Hiển thị các bài đăng có nhãn Cộng sản cướp đất. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cộng sản cướp đất. Hiển thị tất cả bài đăng

Để cầm nước mắt Thủ Thiêm

Nguyễn Huy Viện

Để cầm nước mắt Thủ Thiêm

Để cầm nước mắt Thủ Thiêm cần thấu hiểu nỗi niềm người dân

Để “nước mắt Thủ Thiêm” không còn chảy ròng như 20 năm qua, trước hết phải thấu hiểu nỗi niềm của người dân, để thành thật trả lời đầy đủ những câu hỏi và giải quyết thấu đáo những yêu cầu chính đáng của người dân nơi đây.

Trong vòng chưa đầy một năm, Thanh tra Chính phủ hai lần công bố kết luận thanh tra công tác quản lý nhà nước và thực hiện pháp luật trong quy hoạch, quản lý xây dựng, đất đai đối với khu đô thị mới (KĐTM) Thủ Thiêm, TP. Hồ Chí Minh, lần thứ nhất ngày 7/9/2018, lần thứ hai ngày 26/6/2019.

Nhưng cả hai lần vẫn chưa trả lời thỏa đáng những câu hỏi đầy ấm ức đã theo họ khiếu kiện đằng đẳng tới tất cả các cấp từ quận đến Trung ương suốt hơn 20 năm qua.

Trong suốt chặng đường 20 năm ấy, đã có không biết bao nhiêu cuộc tiếp xúc cử tri của các đoàn đại biểu Quốc hội, HĐND TP. Hồ Chí Minh, HĐND Quận 2 với đồng bào Thủ Thiêm. Và mỗi cuộc tiếp xúc cử tri đó có không biết bao nhiêu tiếng nói bất bình, uất nghẹn đầy nước mắt khi nhà cửa, đất đai của người dân bị cưỡng chế thu hồi phi lý, đẩy cuộc sống của họ đến khốn cùng. Dưới đây là một số trích dẫn trong các cuộc tiếp xúc xử tri như vậy.

Ngày 29/6/2019, tức 3 ngày sau công bố kết luận của Thanh tra Chính phủ, trong buổi tiếp xúc cử tri Quận 2, trước kỳ họp HĐND TP. Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Xuân Đức, phường Cát Lái, bày tỏ nỗi niềm: Suốt 20 năm qua, người dân Quận 2 phải ly tán khắp nơi, vậy mà "Kết luận của Chính phủ chỉ nói đến cơ quan nào vi phạm, tổ chức nào làm sai, chứ chưa nhắc gì đến đời sống người dân. Đây là đại án của cả nước, chứ không phải của riêng Quận 2". [1]

Những thanh củi cần được vào lò!

Ngô Thị Hồng Lâm

Nguồn gốc đất:

Năm 1968 ông Nguyễn Văn Tý đứng tên mua đất của “Địa phận Công giáo” một mảnh đất có diện tích 715m2, trên hoạ đồ được phân thành:

7 lô thổ cư, được đánh số thứ tự từ 8 ... đến lô số 14, có 16 trụ sạn cột mốc, có bảng xác định toạ độ; 103,27, 34,111,109 thuộc sổ địa bộ 241. Bản đồ số 2, tờ bản đồ số 1.

Đăng kí trước bạ ngày 21/9/1968 toạ lạc tại địa chỉ xã Phú Thọ Hoà – Gia Định, để cất nhà cho 9 đứa con khi trưởng thành (đính kèm).

(Nay số mới là số 206/7/9 Đồng Đen, phường 13, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh).

Sau tháng 4/1975 ông Nguyễn Văn Tý bị đi học tập cải tạo. Còn vợ con thì buộc phải đi kinh tế mới tự túc ở Đồng Nai. Sau 2,5 năm học tập trở về, ông Nguyễn Văn Tý đăng kí hộ khẩu cùng gia đình ở vùng kinh tế mới số 8/4 ấp Hoà Bình, xã Túc Trưng, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và sinh sống ở đây cho đến khi từ trần.

Sau 2,5 năm khi ông Tý đi học tập, cải tạo trở về, đến ngày 8/6/1994, Ban Quản lý ruộng đất thành phố Hồ Chí Minh đã cho đăng kí và cấp “Sổ địa bộ” số 1315/RĐ-PĐC công nhận ông Nguyễn Văn Tý đứng tên chủ đất của 715m2 đã mua năm 1968.

Khoảng giữa năm 1994 khi ông Nguyễn Văn Tý phát hiện chính quyền quận Tân Bình âm thầm nhổ hết 16 trụ sạn cột mốc trên phần đất của mình mà không thông báo, không có quyết định thu hồi đất, rồi tự ý san lấp phân lô cấp cho nhiều người và bán cho tư nhân xây nhà nhiều tầng dưới danh nghĩa “quy hoạch khu dân cư Bàu Cát quận Tân Bình”, ông Tý đã đứng đơn khiếu nại đến UBND quận Tân Bình để đòi lại 715m2 đất mà UBND quận Tân Bình chiếm dụng trái pháp luật một cách thô bạo bằng quyền lực.

Nhà cầm quyền TP.HCM muốn chứng minh " Luật là tao, Tao là luật "?

Nguyễn Hoàng Hải


Gần ba tuần đã trôi qua kể từ ngày 4/1/2019, là một ngày mà nhà cầm quyền TP.HCM đã thành công trong công việc đánh úp cư dân đang cư ngụ tại vườn rau Lộc Hưng ra khỏi nơi cư ngụ của mình một cách thật sự quá dễ dàng bởi quyền lực vô hạn đã có sẵn trong tay.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgazu3qM70HuvLRlfNSvrXCLNfijPyI4UP9jJVUYyMLpkuT64ahj5UVASVuNko6ES-doOIIAQLfb4eW273cMAE7IWcKX9rKRfi5QUYaVuQS1SBy4CzIvkDX-c_ViMDNVo888wwpO8JA2A/s640/D2A3F7CA-214C-425C-B7AD-D1FFCF7BC27F_w1023_r1_s.jpg


Thông báo thời gian 90 ngày để người dân tự di dời tháo dỡ, có hay không thông báo bằng miệng hay dán trên tường vài ngày trước đó chỉ là một màn kịch che đậy kế sách đánh úp bất ngờ người dân vườn rau Lộc Hưng?

