơn 10 triệu việc làm đã bị mất trong thập niên vừa qua khiến cho nền tảng sản xuất trở nên cực kỳ quan trọng đối với kinh tế Hoa Kỳ. Một nền sản xuất mạnh và sống động luôn đóng một vai trò tối quan trọng đối với sự phồn vinh lâu dài của quốc gia, bởi vì ít nhất 4 lý do được trình bày sau đây.

Trước hết, các việc làm trong ngành sản xuất tạo ra nhiều việc làm khác hơn là trong ngành dịch vụ. Thực vậy, cứ mỗi 1 đô-la của sản phẩm từ ngành sản xuất, Hoa Kỳ tạo ra khoảng 1.5 đô-la trong các dịch vụ liên quan như xây dựng, tài chính, bán lẻ, và vận tải.

Các việc làm về sản xuất cũng được trả lương trung bình cao hơn, nhất là đối với những người lao động phái nữ và dân thiểu số. Mãi lực cao hơn của lực lượng nhân công áo xanh này là yếu tố kích hoạt cốt yếu đối với các ngành khác trong nền kinh tế.  Không phải tự nhiên khi các nhà máy đóng cửa thì các trung tâm mua sắm, phòng mạch bác sĩ, khách sạn, và nhà hàng trong vùng lân cận nhà máy cũng chết theo. Khi các nhà máy dời đi nơi khác, số thu từ thuế của thành phố và chính quyền tiểu bang cũng giảm đi, và việc làm cũng như dịch vụ của chính phủ sẽ phải cắt giảm.

Quan trọng hơn hết, một nền sản xuất mạnh mẽ sẽ là mấu chốt để kích thích các cải tiến kỹ thuật mà Hoa Kỳ cần phải có để đẩy mạnh nền kinh tế về lâu dài. Điều khiến cho ta phải thận trọng suy nghĩ là các nhà máy sản xuất có cơ sở ở Hoa Kỳ đóng góp hai phần ba về tổng số tài trợ về nghiên cứu và phát triển tư nhân của Hoa Kỳ. Khi những cơ sở sản xuất này chuyển sang Trung Quốc, thì các chi tiêu về nghiên cứu và phát triển cũng đi theo và kéo đi luôn cả năng lực sáng kiến của Hoa Kỳ.

Lý do thứ tư, và cũng là lý do cuối cùng để Hoa Kỳ cần phải kiên quyết bảo vệ nền sản xuất là mối tương quan hệ trọng giữa các nhà sản xuất sản phẩm sau cùng lớn như các Tập đoàn Boeing, Caterpillar và General Motors, với tất cả những công ty liên quan trong dây chuyền cung cấp vật liệu sản xuất của Hoa Kỳ. Giữ các nhà máy của các ngành công nghiệp nặng này ở lại Hoa Kỳ là điều quan trọng bởi vì có rất nhiều các công ty lớn nhỏ phụ thuộc vào sự hoạt động của các nhà máy này.

Ví dụ, những công ty lớn như AC Delco có văn phòng trung ương ở Kokomo và Cummins Engines có văn phòng trung ương tại Columbus, tiểu bang Indiana, đã cung cấp các sản phẩm như phụ tùng xe hơi và động cơ diesel cho các hãng như GM và Ford. Hàng ngàn các công ty vừa và nhỏ ở hàng trăm các thành phố Hoa Kỳ sản xuất và cung cấp các cấu kiện đa dụng như các ống cao áp và dây cáp điện, cũng như sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng như phụ tùng nhựa đúc bằng máy phun và các bộ phận tiện/khoan chính xác.

Vấn đề ở đây là: khi các hãng như Dupont hoặc Medtronic chuyển các quy trình sản xuất sản phẩm của họ sang Trung Quốc, họ cũng mang theo tất cả chuỗi cung ứng. Điều này không chỉ vì lý do tiếp vận mà cũng vì chính sách bảo hộ: Trung Quốc bắt buộc các hãng Tây phương khi thành lập nhà máy tại Trung Quốc phải sử dụng nguồn lực địa phương và do đó giúp phát triển các nhà cung cấp nội địa. Thực vậy, khi phỏng vấn một quản đốc nhà máy cung cấp các linh kiện lắp ráp máy bay của Hoa Kỳ ở Thượng Hải, chính chúng tôi thấy công ty này thường xuyên mang các kỹ sư Hoa Kỳ tới Trung Quốc để đào tạo các nhà cung cấp yếu kém của họ nhằm cải tiến chất lượng cho các cấu kiện tinh vi. Qua quá trình này, công ty bản địa có thể thay thế các đối tác Hoa Kỳ mà họ đã cùng làm việc trong nhiều năm qua.

Và từ lúc này trở đi, bất cứ khi nào bạn nhìn thấy một công ty lớn như 3M, Cisco, hoặc Ford thiết lập các nhà máy khác ở Trung Quốc, xin hãy hiểu rằng, sự kiện mất việc làm không chỉ xảy ra đối với các công ty ra đi. Đúng hơn, trong cái phiên bản “ảnh hưởng dây chuyền kinh tế” (***) của thế kỷ XXI này, thì những mất mát khởi đầu về việc làm sẽ lan truyền tới các cơ sở khác của nền sản xuất ở Bắc Mỹ, sau đó sẽ đến tất cả lãnh vực dịch vụ. Cuối cùng, các trung tâm đầu mối sản xuất một thời sống động như Warren, tiểu bang Ohio (Hoa Kỳ), và Windsor, tỉnh bang Ontario (Canada), sẽ trở thành những thị trấn ma.

Bởi những lý do này, rõ ràng là việc làm trong lãnh vực sản xuất đóng một vai trò tối quan trọng đối với sự thịnh vượng lâu dài không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở châu Âu và Nhật Bản, cũng như các nơi khác trên thế giới. Hiển nhiên, những nhát búa của Trung Quốc giáng vào nền sản xuất của Hoa Kỳ đã làm cho Hoa Kỳ gặp khó khăn trong việc tạo ra đủ số việc làm để giảm tỷ lệ thất nghiệp một cách đáng kể. Mặc dù Tòa Bạch Ốc đã cố gắng hết sức sử dụng những biện pháp lớn lao nhằm kích thích nền kinh tế sa sút, nhưng dòng người thất nghiệp vẫn tiếp tục kéo dài tới hàng dặm. Thưa Tổng thống, ông có nghĩ tại sao lại như vậy không?

Xin thưa, một lý do là: nỗ lực khởi động nền kinh tế mà không có một nền sản xuất sống động, thì cũng như cố gắng khởi động một xe hơi không có bu-gi (đánh lửa) hay bánh xe bị trơn trượt không bám vào mặt đường. Xe không thể chạy được. Buồn hơn là, một phần lớn số tiền kích thích này thất thoát ra khỏi nền kinh tế của chúng ta, và số tiền này lại kích thích kinh tế của Quảng Châu và Thượng Hải, chứ không kích thích kinh tế của Gary và Pittsburgh. Trên thực tế thì viễn kiến sai lầm của thuyết kinh tế Keynes về chu kỳ chi tiêu tích cực không thể thực hiện được trong tình trạng hiện nay tại Mỹ, khi mà có quá nhiều những thứ chúng ta mua không được sản xuất trên đất Mỹ, và đối tác gây thâm hụt thương mại lớn nhất cho chúng ta lại không bao giờ đáp ứng lại.

Trung Quốc đã lừa dối như thế nào? Ta hãy phanh phui những thủ đoạn của họ

Bây giờ chúng ta hãy phân tích chi tiết hơn về tám Vũ khí Hủy diệt Việc làm của Trung Quốc. Trước hết là mạng lưới tinh vi về trợ cấp xuất cảng bất chính.

# 1: Trợ cấp xuất cảng: “Mũi dao đâm ngay vào tim”

Nhìn bề ngoài thì thuật ngữ trợ cấp xuất cảng có vẻ như là vô thưởng vô phạt. Để hiểu vì sao những việc trợ cấp như thế này lại được coi như là “mũi dao đâm thẳng vào tim” của bất kỳ thương nghiệp Hoa Kỳ nào, hãy giả sử rằng bạn là một thương gia Trung Quốc bắt đầu mở một công ty để đối đầu với các nhà máy đang cạnh tranh với mình ở các tiểu bang Ohio, Pennsylvania, Michigan, hay Tennessee.

Để giúp bạn thành lập xí nghiệp, Chính phủ Trung Quốc sẽ cấp cho bạn đất đai miễn phí, năng lượng được trợ giá, và hầu như không có một giới hạn nào đối với việc vay mượn các khoản tài chính lãi suất thấp hoặc không có lãi suất. Và nếu bạn gặp rắc rối, bạn sẽ không phải trả lại các khoản vay này cho chính phủ, bởi chính phủ sở hữu và điều khiển toàn bộ các ngân hàng, thêm vào đó Đảng Cộng sản Trung Quốc có quyền bổ nhiệm lãnh đạo của các ngân hàng.

Bây giờ, khi bạn sẵn sàng xuất cảng sản phẩm vào Hoa Kỳ, bạn sẽ được hưởng một khoản trợ cấp trực tiếp cho mỗi sản phẩm mà bạn bán được – ở mức từ 10 tới 20 xu cho mỗi đô-la thu được từ hàng xuất cảng. Thêm vào đó, khi có lợi nhuận, bạn sẽ có đủ điều kiện hợp pháp để được giảm những khoản lớn về thuế thu nhập và thuế bất động sản.

Thêm vào đó, xí nghiệp Trung Quốc của bạn sẽ không phải lo lắng gì cả về việc đối thủ cạnh tranh người Mỹ sẽ tấn công bạn ngay tại sân sau của bạn. Nếu những thương nghiệp nước ngoài muốn bán sản phẩm trên thị trường của bạn, họ sẽ bị buộc phải thiết lập các xưởng trên đất Trung Quốc, và hiển nhiên là họ sẽ trở thành đối tác thứ yếu của bạn.

Bây giờ khi bạn thấy những gì mà các doanh nghiệp Hoa Kỳ đang phải đối phó với việc trợ cấp xuất cảng của Trung Quốc, thì bạn có hiểu rõ hơn tại sao một công ty sản xuất tủ lạnh ở Madison, tiểu bang Wisconsin, một công ty sản xuất máy giặt ở Clyde, tiểu bang Ohio, hay một công ty sản xuất máy xay sinh tố ở Orem, tiểu bang Utah, lại gặp khó khăn như vậy để cạnh tranh với con Rồng Trung Quốc không? Và việc một nhà máy sản xuất máy hút bụi ở Palm City, tiểu bang Florida, một công ty sản xuất các công cụ thủ công cầm tay ở New Britain, tiểu bang Connecticut, hay một công ty sản xuất nôi trẻ em ở Barington, tiểu bang New Jersey, đã phải vất vả cực nhọc như thế nào để đứng vững giữa sóng gió trên đại dương toàn cầu của chủ nghĩa con buôn Trung Quốc, thì đối với bạn điều này có dễ hiểu không?