THÔNG CÁO BÁO CHÍ SỐ 1 CỦA NHÓM LUẬT SƯ LỘC HƯNG

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16 tháng 01 năm 2019

Kính gửi các cơ quan báo chí, truyền thông trong ngoài nước.

Đồng kính gửi cộng đồng mạng xã hội, các cơ quan, đơn vị có thầm quyền và có liên quan.

Chúng tôi, nhóm luật sư giúp dân Vườn Rau Lộc Hưng (viết tắt nhóm Luật sư Lộc Hưng hay nhóm LSLH) xin trân trọng thông báo như sau:

1/. Ngày 15/1/2019, 20 hộ dân tại Vườn Rau Lộc Hưng (VRLH), quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, do các ông bà Cao Hà Chánh, Cao Hà Trực, Trần Minh Thi đại diện đã có giấy đề nghị luật sư gửi những tổ chức hành nghề luật sư của nhóm LSLH, yêu cầu cử các luật sư trợ giúp pháp lý cho họ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong các vụ việc liên quan đến khu đất Vườn Rau Lộc Hưng, đặc biệt trong vụ cưỡng chế phá nhà diễn ra tại đây từ ngày 4 đến ngày 8/1/2019. Các ông bà nêu trên cho biết hầu hết người dân (khoảng từ 150 đến 180 hộ) bị ảnh hưởng từ vụ cưỡng chế phá nhà đều mong muốn nhờ các luật sư giúp đỡ về pháp lý.

2/. Đến nay, đã có các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư sau đây đồng ý nhận trợ giúp cho người dân VRLH: Luật sư Đặng Trọng Dũng (Văn phòng luật sư Đặng Dũng & Ninh Hòa), Luật sư Trần Vũ Hải (Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải), Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc (Công ty Luật Inter Law), Luật sư Trần Hồng Phong (Công ty Luật Eco Law), Luật sư Nguyễn Văn Miếng (Văn phòng luật sư Luật Hồng Đức), Luật sư Đào Kim Lân (Công ty Luật An Thuận Phát), Luật sư Đặng Đình Mạnh (Văn phòng luật sư Đặng Đình Mạnh), Luật sư Đồng Hữu Pháp (Văn phòng luật sư Đồng Hữu Pháp), Luật sư Đoàn Thái Duyên Hải (Văn phòng luật sư Hải Đoàn), Luật sư Dương Vĩnh Tuyến (Văn phòng luật sư Dương Chí), Luật sư Nguyễn Duy Bình (Văn phòng luật sư Duy Trinh), Luật sư Phương Văn Thêm (Công ty Luật Phương Gia),Luật sư Nguyễn Hữu Thông (Văn phòng luật sư Nguyễn Hữu), Luật sư Trần Đình Dũng (Văn phòng luật sư Đặng Dũng & Ninh Hòa), Luật sư Thái Thị Diễm Trúc (Công ty Luật Tín Nhân), Luật sư Ngô Thị Phương Thảo (Văn phòng luật sư Trương Anh Tú), Luật sư Phùng Thanh Sơn (Công ty Luật Thế Giới Luật Pháp).

Ngoài ra còn một số luật sư, chuyên gia pháp lý và tổ chức hành nghề luật sư khác đã ngỏ ý sẵn sàng tham gia hỗ trợ pháp lý cho người dân VRLH, chúng tôi sẽ thông báo khi thích hợp.

3/. Các hộ dân VRLH cho rằng có nhiều vấn đề cần được các luật sư giúp đỡ về pháp lý, đặc biệt hai vấn đề sau:

- Vụ cưỡng chế phá nhà từ ngày 4 đến ngày 8/1/2019 theo họ là trái pháp luật, không làm đúng theo các quy định của pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng cho hàng trăm người dân VRLH về vật chất lẫn tinh thần, khiến rất nhiều người lâm vào tình trạng khó khăn về cuộc sống, chỗ ở, mất tài sản. Họ đề nghị các luật sư yêu cầu làm rõ tính hợp pháp của cuộc cưỡng chế này, buộc những cơ quan và cá nhân liên quan phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo pháp luật, bồi thường thiệt hại cho họ, trả lại đất VRLH cho họ tiếp tục sử dụng.

- Theo họ, đất VRLH đã được người dân ở đây (phần lớn có nguồn gốc người miền Bắc di cư năm 1954) khai thác, sử dụng hợp pháp liên tục từ năm 1955 đến nay, phục vụ cho cuộc sống của họ, mà hầu hết là những lao động nghèo, hoàn cảnh khó khăn. Họ có đủ tài liệu chứng minh về việc này. Sau năm 1975 họ đã nhiều lần đề nghị chính quyền địa phương thực hiện chính sách đất đai của nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam để xác nhận hiện trạng về đất (không có tranh chấp), làm

các thủ tục để cấp các giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp theo pháp luật đất đai cho họ yên tâm sinh sống, làm ăn. Thế nhưng chính quyền địa phương đã không làm theo các quy định của pháp luật, khiến họ phải khiếu nại, tố cáo liên tục từ năm 1999 đến nay. Song các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa giải quyết dứt điểm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, khiến cuộc sống, việc làm ăn của họ thiếu ổn định. Chính quyền địa phương cho rằng đất VRLH là đất công (hay đất công cộng) nhằm tước đoạt quyền sử dụng đất hợp pháp của họ, biến họ từ những công dân lương thiện thành người vi phạm chiếm đất công. Họ kiên quyết phản đối cách ứng xử chuyên quyền và trái luật này. Họ đề nghị các luật sư yêu cầu chính quyền địa phương tại TPHCM và trung ương tổ chức tiếp dân đối thoại công khai với họ về vấn đề này.

4/. Các luật sư của nhóm LSLH cho rằng những ý kiến trên của người dân VRLH là có căn cứ pháp lý. Chúng tôi trân trọng đề nghị các cơ quan chức năng tại TPHCM tạo mọi điều kiện để các luật sư và người dân thực hiện các quyền của mình theo Hiến pháp và Luật trong việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân VRLH, cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu liên quan đến những vụ việc này.

5/. Chúng tôi được biết trong thời gian vừa qua, có một số báo chí đã đưa tin một chiều, không khách quan. Theo các hộ dân VRLH, nhiều thông tin đó không phản ánh đúng sự thật, không ghi nhận những ý kiến của những người dân VRLH và phản ánh những tài liệu mà họ đã cung cấp cho các cơ quan chức năng, cơ quan báo chí, gây bất lợi cho họ, khiến họ rất bức xúc trong khi họ đang gặp vô vàn những khó khăn sau vụ cưỡng chế phá nhà (và thực tế là chiếm đất của họ) tại VRLH. Nhiều người mất nhà, mất việc, mất tài sản, thu nhập, sống vất vưởng, càng bị tổn thương thêm về tinh thần. Vì vậy, nhóm LSLH trân trọng đề nghị các cơ quan báo chí, truyền thông, cộng đồng mạng xã hội đưa tin bài về VRLH một cách khách quan, trung thực, phản ánh đúng sự thật, đặc biệt cần ghi nhận những ý kiến và tình cảnh hoạn nạn của người dân VRLH hiện nay sau vụ cưỡng chế phá nhà trên. Chúng tôi cũng trân trọng mời các cơ quan báo chí, truyền thông và những ai quan tâm đến VRLH chứng kiến các hoạt động của các luật sư và người dân trong quá trình đấu tranh pháp lý sắp tới để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân VRLH, tường thuật cho công chúng.

6/. Chúng tôi trân trọng cám ơn mọi sự giúp đỡ, hỗ trợ, chia sẻ, ủng hộ, đồng hành của các nhà hảo tâm, các đồng nghiệp, các doanh nhân, các nhà hoạt động xã hội và bất cứ cơ quan, đơn vị, hội đoàn, nhóm công dân và cá nhân nào để giúp người dân VRLH và nhóm Luật sư Lộc Hưng trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân VRLH./.

Nhóm Luật sư Lộc Hưng

Lộc Hưng và những sự thật được phơi bày

Lưu Trọng Văn

Mấy ngày qua, gã chưa lên tiếng về vụ Lộc Hưng trong khi tin tức Lộc Hưng tràn các ngóc ngách và xa lộ mạng.

Ba lý do.

- Gã đang dở bài viết về sự thật ở nhà thờ Đức Bà mà gã cho rằng một dân tộc sẽ đổ vỡ khi hai dinh luỹ là làng quê và tôn giáo bị tha hoá. Với gã đó là hai dinh luỹ cuối cùng.

- Ngày 14.1 hôm qua là ngày hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực ở VN. Đây là đột phá và niềm hy vọng cho cuộc tháo chạy, mong thoát khỏi nền kinh tế bẩn cùng làn gió độc phương Bắc để từng bước hoà nhập với nền kinh tế sạch - vấn đề sống còn với dân tộc. Gã cần viết bài về sự kiện lịch sử này.

- Gã cần đủ thông tin và độ lùi thời gian để có góc nhìn theo gã là đúng nhất về sự thật vụ Lộc Hưng.

Có một nhà báo tích cực bảo vệ Dân quyền đã giận gã và tuyên bố huỷ kết bạn với gã vì cái mà nhà báo đó cho là gã đã im lặng đồng nghĩa với việc gã đứng về phe áp bức. Gã tuyên bố, không ai có quyền như các quan tuyên giáo chỉ đạo gã phải viết và phải đứng về phe nào. Và sự im lặng không chỉ có nghĩa là vô cảm mà có thể còn có nghĩa chất chứa sóng ngầm. Những ai muốn thành công phải hiểu điều ấy.

Vậy lúc này gã đã nhận chân ra các sự thật nào qua vụ Lộc Hưng đang dậy sóng dư luận?

Người cộng sản VN đã giành được chính quyền nhờ hiểu lòng Dân, biết Dân muốn gì và họ sống trong lòng Dân vận động Dân ủng hộ họ. Nhưng trớ trêu thay khi yên vị ngai vàng không ít người cộng sản đã phạm sai lầm nghiêm trọng nhất trong lịch sử của họ, họ đã coi Dân không là chủ thể nữa mà thay vào đó là họ.

Họ đã càng ngày càng xa Dân, không cần hiểu Dân muốn gì mà chỉ cần biết họ muốn gì rồi bất chấp luật pháp mà do chính họ đặt ra áp đặt, buộc Dân theo họ. Họ trừng trị bất cứ Dân nào chống lại ý muốn của họ.

Tiên Lãng, Đồng Tâm, Thủ Thiêm là minh chứng cho sai lầm đó. Tưởng với bài học Tiên Lãng, Đồng Tâm, Thủ Thiêm họ phải hãi sợ rút ra bài học để đời, nhưng không, Lộc Hưng ngang nhiên một lần nữa xảy ra.

Vậy thực chất họ là ai?

Là nhóm lợi ích cùng những người trong hệ thống chính trị vô trách nhiệm bị nhóm lợi ích chi phối và cho vào bẫy. Gã có thể khẳng định các vụ đất đai đều liên quan đến nhóm lợi ích bẩn thỉu hết. Đồng Tâm, Thủ Thiêm là những minh chứng rõ ràng.

Khi bất động sản là nguồn thu lợi khổng lồ, nhanh nhất, ngon nhất thì bất cứ miếng mồi bất động sản nào đều có đôi mắt cú vọ và vòi bạch tuộc của nhóm lợi ích ấy chõ vào.

Từ rất lâu Lộc Hưng - miếng mồi hơn 4 héc ta quá ngon đã bị chúng nhòm ngó và nuốt nước bọt.

Đó là lý do chính quyền Tân Bình và chính quyền TP bao lâu nay không chịu làm thủ tục theo Luật đất đai để cấp chứng nhận chủ quyền đất cho nhiều người Dân có đủ chứng từ cấp chủ quyền đất.

Họ gài bẫy tạo ra tình hình không kiểm soát ở Lộc Hưng, dẫn đến bên cạnh những người Dân có giấy tờ, chứng cứ hợp pháp là làn sóng một số người dân nghèo khác mua bán đất, chiếm đất không hợp pháp rồi đánh đồng tất cả với nhau thành bất hợp pháp hết.