Thực vậy, việc duy trì liên tục một hệ thống mạng lưới tinh vi về trợ cấp xuất cảng bất chính là một trong những bội ước lớn nhất trong lịch sử kinh tế thế giới. Đó là vì khi Trung Quốc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, họ đã hứa sẽ nhanh chóng loại trừ tất cả các trợ cấp bất hợp pháp – cùng với việc loại bỏ mọi thủ đoạn thương mại bất chính.

Vâng, thưa nước Trung Quốc – Cộng sản, Hoa Kỳ – Dân chủ vẫn còn đợi quý quốc giữ lời hứa của mình về tự do mậu dịch. Và, trong khi chúng tôi đang chờ đang đợi, thì các khoản trợ cấp xuất cảng bất hợp pháp khổng lồ của quý vị vẫn tiếp tục giáng đòn mạnh và công phá ác liệt vào các ngành công nghiệp trọng yếu nhất ở Bắc Mỹ, đó là thép, hóa dầu, giấy, dệt may, bán dẫn, ván ép và máy công cụ. Cái danh sách này cũng dài như những dòng người thất nghiệp ở các thành phố Stockton, tiểu bang California; Las Vegas, tiểu bang Nevada; Monroe, tiểu bang Michigan; và Rockford, tiểu bang Illinois.

#2: “Ván bài” mới - Chính sách thao túng tiền tệ của Trung Quốc

Trung Quốc đã can thiệp ở một phạm vi rất lớn nhằm giữ tỷ giá ngoại tệ thấp… Đây chắc chắn là hành động thao túng tiền tệ. Nó cũng như chính sách bảo hộ, và tương tự như việc áp dụng biểu thuế quan thống nhất hay trợ cấp xuất cảng

– Martin Wolf, Financial Times.

Vấn đề thao túng tiền tệ của Trung Quốc rất quan trọng để nhận biết về những thiệt hại xảy ra đối với nền tảng sản xuất Hoa Kỳ. Do đó chúng ta sẽ dành cả chương tới để nói đề tài này. Tuy nhiên, theo các số liệu ước tính đáng tin cậy, chúng ta có thể nói rằng, đồng yuan (đồng Nguyên, còn gọi là Renminbi, nhân dân tệ) đã được giữ ở một giá thấp một cách lố bịch ở mức khoảng 40%.

Cụ thể hơn, điều này có nghĩa là cứ mỗi đô-la của sản phẩm mà Trung Quốc bán vào thị trường Hoa Kỳ, thì các nhà xuất cảng Trung Quốc chỉ phải bỏ ra một khoản tương đương là 60 xu. Đây là một sự trợ cấp khổng lồ!

Đồng thời, cứ mỗi đô-la của sản phẩm mà thương nghiệp Hoa Kỳ nỗ lực bán vào Trung Quốc, họ phải tính giá cao đáng kể hơn một đô-la.  Ngoài mức thuế quan gián tiếp này, doanh nghiệp sản xuất Hoa Kỳ khi xuất cảng sang Trung Quốc sẽ phải chịu thêm một mức thuế trực tiếp là 30%.

Khi thấy rằng thao túng tiền tệ của Trung Quốc có tác dụng tương đương như cả trợ cấp và thuế quan, ta mới hiểu rõ hơn một phần nào tại sao nhà sản xuất dụng cụ cắt tiện ở South Easton, tiểu bang Massachusetts hay Công ty sản xuất fasteners (như đinh, con ốc, dây kim loại để gắn liển các bộ phận của máy) ở Corry, tiểu bang Pennsylvania, đã phải khó khăn như thế nào để cạnh tranh với các công ty tương tự của Trung Quốc ở Thâm Quyến, Quảng Châu, và Thành Đô.

#3: Họ nghĩ rằng lấy mà không bị bắt thì không phải là ăn cắp

Thế thì giờ đây những hậu quả từ các chiêu thức làm giả, ăn cắp bản quyền và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ tràn lan của Trung Quốc đối với nền tảng sản xuất của Hoa Kỳ là gì? Xin thưa, dưới đây là bằng chứng tội phạm.

Mỗi khi Trung Quốc đánh cắp kỹ thuật, thiết kế và quy trình sản xuất từ chú Sam tốt bụng, họ hút đi một ít máu từ những mạch máu của nền sản xuất của chúng ta. Đó là vì, khi một công ty Hoa Kỳ muốn tìm ra ra một loại thuốc điều trị ung thư, sản xuất ra các xe hơi tiết kiệm nhiên liệu, hay phát triển các tấm pin năng lượng mặt trời hiệu quả hơn, thì quá trình tìm tòi này rất tốn kém và mất nhiều thời giờ. Nếu kẻ cướp hay kẻ lừa đảo Trung Quốc chỉ đơn thuần ăn cắp những thành quả từ các phát minh như thế – mà không đề cập tới hay tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ – thì điều này thành một lợi thế về chi phí sản xuất thực cho Trung Quốc.

Để nhận biết tầm mức của lợi thế mà các doanh nghiệp sản xuất Trung Quốc có được nhờ ăn cắp bản quyền, chúng ta nên biết rằng các công ty dược phẩm như Merck và Pfizer thường dành tới 20% mức doanh thu cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm, trong khi các công ty kỹ thuật như Intel và Microsoft dành 15%, và các công ty sản xuất xe hơi như General Motors và Ford thì dành ra 5%. Như vậy, khi các đối thủ cạnh tranh Trung Quốc sản xuất sản phẩm tương tự của Pfizer như Viagra, mò mẫm học lóm thiết kế mạch bán dẫn của Intel, sao chép phi pháp bản quyền hệ điều hành của Microsoft, hay thâm nhập vào hệ thống máy điện toán để ăn trộm thiết kế về loại xe hơi hybrid (vừa chạy bằng xăng dầu, vừa chạy bằng điện) của General Motors, bạn thử đoán xem điều gì sẽ xảy ra? Đúng vậy, kẻ cướp Trung Quốc có thể giảm giá một cách đáng kể cho sản phẩm cạnh tranh của hắn ta, bởi vì kẻ ăn cắp tài sản trí tuệ này không phải (chi tiêu và do đó) lấy lại bất kỳ một chí phí nào liên quan tới nghiên cứu và phát triển.

Và xin bạn cần biết điều này: Kẻ cướp Trung Quốc không bao giờ bị lương tâm cắn rứt – từ một người buôn bán nhỏ trên các phố ở Thượng Hải mời chào đĩa DVD lậu của bộ phim Harry Potter với giá 80 xu, cho tới chức sắc cao cấp của công ty sản xuất xe hơi cỡ bự như Chery Automotive Company, đã ăn cắp cả tên và thiết kế từ Công ty mang nhãn hiệu Chevy của Hoa Kỳ. Sở dĩ họ không bị lương tâm cắn rứt là vì, trên một tỷ người Trung Quốc được sinh ra và lớn lên ở một môi trường chân không về luân thường đạo lý trong đó quyền sở hữu tài sản bị chà đạp, và nhà nước làm chủ tất cả. Sự lệch lạc đạo đức và luân lý này bắt nguồn ngay từ Chủ tịch Mao và tiếp diễn qua cuộc Cách mạng Văn hóa điên khùng. Chính sự lệch lạc phi luân lý này đã tạo ra một thái độ gọi là “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Trong khi thái độ coi thường việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của Trung Quốc được các nước láng giềng châu Á biết rõ, thì các nước Tây phương lại chẳng biết tí gì về nguồn gốc văn hóa và chính trị dẫn tới tình trạng phi đạo đức này của Trung Cộng.

#4: Hủy hoại môi trường Trung Quốc chỉ vì một vài đồng bạc

Bây giờ chúng ta quay sang vấn đề không thể chối cãi được và thiển cận nhất trong những Vũ khí Hủy diệt Việc làm của Trung Quốc. Đó là hành động ‘tự sát’ của Chính phủ Trung Quốc sẵn sàng hủy hoại môi trường để kiếm thêm một vài xu lợi thế về chi phí sản xuất.

Mặc dù có luật cứng rắn để bảo vệ môi trường theo đúng sách vở và mặc dù luôn luôn rêu rao luận điệu ‘môi trường xanh’ cho khách tiêu thụ Tây phương, thực tế thì Đảng Cộng sản coi các lời nói suông này chẳng có giá trị gì hơn chính Hiến pháp của họ trong đó quyền tự do ngôn luận và tôn giáo đáng lẽ được bảo đảm. Như một chức sắc cao cấp của một trong những nhà máy lớn nhất Trung Quốc đã nói thẳng với một đồng nghiệp của chúng tôi rằng: “Làm được việc là có thể được thăng quan tiến chức – nhưng chẳng ai thèm để ý đến vấn đề môi trường đâu”.

Để biết về việc hủy hoại môi trường tạo lợi thế cho Trung Quốc như thế nào ta hãy xem trường hợp sau đây. Một công ty hóa chất Hoa Kỳ ở Cincinnati, tiểu bang Ohio, cần phải đặt một thiết bị kiểm soát ô nhiễm phức tạp để ngăn chặn các chất thải hóa học chảy vào sông Ohio. Ngược lại, đối thủ cạnh tranh Trung Quốc ở Trùng Khánh chỉ việc sử dụng ngay sông Dương Tử như một cái nhà vệ sinh để thải chất độc nào mà họ muốn bỏ đi. Như vậy thì công ty nào sẽ chiếm thị trường hóa chất quốc tế lớn hơn?

Hay giả sử một nhà máy sản xuất giấy của Hoa Kỳ ở Waterford, tiểu bang New York, cần phải lắp đặt nồi hơi ít xả khí thải và đắt tiền ở phân xưởng hơi nước, trong khi đó đối thủ Trung Quốc không làm gì cả. Điều này dẫn tới giấy sản xuất từ Trung Quốc thì nhiều hơn và việc làm tại Hoa Kỳ thì ít hơn và  số người dân Trung Quốc bị ngạt trong bầu không khí của chính mình cũng nhiều hơn.

Thực vậy, cái mũi nhọn cạnh tranh “ô nhiễm càng nhiều, giá càng rẻ” của Trung Quốc đâm sâu vào các nhà máy trong lãnh vực công nghiệp sản xuất ở Hoa Kỳ, bởi những nhà máy tại Hoa kỳ luôn phải đối mặt với những chí phí cao nhất để tuân theo các quy định về môi trường. Các công ty như Dow Chemical và U.S. Steel chi phí gần 10 lần cho việc bảo vệ môi trường so với các đối thủ Trung Quốc như Sinopec Oil và Bao Steel.

Việc Trung Quốc hủy hoại môi trường để gia tăng và đẩy mạnh xuất cảng được chứng minh rất rõ bằng sự kiện hiển nhiên sau đây. Trong khoảng ba thập niên ngắn ngủi để Trung Quốc nổi lên như một công xưởng của thế giới, Trung Quốc cũng đã được biết tới với hai nét nổi bật, đó là: “quốc gia ô nhiễm nhất hành tinh” và “quốc gia can dự nhiều nhất vào việc làm biến đổi khí hậu”. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới các nhân công Hoa Kỳ, chính dân Trung Quốc cũng đã phải trả một cái giá quá đắt dưới hình thức tỷ lệ gia tăng khủng khiếp về bệnh ung thư, tim mạch, bệnh về đường hô hấp và da liễu.