Họ vừa để cho chính quyền địa phương ăn tiền người Dân xây nhà bất hợp pháp vừa để mặc các nhà xây bất hợp pháp ấy tồn tại.

Bẫy sập.

Nhưng không dễ nuốt trôi mảnh đất ngon ăn này khi tấm gương Thủ Thiêm cùng Lò của bác cả Trọng đang hừng hực, chúng buộc phải chuyển mục đích thu hồi đất để làm trường học, công ích.

Sự thật Lộc Hưng đã bị che giấu. Ngài Bí thư Nguyễn Thiện Nhân bị phong toả thông tin nên không thể biết sự thật này. Cái lý lẽ đưa ra quá đúng, nào là đất công, nào là dân lấn chiếm, xây nhà không phép, nào là kỷ cương phải nghiêm, nào là nhu cầu xây dựng chính đáng. Ngài Bí thư tin sái cổ.

Tin vào đồng chí của mình là tốt, nhưng khi tin không tìm hiểu đồng chí mình là ai là ngớ ngẩn. Tin vào đồng chí mình cho là Dân sai nhưng không gặp Dân, nghe Dân, tìm sự thật trong Dân là sự vô trách nhiệm với Dân.

Sai lầm cố hữu. Sai lầm kinh niên.

Nếu gã là Bí thư Nhân, gã đã một mình lặng lẽ đến Dân. Sự thật quá dễ để biết. Ai có giấy tờ hợp pháp phải được pháp luật bảo vệ. Ai lấn chiếm đất bất hợp pháp phải trừng trị. Ai vì mưu sinh mua bán đất không đúng cần được chia sẻ thích hợp. Ai nghèo quá, bệnh tật, thương phế binh cần hỗ trợ giúp đỡ.

Xong. Ngòi nổ được tháo.

Nhưng không, ngài Bí thư đã để cho chính quyền vơ đũa cả nắm, đã coi tất cả đều bất hợp pháp cần phải nghiêm trị theo phép nước.

Sự phẫn nộ từ sự bất công, từ sự chà đạp sự thật này mà ra.

Gã luôn ủng hộ luật pháp nghiêm minh. Nhưng luật pháp chỉ thực sự công bằng nghiêm minh nếu được trao vào tay chính quyền bất vụ lợi, trao vào tay chính quyền thực sự nghiêm minh.

Quan điểm của Toà TGM Sài Gòn năm 2007 về đất Vườn rau Lộc Hưng

Một lần nữa Toà Tổng Giám mục thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở vững chắc để khẳng định rằng bà con canh tác tại khu vườn rau, đường Chấn Hưng, phường 6, quận Tân Bình có đầy đủ cơ sở pháp lý để được công nhận quyền sử dụng đất của mình và được quyền hưởng chính sách đền bù mà pháp luật quy định cho người có quyền sử dụng đất, khi đất của họ bị thu hồi”.

Đó là lời xác quyết rõ ràng của Toà Tổng Giám mục Sài Gòn trong văn bản số I.83.2007.285 gửi ông Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, do Cha G.B. Huỳnh Công Minh, khi ấy là Linh mục Tổng Đại diện của Đức Hồng y Tổng Giám mục Sài Gòn, ấn ký ngày 31/8/2007.

IMG_1432IMG_1433IMG_1434IMG_1435IMG_1436IMG_1437IMG_1438IMG_1439

Nguồn: http://dcctvn.org/quan-diem-cua-toa-tgm-sai-gon-nam-2007-ve-dat-vuon-rau-loc-hung/?fbclid=IwAR0jiFQiH45ZF5ssslozOPoQtuCxjvpfrjTJR5mXFN1FmlrZC1USKvvGJtE#.XD3IpjG7r1U.facebook

Khu đất Lộc Hưng và khu ăng ten sân bay Gia Lâm: Một hoàn cảnh hai cách ứng xử

Nguyễn Đình Ấm

Lai lịch, hoàn cảnh của khu đất vườn rau Lộc Hưng P.6 Q. Tân Bình (TP. HCM) và khu ăng ten sân bay Gia Lâm (Hà Nội) giống y hệt nhau.

Trước năm 1990 cách sân bay khoảng gần 1 km về phía tây bắc thuộc địa phận xã Bồ Đề (trước là huyện Gia Lâm nhưng từ năm 2003 là P. Bồ Đề, quận Long Biên (TP. Hà Nội) có khu ăng ten viễn thông rộng khoảng 1 ha. Tại đó có nhiều cột ăng ten bằng thép cao hàng trăm mét. Từ ngọn các tháp có dây nối với các tháp khác (phi đơ) cùng dây néo ra bốn bề. Những cột ăng ten này dùng để thu, phát sóng viễn thông cho hoạt động hàng không. Đây là khu ăng ten được thiết lập từ thời Pháp, Nhật. Năm 1954 quân đội CSVN tiếp quản tiếp tục cải tạo, sử dụng.

Do dưới chân các cột ăng ten thoáng, rộng không làm gì nên từ năm 1956 dân xã Bồ Đề vào làm ruộng cày cấy, dựng lều, quán, làm nhà tạm...

https://3.bp.blogspot.com/-mrZZs5D3P2Q/XDykwcS7TPI/AAAAAAAAAck/SIlEonuee5kGXT4ACMb18zUpRg7KM0RfQCLcBGAs/s640/New%2BProject.jpg

Một đường phố ở khu ăng ten sân bay Gia Lâm. Ảnh: Nguyễn Đình Ấm

Thượng tôn pháp luật: Vườn rau Lộc Hưng

Đỗ Thành Nhân

Giới thiệu

Tiếp theo bài “Thượng tôn pháp luật”(1), đã đưa ra 3 trường hợp “Biệt thự ca sỹ Mỹ Linh”, "Lăng mộ Chủ tịch Trần Đại Quang” và "Vườn rau Lộc Hưng”; bài viết này chỉ nói về "Vườn rau Lộc Hưng”; trước khi đi vào nội dung, xin giới thiệu.

- Người viết bài là tác giả của một đề tài nghiên cứu khoa học và sau khi nghiệm thu chuyển thành dự án ứng dụng khoa học công nghệ cấp tỉnh với tên gọi “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đất đai cấp xã, phường, thị trấn” (từ 2002-2008). Kèm theo đề tài có 2 giấy chứng nhận bản quyền tác giả số 344/QTG/2002 và 507/2006/QTG (hình 1). Một trong những mục tiêu của đề tài, dự án là hỗ trợ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) theo Luật đất đai năm 2003.

D:\Downloads\190114 H01 BQTG-2.jpg

Hình 1

- Người viết bài không có bất kỳ mối quan hệ với cư dân nào ở "Vườn rau Lộc Hưng” và hoàn toàn không có lợi ích gì ở đó. Mục đích cũng chính là tiêu đề bài viết: mọi người hãy “Thượng tôn pháp luật” [như câu khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” ra đời, đánh dấu một giai đoạn mới “quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không chỉ bằng đạo lý” như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã xác định. … Nhà nước pháp quyền là Nhà nước đạt đến một trình độ dân chủ cao, ở đó pháp luật được thượng tôn, mọi thành viên trong xã hội thực hiện lối sống theo pháp luật.](2).

oOo

I. Luật đất đai qua các thời kỳ

Từ năm 1945, nước Việt Nam tuyên bố độc lập đến nay đã có 5 lần ban hành mới Luật đất đai (chưa kể những lần sửa đổi, bổ sung) gồm:

1. “Luật cải cách ruộng đất năm 1953” Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua trong khoá họp lần thứ III ngày 04/12/1953. Luật này làm căn cứ pháp lý để thực hiện công cuộc “cải cách ruộng đất long trời lở đất” ở miền Bắc.

Lần đầu tiên và duy nhất: Luật đã xác định chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân

2. “Luật đất đai năm 1987” Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 2, thông qua ngày 29/12/1987

Lần đầu tiên và cho đến hiện nay, Luật bỏ chế độ sở hữu và xác định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý”. Luật ra đời trong bối cảnh đất nước cần phải đổi mới.

3. “Luật đất đai năm 1993” Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 14/07/1993.

a. Lần đầu tiên Luật đã xác định các quyền sử dụng đất “Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất.” (Điều 3.3 - sửa đổi 1998) làm cơ sở cho việc hình thành giá trị tài nguyên đất đai và thị trường bất động sản.

b. Để bảo đảm quyền sử dụng đất, Luật lần này và các lần sau đều khẳng định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” (Điều 2.2)

Ghi chú: “Luật đất đai năm 1993” được sửa đổi, bổ sung thêm các lần:

- Luật số 10/1998/QH10, Sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai năm 1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999

- Luật số 25/2001/QH10, sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993, 1998 ngày 29/6/2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2001

4. “Luật đất đai năm 2003” Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004.

a. Lần đầu tiên Luật xác định “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó.” (Điều 4.3).

b. Lần đầu tiên Luật xác định tôn giáo là người sử dụng đất hợp pháp: “Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất” (Điều 9.4).

5. “Luật đất đai năm 2013” Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29/11/2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014.

Luật dành các chương riêng “Chương 4. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”, “Chương 6. Thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư” xuất phát từ những bất cập của công tác quản lý đất đai trước đó.

oOo

II. Đánh giá về thực hiện Luật đất đai

Mặc dù Luật đất đai vẫn chưa hoàn thiện cho một nhà nước pháp quyền vận hành theo một nền kinh tế thị trường và một xã hội dân chủ đầy đủ như các quốc gia phát triển; nhưng phải thừa nhận là nhờ Luật đất đai từ năm 1993 đến nay được sửa đổi, bổ sung, thay thế liên tục nên đã đẩy nhanh tiến trình cấp GCNQSDĐ để bảo đảm quyền của người sử dụng đất.

Đặc biệt là ngay sau khi Nghị định 181/2004/NĐ-CP(3) và các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003 có hiệu lực cùng với sự phát triển ứng dụng công nghệ thông tin đã tăng tốc độ cấp, đổi GCNQSDĐ ở nhiều địa phương trên cả nước.

Đối tượng được cấp GCNQSDĐ rất rộng, kể cả những trường hợp không có bất kỳ một giấy tờ nào, nhưng mà sử dụng trên 10 năm không ai tranh chấp cũng được cấp.

(Phần cuối bài viết là trích dẫn các căn cứ pháp lý làm cơ sở lập chương trình hỗ trợ đẩy nhanh công tác cấp GCNQSDĐ, bạn nào quan tâm thì đọc tiếp sau phần Ghi chú)

oOo

III. Nhìn về “Vườn rau Lộc Hưng”

Tình trạng đất đai như “Vườn rau Lộc Hưng” không phải là hiếm ở miền Nam. Giai đoạn đất nước chiến tranh, người dân phải ly hương tìm đến một nơi an toàn hơn để sinh sống. Ngoài đất công của chính quyền đương thời cấp cho thì các cơ sở tôn giáo là nơi được nhiều gia đình chọn lựa. Lúc đầu họ trồng rau, chăn nuôi, làm nhà tạm; sau đó để chống chọi mưa bão họ làm nhà cấp 4, có điều kiện làm nhà kiên cố.

Sau ngày 30/04/1975, có người về lại quê, có người ở lại sinh sống tiếp tục nộp thuế cho chính quyền mới. Cho đến khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực.

1. Được cấp GCNQSDĐ

Đa số được cấp GCNQSDĐ, dựa trên các yếu tố như: có tên trong sổ đăng ký nộp thuế, sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính (sổ mục kê); chứng minh sử dụng trên 10 năm không có tranh chấp với xác nhận của một số người ở lâu năm trong cộng đồng dân cư.

Mục đích sử dụng đất nếu chưa có quy hoạch thì cấp theo hiện trạng sử dụng đất.

2. Không được cấp GCNQSDĐ

Cũng có một số ít không được cấp GCNQSDĐ, loại trừ yếu tố gây khó khăn để tham nhũng thì tập trung vào 2 loại chính:

a. Đất đã được quy hoạch cho công trình hoặc dự án đầu tư nào đó.

b. Đất này cơ sở tôn giáo đang đòi lại, có khả năng nhà nước phải giao trả.