Hoàn cảnh khốn khổ của loài động vật và thực vật cũng là thước đo mức độ trầm trọng của vấn đề ô nhiễm môi trường. Bất kỳ du khách đến Trung Quốc nào để ý sẽ thấy rằng cả ở nông thôn lẫn thành thị hầu như vắng bóng chim muông. Xuân, hạ, thu, đông, mùa nào cũng vắng tiếng chim ca: đó là phong cảnh độc hại của Trung Quốc.

#5: Làm què quặt và giết hại nhân công lao động không phải để vui mà để thêm nhiều lợi nhuận

Đầu độc sông ngòi, và phá hoại bầu không khí của chính mình để chiếm ưu thế cạnh tranh cũng chưa đủ, Trung Quốc lại còn  muốn có ưu thế hơn nữa bằng những hành động đâm chém, đánh đập, và làm nám phổi cả nguồn nhân công lao động. Trong những công xưởng nguy hiểm chết người của Trung Quốc, phổi bị nhiễm bụi silic và suy hô hấp, cụt chân tay, các bộ phận trong cơ thể bị ung thư, và da bị ăn mòn bởi a-xít, không phải chỉ là những rủi ro nghề nghiệp có thể xảy ra. Đối với hàng triệu công nhân Trung Quốc, tai nạn hầu như là điều tất yếu. Trích đoạn dưới đây từ tờ The New York Times, ghi lại rất đầy đủ một sự thật kinh dị của [nền công nghiệp như] Lò Sát sinh số 5 như sau:

Vĩnh Khang (Yongkang) … ở phía Nam của Thượng Hải, là thủ phủ chế tạo dụng cụ, máy móc của Trung Quốc. Có 7,000 nhà máy gia công sắt thép… sản xuất dụng cụ như các bản lề, nắp che bánh xe, nồi niêu xoong chảo, máy khoan, cửa an toàn, thùng đựng dụng cụ, bình thủy, máy cạo râu, ống nghe, ổ cắm điện, quạt điện, và bất cứ sản phẩm nào có sử dụng các chi tiết kim loại. Vĩnh Khang, theo tiếng Trung Quốc còn có nghĩa là “Mãi mãi mạnh khỏe”, nhưng lại được mệnh danh là “thủ phủ chém chân tay” của Trung Quốc. Ngày nào cũng có ít nhất một lần có người phải đưa vào cấp cứu ở một trong hơn mười trung tâm y tế chuyên điều trị các bệnh liên quan tới thương tích bàn tay, cánh tay và ngón tay.

Thủ phạm chính của nạn thịt rơi máu chảy này là những quy định về an toàn lao động và sức khỏe quá lỏng lẻo của Trung Quốc. Công nhân Trung Quốc phải làm việc vất vả trong điều kiện rủi ro lớn ở mọi ngành công nghiệp, từ vật liệu xây dựng, hóa chất, và máy móc, tới ngành luyện kim, nhựa và dệt may. Chỉ riêng các mỏ than tại Trung Quốc, hàng năm có hàng ngàn công nhân thiệt mạng, trong khi đó ở Hoa Kỳ số nạn nhân chưa tới 50 người mỗi năm.

Đứng trên quan điểm cạnh tranh quốc tế, sự thương vong ở các cơ sở sản xuất đã góp phần tạo ra những lợi thế cạnh tranh rùng rợn nhất mà Trung Quốc lưu trữ trong kho vũ khí của họ. Cụm từ máu, mồ hôi và nước mắt chưa bao giờ có một nghĩa đen chính xác và đúng như vậy khi nói về các “xưởng mồ hôi” và “xưởng máu” tại Trung Quốc.

#6: Một quả bom hạt nhân về hạn chế xuất cảng

Thế còn thứ Vũ khí Hủy diệt Việc làm thứ sáu mà người ta gọi là “Hạn chế xuất cảng” là gì? Để biết được vì sao Tổ chức Thương mại Thế giới lại nghiêm cấm các hạn chế đó – và tại sao những hạn chế về xuất cảng này lại được xem như là một trái bom hạt nhân ném vào giữa nền công nghiệp nặng của Hoa Kỳ – thì chỉ cần nhìn vào một số nguyên liệu cụ thể mà Trung Quốc hạn chế xuất cảng, bằng các hạn ngạch xuất cảng chặt chẽ và thuế xuất cảng cao tới 70%.

Đứng đầu danh sách về hạn chế xuất cảng là các nguyên liệu công nghiệp căn bản như bauxite, than cốc, fluorit, magnesium, mangan, silicon carbide, và kẽm. Quặng bauxite dùng để lấy nhôm. Than cốc là nhiên liệu trọng yếu và là chất khử trong quá trình nấu chảy quặng sắt (luyện gang thép). Fluorit tối cần thiết cho công nghệ sản xuất thép và nhôm. Magnesium là kim loại kết cấu được sử dụng nhiều thứ ba, chỉ sau sắt và nhôm; còn mangan thì được sử dụng bởi các lò luyện thép để tạo ra loại thép chống rỉ sét và chống ăn mòn. Silicon carbide, thì được dùng để sản xuất các loại vật liệu gốm dùng để làm các sản phẩm từ áo giáp chống đạn tới các hệ thống thắng đĩa. Còn kẽm thì sao? Nguyên liệu đa năng này được ứng dụng trong hầu hết mọi lãnh vực, từ việc mạ thép, tới đúc đồng thau và đồng thiếc, hay được dùng làm chất tạo màu cho các loại sơn, và làm chất xúc tác khi sản xuất cao su.