3. So sánh với “Vườn rau Lộc Hưng”

Nếu theo văn bản số S.P.55.011 ngày 17/02/1955 của Đài Phát tuyến Chí Hòa xác nhận “hội truyền giáo công giáo là chủ sở hữu đất” (hình 2); thì để không cấp GCNQSDĐ rơi vào các trường hợp 2a, 2b của phần này.

D:\Downloads\190114 H02 SoHuu.jpg

Hình 2

a. Trường hợp 2a. “Đất đã được quy hoạch cho công trình, dự án …”

Kể từ Luật đất đai năm 2013, và các Luật số 10/1998/QH10, Luật số 25/2001/QH10, sửa đổi bổ sung Luật đất đai năm 1993 yêu cầu việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua và trình cơ quan quản lý nhà nước cấp trên phê duyệt. Hồ sơ này lưu ít nhất 3 nơi: Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân và Cơ quan quản lý đất đai cấp trên. Hoặc kế hoạch sử dụng đất đai hàng năm, trên đó có phản ảnh sự biến động đất đai cho các công trình, dự án cụ thể.

Nhà nước chỉ cần trưng ra các tài liệu này để chứng minh đất “Vườn rau Lộc Hưng” không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ.

b. Trường hợp 2b. “Cơ sở tôn giáo đang đòi lại đất”

Thực tế cũng có cơ sở tôn giáo “đòi lại đất”, có trường hợp chính quyền cũng giao trả lại. Dựa trên cơ sở của Luật đất đai 2003:

- Nhà nước thừa nhận “Cơ sở tôn giáo” là “Người sử dụng đất” được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất” (Điều 9.4).

- “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai …” (Điều 10.2).

Điều này được hiểu là: Đất ĐÃ được giao cho người khác sử dụng thì Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại, nhưng nếu đất đất CHƯA được giao cho người khác sử dụng thì (có thể) Nhà nước thừa nhận việc đòi lại.

Trong trường hợp này nhà Nhà nước và/hoặc cơ sở tôn giáo chỉ cần trưng ra văn bản “đòi” lại đất để chứng minh đất “Vườn rau Lộc Hưng” không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ.

c. Ngoài các trường hợp 3a, 3b phần này thì “Vườn rau Lộc Hưng” được cấp GCNQSDĐ theo Nghị định 181 như phân tích ở phần III.1 này.

4. Nói thêm về QĐ 111

Trên Facabook của Manh Dang(4) có nói về Quyết định 111/CP(5) để cho rằng “Vườn rau Lộc Hưng” là “đất công”.

Ngoài quan điểm của Manh Dang, tôi xin bổ sung thêm: ngay chính Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Về thi hành luật đất đai; cũng không thừa nhận QĐ 111 là căn cứ pháp lý để xác nhận quyền sở hữu / sử dụng đất và tài sản trên đất.

Cụ thể tại “Điều 4. Những bảo đảm cho người sử dụng đất”, Khoản 2 “Việc giải quyết các trường hợp khiếu nại, tranh chấp về đất đai phải căn cứ vào pháp luật về đất đai tại thời điểm xảy ra các quan hệ đất đai dẫn đến khiếu nại, tranh chấp bao gồm các văn bản có liên quan đến đất đai sau đây:” (tóm tắt tất cả văn bản)

a) Luật cải cách ruộng đất năm 1953;

b) Thông tư số 73/TTg ngày 07/07/1962;

c) Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao ban hành ngày 01/05/1969;

d) Nghị quyết số 125-CP ngày 28/06/1971;

đ) Nghị định số 47-CP ngày 15/03/1972;

e) Nghị quyết số 28-CP ngày 16/12/1973;

g) Quyết định số 129-CP ngày 25/05/1974;

h) Nghị định số 01/NĐ/75 ngày 05/03/1975;

i) Chỉ thị số 235-CT/TW ngày 20/08/1976;

k) Quyết định số 188/CP ngày 25/09/1976;

l) Quyết định số 318/CP ngày 14/12/1978;

m) Quyết định số 201/CP ngày 01/07/1980;

n) Luật Đất đai năm 1987 và Nghị định số 30/HĐBT ngày 23/03/1989;

o) Quyết định số 13-HĐBT ngày 01/02/1989.

Để công nhận quyền sử dụng đất, Nghị định 181 vứt QĐ 111 ra giỏ rác (tại sao vứt thì bạn đọc vui lòng xem link nội dung văn bản ở phần ghi chú), nhưng UBND Quận Tân Bình đã nhắc đến QĐ 111 như muốn gọi hồn con quỹ dữ lên để trấn áp người dân.

oOo

Kết thúc

Lẽ ra tôi sẽ viết tiếp những vấn đề liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho những dự án đầu tư công từ ngân sách nhà nước. Nhưng bài viết này đã quá dài, xin tạm dừng ở đây.

Bắt đầu cho quản lý đất đai là “Luật cải cách ruộng đất năm 1953”, kết quả là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải khóc nhận nhận khuyết điểm (12/1956). Tuy nhiên nước mắt của “Người” không thay đổi được lịch sử, cũng không rửa hết những oan sai đã để lại cho hậu thế.

Không biết có phải từ nước mắt nhận lỗi của “Người” đã hình thành nên tư tưởng: “Nếu chúng ta sai, chúng ta nhận lỗi trước dân. Nếu dân sai thì dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật" (6).

Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố mang tên “Người” đã có một Thủ Thiêm rồi ?!!!

oOo

Ghi chú

(1) Nội dung bài viết “THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT” đăng tải trên một số trang mạng:

https://www.facebook.com/dotnhanvn/posts/2405844449638727

https://baotiengdan.com/2019/01/12/thuong-ton-phap-luat-2/

https://nghiepdoanbaochi.org/2019/01/13/thuong-ton-phap-luat-ngoai-phap-ly-ra-con-co-dao-ly-nua/

http://www.vietnamthoibao.org/2019/01/loc-hung-va-goc-nhin-tu-at-ai.html

http://danlambaovn.blogspot.com/2019/01/thuong-ton-phap-luat.html#more

(2) Nội dung trong cặp dấu [] trích từ bài viết: Ngày Pháp luật và khẩu hiệu hành động “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Copy ở đây http://baophapluat.vn/tu-phap/ngay-phap-luat-va-khau-hieu-hanh-dong-song-va-lam-viec-theo-hien-phap-va-phap-luat-169017.html

(3) Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Về thi hành luật đất đai. Nghị định số 17 /2006/NĐ-CP, ngày 27/01/2016, Về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

(4) https://www.facebook.com/manhdang001/posts/2499167063433143

(5) Quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ, Về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía nam: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bat-dong-san/Quyet-dinh-111-CP-chinh-sach-quan-ly-cai-tao-XHCN-doi-voi-nha-dat-cho-thue-do-thi-tinh-phia-Nam-40396.aspx

(6) Vụ việc Đồng Tâm: 'Nếu sai, chúng ta nhận lỗi, dân sai dân chịu trách nhiệm' https://baomoi.com/vu-viec-dong-tam-neu-sai-chung-ta-nhan-loi-dan-sai-dan-chiu-trach-nhiem/c/22184338.epi

PS. Các văn bản pháp lý liên quan tới bài viết, lưu ở đây: https://drive.google.com/open?id=1czfEkYLVcKB9kqETAEEmJXpuW6NEaFI7

(phần dưới đây chỉ đưa ra các nội dung chính có khả năng liên quan đến “Vườn ra Lộc Hưng”)

A. Luật Đất đai năm 2003

Điều 4. Giải thích từ ngữ

3. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó.

Điều 10. Những bảo đảm cho người sử dụng đất

1. Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.

2. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.

7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

B. Nghị định 181/2004/NĐ-CP

Điều 30. Căn cứ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm:

1. Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong các văn bản sau:

d) Đơn xin giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất đối với trường hợp xin giao đất nông nghiệp trong hạn mức giao đất hoặc giao đất làm nhà ở.

đ) Đơn xin giao đất của cộng đồng dân cư có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất về nhu cầu sử dụng đất.

3. Quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết thì căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Điều 48. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất

Việc xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được thực hiện theo quy định sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà không có tranh chấp thì diện tích đất có giấy tờ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp đất thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch mà đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất không có giấy tờ khi có đủ các điều kiện sau:

a) Đất không có tranh chấp;

b) Đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt; trường hợp đất được sử dụng sau thời điểm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn được xét duyệt thì phải phù hợp với quy hoạch hoặc kế hoạch đó. Thời điểm sử dụng đất do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận;

c) Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý thì hộ gia đình, cá nhân đó được tiếp tục sử dụng, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Đ.T.N.

Tác giả gửi BVN

Giải khăn sô cho Lộc Hưng

Tam Ân

Tản văn này được viết dựa trên câu chuyện hoàn toàn có thật, từ địa danh cho đến tên nạn nhân, mốc thời gian được tính theo Âm lịch...

Không như thời chiến tranh, có tiếng “Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe. Đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy, đại bác qua đây con thơ buồn tủi, nửa đêm sáng chói hỏa châu trên núi”... mà cố nhạc sĩ họ Trịnh đã miêu tả qua lời nhạc, do ông sáng tác trong ca khúc “Đại bác ru em”, để khắc hoạ bức tranh xám xịt đầy tang tóc. Ở thời buổi đất nước đã “độc lập, hoà bình”, vậy mà về quy mô, về số lượng quân lính tham gia, về mức độ tàn bạo khi nhà cầm quyền cộng sản tổ chức tổng tấn công cưỡng chiếm 50000m2 đất hợp pháp của người dân ở phường 6, Tân Bình mới thấy đáng sợ, đáng kinh hoàng biết bao. Khu đất này được đồng bào đi cư ngoài Bắc vào, khai khẩn, gầy dựng, từ năm 1954 đến nay, hiện nay được trồng rau sạch, một phần diện tích xây dựng nhà cấp 4. Đặc biệt, ở đây có cả một ngôi nhà tình thương dành cho những người thương phế binh, là quân nhân của chế độ Việt Nam Cộng hòa, được xây dựng bằng tấm lòng bác ái đóng góp của giáo dân xa gần thông qua các Linh mục của Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

https://3.bp.blogspot.com/-NgxwgPw_8BA/XDdi4QX80HI/AAAAAAAAAVw/n-Djq6z9hSgR3RshQv80PFnVrbfyel42gCLcBGAs/s640/IMG_7831.jpg

Khách quan mà nhận xét, cuộc bố ráp bắt bớ người dân xóm đạo trước, rồi tiến hành cưỡng chiếm đất đai Vườn rau Lộc Hưng bởi nhà cầm quyền, trong những ngày cuối năm năm Mậu Tuất 2018, nó khủng khiếp, bi đát, phẫn hận,.. hơn rất nhiều so với thời kì chiến tranh. Trong chiến tranh, ngay cả cuộc thảm sát kinh hoàng người dân Huế vô tội tết Mậu Thân năm 1968, thì nếu còn được sống, người dân Huế vẫn còn cơ hội trở về căn nhà của mình, dù rằng ngày về nó chỉ còn lại một đống đổ nát, ngổn ngang. Một sự đau thương trùng hợp, nửa thế kỉ sau cũng vào năm Mậu, người dân thiện lương ở Vườn rau Lộc Hưng (P6, Tân Bình) đã trở thành nạn nhân của chính quyền cộng sản. Khi chính quyền tổ chức tổng tấn công đập phá nhà cửa, rồi lấy đất đai của họ, vào những ngày cuối năm. Một giải khăn sô cho Lộc Hưng! Nhưng, người dân Lộc Hưng đã tuyệt nhiên không còn được trở về ngôi nhà của mình, như người dân Huế năm xưa. Chỉ trở về một lần thôi, được thăm hay nhìn lại đống đổ nát mà trước đó là ngôi nhà, là vườn rau mà đại gia đình của họ từng sinh sống qua mấy thế hệ, nào có được đâu.