Nói cách khác, hầu như tất cả các nguyên liệu mà Trung Quốc dự trữ thật nhiều hay hạn chế xuất cảng đều là những nguyên liệu không thể thiếu được trong ngành công nghiệp nặng và luyện kim của thế giới. Dĩ nhiên, trong thị trường toàn cầu, những hạn chế về xuất cảng của Trung Quốc đối với các nguyên liệu sẽ làm chi phí sản xuất cao hơn. Vì thế, đối với nhà máy thép của Hoa Kỳ ở Gary, tiểu bang Indiana, công ty luyện nhôm của Canada ở Lac Saint-Jean, tỉnh bang Québec, công ty kỹ thuật khuôn đúc của Nhật ở Hiroshima, hay nhà máy sản xuất kính của Đức ở Dusseldorf, thì hậu quả không thể tránh được đó là tăng giá toàn cầu các nguyên liệu,và làm giảm tư thế cạnh tranh so với các đối thủ từ Trung Quốc.

Chi phí sản xuất còn bị xiết chặt thêm một vòng nữa. Đó là trong khi các công ty Hoa Kỳ và Tây phương phải gánh chịu các chi phí sản xuất cao hơn, thì các đối thủ cạnh tranh Trung Quốc của họ lại được hưởng các đặc quyền và mức giá nội địa có kiểm soát. Hai yếu tố này đã tạo thêm một lợi thế áp đảo cho các công ty Trung Quốc về chi phí sản xuất và giá cả đối với các đối thủ cạnh tranh ngoại quốc.

Cũng cần nhắc lại rằng, Tổ chức Thương mại Thế giới đã nghiêm cấm mọi hình thức hạn chế xuất cảng như thế chính vì nó tạo ra lợi thế cạnh tranh bất chính trong ngành giao thương. Nhưng Trung Quốc không thèm đếm xỉa tới điều này. Cả Hoa Kỳ và Âu châu cho tới nay vẫn chưa làm bất cứ cái gì đáng kể để bắt buộc Trung Quốc thi hành những quy định đó. Vì vậy, Trung Quốc bảo hộ vẫn duy trì các hạn chế xuất cảng phi pháp như là một công cụ để khống chế – đúng ra là bóp nghẹt – tất cả các ngành công nghiệp nặng và luyện kim trên thế giới.

#7: Phá giá, bán đổ bán tháo và Tập đoàn con Rồng toa rập để định giá đất hiếm

Hạn chế xuất cảng của Trung Quốc mới chỉ là một nửa câu chuyện. Còn nửa kia là hạn chế xuất cảng nhiều loại vật liệu gọi là "đất hiếm". Đất hiếm, với những cái tên lạ tai như cerium, erbium, scandium, và terbium, là nguyên liệu có thế mạnh “châu chấu đá xe”  trong ngành sản xuất kỹ thuật cao. Vì có các đặc tính thiết yếu về từ tính và phát quang đặc biệt cũng như khả năng truyền dẫn, tạo và tích trữ năng lượng, nên chỉ một chút đất hiếm cũng có ảnh hưởng rất lớn trong việc chế tạo nhiều loại sản phẩm kỹ thuật cao.

Các sản phẩm thông dụng hiện nay như cuộn dây truyền âm thanh (voice coil) trong ổ cứng (hard drive) của iPod, bình điện dùng trong chiếc xe hơi hybrid, hay các tấm pin năng lượng mặt trời đều ít nhiều sử dụng đất hiếm. Đất hiếm cũng được dùng trong các bộ chuyển đổi xúc tác để lọc khí thải xe hơi cho không khí được trong sạch, trong các máy quang tuyến di động mà bác sĩ dùng để chẩn bệnh nhanh chóng, trong nguồn laser dùng trong các ứng dụng công nghiệp và khoa học, và trong các nam châm dùng trong các hệ thống dẫn đường hiện đại cần có trong các máy bay quân sự và thương mại.

Đất hiếm quan trọng trong cuộc sống của chúng ta như vậy nên thật là một điều đáng lo ngại khi biết rằng Trung Quốc đang thao túng một cách hiệu quả thị trường của nhiều loại đất hiếm. Điều làm chúng ta kinh ngạc về sức mạnh thị trường của Trung Quốc là dù chỉ có một phần ba trữ lượng đất hiếm trên thế giới, nhưng hiện nay Trung Quốc chiếm trên 90% sản lượng đất hiếm trên thế giới.

Làm sao mà Trung Quốc lại có thể tạo ra cái gọi là "Cartel độc quyền đất hiếm" của chính họ? Đó là vì Trung Quốc dùng các thủ đoạn phá giá đi đôi với bán đổ bán tháo. Đây chính là bài học lấy ra từ "Cẩm nang về tổ chức độc quyền Cartel".

Bài học này bắt đầu từ cách đây hơn một thập niên. Đó là khi một số quan chức cao cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận ra được nguồn đất hiếm dồi dào của họ và bắt đầu đổ hàng đống tiền trợ cấp chính phủ vào ngành sản xuất đất hiếm. Mục tiêu mà họ muốn là biến Cộng hòa nhân dân Trung Quốc thành một “Tập đoàn độc quyền về đất hiếm” giống như OPEC (Tổ chức các Quốc gia xuất cảng Dầu hỏa).

Để xây dựng và phát triển "Cartel độc quyền đất hiếm", các công ty chính phủ khai thác khoáng sản của Trung Quốc đã cố ý khai thác thặng dư một khối lượng khổng lồ đất hiếm, sau đó cố ý bán phá giá khối lượng khổng lồ đất hiếm đó vào thị trường toàn cầu. Kết quả là làm hạ giá toàn cầu xuống thấp hơn chi phí sản xuất và loại các đối thủ cạnh tranh nước ngoài ra khỏi thị trường đất hiếm.

Thực vậy, một trong những nạn nhân lớn nhất của chiến dịch phá giá của Trung Quốc là một công ty Hoa Kỳ ở Denver, tiểu bang Colorado, có tên là Molycorp. Đã có thời Molycorp là vua của đất hiếm, và mỏ Mountain Pass của họ ở California là mỏ lớn nhất thế giới. Nhưng vì chiến dịch phá giá tận diệt của Trung Quốc, Molycorp buộc phải đóng mỏ vào năm 2002.

Trong nhiều năm qua, khi cartel độc quyền thao túng đất hiếm đã vững, Trung Quốc đã chuyển từ giai đoạn I “bán phá giá”, sang giai đoạn II “ép giá”. Vì đã bán phá giá tiêu diệt các công ty khai thác khoáng sản nước ngoài nên ở giai đoạn “ép giá” này, Trung Quốc bắt đầu đột ngột tăng giá đất hiếm.

Chẳng hạn như cerium oxide, vật liệu trọng yếu trong việc chế tạo pin nhiên liệu và các bộ chuyển đổi xúc tác. Năm 2007, thì giá toàn cầu chỉ khoảng 3 đô-la một kí-lô. Năm 2010, sau khi Trung Quốc áp dụng chính sách hạn chế xuất cảng, giá của vật liệu cerium oxide nhảy vọt lên tới 23 đô-la mỗi kí-lô – tăng hơn 7 lần chỉ trong vòng 3 năm.

Còn đối với chất samarium oxide thì như thế nào? Đây là loại vật liệu đất hiếm rất quan trọng dùng trong sản xuất các thanh nam châm cực mạnh, và được sử dụng trong trong trị bệnh ung thư bằng phóng xạ... Giá của đất hiếm này đã tăng tới gần 1,000%.

Tất nhiên, việc tăng giá phi thường này đã bắt đầu khiến các nhà đầu tư nước ngoài thận trọng trở lại thị trường đất hiếm, (chính Công ty Molycorp cũng đã bắt đầu mở lại mỏ). Tuy nhiên, các đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc phải đối mặt với một rủi ro rất lớn: bất cứ lúc nào, các công ty khai thác đất hiếm quốc doanh của Trung Quốc có thể lại sản xuất ào ạt, lại tràn ngập thị trường, lại làm giảm giá, và – bổn cũ soạn lại – các công ty như Molycorp lại bị loại ra khỏi ngành kinh doanh về đất hiếm.

Chẳng ngạc nhiên gì, nguy cơ phá giá bất cứ lúc nào do Trung Quốc tạo ra để chèn ép các công ty sản xuất đất hiếm bên ngoài Trung Quốc, đã có tác dụng đúng như Chính phủ Trung Quốc mong muốn.

Độc chiêu tối hậu của chiến lược đất hiếm có một khía cạnh nữa, Trung Quốc còn biến trò chơi phá giá để thống trị kinh tế của họ thành một võ khí lợi hại như một quả đấm sắt (****) để gây sức ép chính trị. Chẳng hạn, trong một vụ nổi tiếng năm 2010, Nhật Bản đã phải nhượng bộ và thả Thuyền trưởng liều lĩnh người Trung Quốc bị bắt vì phạm tội cố ý đâm vào tàu tuần dương bảo vệ lãnh hải của Nhật Bản ở vùng biển gần quần đảo Senkaku – vùng lãnh thổ được kiểm soát bởi Nhật Bản, mà Trung Quốc đòi là của họ. Tất nhiên, một trong những lý do chính mà Nhật Bản đã phải cúi đầu nhượng bộ sức ép của Trung quốc là vì Trung Quốc đã ngưng xuất cảng đất hiếm sang Nhật Bản. Đất hiếm là nguyên liệu then chốt trong việc sản xuất của ngành công nghiệp xe hơi và điện tử của Nhật Bản.

#8: Trời ơi, Vạn lý Trường thành Bảo hộ ghê gớm quá!

Vũ khí Hủy diệt Việc làm cuối cùng, là Vạn lý Trường thành Bảo hộ sừng sững và hùng vĩ được xây dựng bằng nhiều loại “gạch” như: thuế đánh vào hàng nhập cảng, những hạn ngạch trá hình một cách sơ sài, thuế hải quan quá mức, các luật lệ “Mua hàng Trung Quốc” bắt buộc dùng hàng nội địa, các rào cản kỹ thuật đối với thương mại, cùng với những mánh khóe bỏ thầu gian lận.

Nói trắng ra thì những bức tường bảo hộ nghĩa là: Trong khi các nhà máy sản xuất máy điện toán của Trung Quốc ở Thâm Quyến, các công ty may mặc ở Đông Dương, tỉnh Chiết Giang, hay các nhà máy sản xuất phụ tùng máy bay ở Thượng Hải có thể tự do bán hàng hóa ở thị trường Bắc Mỹ, thì những công ty và các đối thủ cạnh tranh của họ ở San Jose, Mexico City, và Dorval, tỉnh bang Québec (Canada), không được tự do bán hàng hóa ở Trung Quốc. Vậy chẳng có gì ngạc nhiên khi thấy nền sản xuất của chúng ta đang trong tình trạng dở sống dở chết.

Tổng kết những quan ngại về Trung Quốc

Khi tổng kết tất cả tám Vũ khí Hủy diệt Việc làm của Trung Quốc sẽ thấy kết quả là hàng triệu việc làm của Hoa Kỳ, Canada, Âu châu, Mexico và Á châu bị mất, và toàn bộ nền sản xuất của Tây phương đã bị khuất phục. Khi kết hợp từng vũ khí trong số tám Vũ khí Hủy diệt Việc làm của Trung Quốc với những dòng người thất nghiệp ở Hoa Kỳ, tình trạng trì trệ kinh tế ở Nhật Bản, khủng khoảng nợ ở Âu châu, và tình trạng dân chúng nổi loạn ở Mexico, bạn sẽ nhìn thấy một bức tranh rộng lớn hơn: đó là chính sách và chiến lược công nghiệp theo chủ nghĩa con buôn và chủ nghĩa bảo hộ mà Trung Quốc theo đuổi không nhằm vào mục tiêu nào khác ngoài mưu toan thống trị hoàn toàn nền sản xuất thế giới, thống lĩnh thị trường toàn cầu, và khuất phục Thế giới Tây phương về kinh tế.

Trên cương vị là Tổng giám đốc Điều hành của Công ty Nucor Steel, ông Dan Dimicco đã hùng hồn phát biểu như sau: “Chúng ta ở trong cuộc chiến tranh thương mại với Trung Quốc đã hơn một thập niên. Nhưng chỉ có họ là những người khai hỏa!”. Ngay cả Tổng giám đốc luôn luôn ‘nhũn nhặn’  của Tập đoàn General Electrics, ông Jeffery Immelt, trong một lúc thức tỉnh hiếm có cũng phải nhận xét như sau: “Tôi thực sự lo lắng về Trung Quốc, tôi không chắc là cuối cùng họ muốn để cho ai trong chúng ta thành công ai thắng lợi”.

Rõ ràng là đã quá muộn rồi, đến lúc Hoa Kỳ và các đồng minh của mình trong thị trường tự do và buôn bán phân minh cần phải phản pháo lại đối thủ Trung Quốc. Cũng đã quá muộn rồi đến lúc các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc cần phải biết điều này: Tổ chức Thương mại Thế giới được thành lập chỉ vì một mục đích, đó là phát huy một nền mậu dịch tự do thực sự và đẩy mạnh phát triển chung cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Bằng tám Vũ khí Hủy diệt Việc làm, Trung Quốc đã phá hoại một cách có hệ thống cái khung của tự do mậu dịch – thậm chí họ còn liên tục chiếm lĩnh hết thị trường này tới thị trường khác của Hoa Kỳ dưới chiêu bài WTO. Đây là một trong những việc làm bẩn thỉu và đê tiện nhất trong lịch sử kinh tế thế giới: cần phải chặn đứng cái chủ nghĩa con buôn và chủ nghĩa bảo hộ Trung Quốc. Không làm ngay thì còn chờ tới khi nào nữa? Nếu Hoa Kỳ không làm thì quốc gia nào sẽ làm? Như Thủ tướng Winston Churchill  đã từng nói: “Người ta tin là người Mỹ luôn luôn làm điều đúng, sau khi họ đã dùng hết những giải pháp khác”. Bây giờ chính là lúc chúng ta đã đến thời điểm đó.

(*) Nguyên tác: “Will it play in Peoria?” Peoria là thành phố lớn nhất nằm bên dòng sông Illinois, thuộc tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ, với dân số khoảng 115 ngàn người. Thành ngữ “Will it play in Peoria?” thường được dùng để hỏi liệu rằng một sản phẩm, nhân vật, đề tài hay sự kiện nào đó có sức lôi cuốn đối với dân chúng Hoa Kỳ hay không?

(**) "American dream": Thành ngữ nói về niềm tin về sự tự do cho phép tất cả các công dân và di dân ở Hoa Kỳ theo đuổi các mục tiêu của họ trong cuộc sống qua sự làm việc siêng năng và tự chọn lựa, bằng khả năng hơn là bằng địa vị xã hội của mình.

(***) "Trickle-down economics": Quan điểm kinh tế từ thời Đại khủng hoảng cho rằng giúp các doanh nghiệp thì lợi ích sẽ lan tỏa đến người dân.

(****)   Nguyên tác "brass knuckle": tiếng Pháp là "coup de poing américain": võ khí kim loại đeo vào cườm tay để đấm, gây thương tích nặng cho đối thủ.

Hết Chương IV

P.N. & G.A.

Chú dẫn:

Death by China hay Chết dưới tay Trung Quốc được viết bởi Giáo sư Kinh tế và Chính sách Công cộng tại Đại học California, Irvine, Peter Navarro và đồng sự Greg Autry. Quyển sách dày 320 trang, thống kê một cách cặn kẽ những chiêu thức kinh tế, xã hội, chính trị, và quân sự của Trung Quốc đã làm mất đi hàng triệu việc làm của Hoa Kỳ cùng với 5 hiểm họa quân sự mà Hoa Kỳ và thế giới tự do phải đối đầu trong những thập niên tới. GS Navarro cũng phản biện mạnh mẽ những ý kiến của Thomas Friedman về thuyết “Thế giới phẳng”. Ông cho rằng thế giới quả thật sự phẳng chỉ khi các quốc gia cùng tuân thủ một luật lệ chung. Trung Quốc hoàn toàn không thuộc vào trường hợp đó.

Nhóm dịch giả gửi trực tiếp cho BVN