Tính ra, những người đồng bào giáo dân ở nơi này, họ phải chịu tai hoạ cộng sản, đến lần thứ ba gặp cảnh tan nhà nát cửa, kể từ năm 1954, khi mà họ phải khăn gói, dắt díu nhau rời xa cố hương tận ngoài Bắc xa xôi. Có đọc tác phẩm Cố hương của nhà văn Lỗ Tấn, chúng ta mới thấu cảm được phần nào tâm trạng biệt ly, cho những phận người buộc phải rời nơi chôn nhau cắt rốn...! Càng đau đớn hơn, biệt ly cố hương vì chạy giặc, tang thương gánh chịu đến mấy lần. Chính vì điều này, mà nỗi đau của người dân khi bị chính quyền cộng sản cướp bóc đất đai, xảy ra ở Lộc Hưng, nó mang tính chất nỗi đau buốt xé của vết thương cũ vừa sắp da non thì bị rách toạc ra, bởi bàn tay thú tính, khiến cho máu tươi phun bắn ra thành vòi...!

Vợ một tử tù

Mai Quốc Ân

Chúng tôi đã có dịp gặp được bà Mai Thị Khuyên (sau đây xin được gọi là chị Mai Thị Khuyên cho bớt phần khách sáo, vì chị Khuyên nay mới độ tuổi 40), vì vậy cũng được hiểu thêm chút ít từ khi chị ra Hà Nội, kêu oan cho chồng. Chị kể, qua thời gian gần một tháng trời chờ đợi kết quả phúc đáp công văn của Chủ tịch nước; sống tạm ở Hà Nội, dù nỗi đau buồn và khắc khoải vẫn canh cánh bên lòng, chị đã học hỏi và cảm nhận được rất nhiều điều mới mẻ... chị nói, vì quá thương chồng nên liều mình ra đất thủ đô, bất chấp mọi xa lạ, bơ vơ...  Nhưng chị chưa bao giờ tưởng tượng rằng, mới bước chân tới nơi, chị đã được bao người xa lạ mà quá thân thương, dường như đã tường tận hoàn cảnh của mình, dang tay chăm sóc giúp đỡ, chỉ bảo từng ly từng chút. Rồi chị lại có thể gặp được những người dân oan như mình, nào chị Cấn Thị Thêu cùng bà con Dương Nội, nào anh Đoàn Văn Vươn cùng gia đình và bà con ở Cống Rộc, tận Hải Phòng... Những cuộc gặp gỡ tự nhiên trở thành gần gũi thân thương ấy đã động viên chị rất nhiều, khiến chị thêm nhiều hi vọng.

Chị cũng cho chúng tôi biết thêm về sự đồng tình thông cảm của bà con ở “trong kia” đối với anh Hiến và những người dân bị cướp đất như gia đình chị. Kể cả những gia đình có chồng con là nạn nhân của chính anh Hiến, như ông Điểu Hải (cha đẻ anh Điểu Vinh), bà Dương Thị Mai (mẹ anh Dương Văn Tiến), ông Điểu Bao (cha đẻ anh Điểu Tào). Những bậc cha mẹ ấy đã quá chừng độ lượng mà nói: giờ chúng tôi không hận kẻ cầm súng bắn chết con tôi, họ cũng chỉ vì cuộc sống, vì mảnh đất thân thương; chúng tôi chỉ hận kẻ đã đưa con tôi vào chỗ chết (là công ty Long Sơn)...

Thật cảm động chứng kiến tình nghĩa cao cả của những người dân hiền lương chân chất ngoài Bắc trong Nam thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chúng tôi thiết tha mong cho ước nguyện cứu chồng của chị Khuyên sớm được thành hiện thực. Và cũng tin rằng, chính quyền càng dồn nén người dân đến bước đường cùng thì người dân càng sớm thức tỉnh và gắn kết chặt chẽ, rộng khắp với nhau hơn để chống lại, và sẽ chống một cách khôn ngoan.

Nguyễn Nguyên Bình

Bà Mai Thị Khuyên là vợ tử tù Đặng Văn Hiến- người nông dân nổ súng ở Đak Nông hồi tháng 10/2016. Bất chấp mội lo lắng, khuyên can, người phụ nữ này đã từ trong rừng ra thị trấn Gia Nghĩa (Đak Nông) bắt xe khách ra Hà Nội để nộp đơn xin ân xá cho chồng ở Phủ Chủ tịch nước.

Tìm hiểu về thân phận khốn cùng của người đàn bà có thân xác gầy gò ấy, chỉ có thể thở dài thương cảm…

Duyên ở xứ Nùng, số nơi miền Thượng

Vợ chồng bà Khuyên, ông Hiến đều là người Nùng ở Lạng Sơn. Nắm 1997, cô nông dân tên Khuyên cùng anh cán bộ y tế cộng đồng xã Đô Lương, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là Đặng Văn Hiến nên duyên chồng vợ. Họ thương nhau vì sự ít nói, chăm làm rồi đến với nhau.

Năm 1998, hai vợ chồng sinh đứa con gái đầu lòng đặt tên Đặng Thị Nhung. Nhưng đồng lương eo hẹp của chồng và những luống rau quần quật của vợ gặp cảnh mất mùa, sâu bệnh khiến cuộc sống không dư giả của họ càng gặp khó khăn hơn.

Khó khăn kéo dài mấy năm, họ được một người họ hàng bên nhà bà Khuyên cho biết đất trong Tây Nguyên trồng cây, làm vườn tốt hơn xứ Lạng. Cũng ngần ngừ trước cảnh phải ly hương nhưng rồi hai vợ chồng cũng đi đến quyết định rời quê đến miền đất mới mưu sinh. Năm 2005, họ rời Lạng Sơn bản quán để vào miền Thượng

Đến Tây Nguyên, hai vợ chồng thuê đất trồng sắn (khoai mì). Gần hết vụ thì có một người Dao tên Diếp đã khai khẩn trước đó bán giấy tay vườn điều. Dốc hết tiền túi ít ỏi và vay mượn thêm họ hàng, năm 2006 họ mua lại vườn điều 5-6 tuổi đó.

Những này ở Tây Nguyên, vốn kiến thức y tế và 7 năm làm.việc trong lĩnh vực này của Đặng Văn Hiến có đất dụng võ. Bà con không chỉ tiểu khu 1535 có bệnh gì đều hỏi Hiến, nhờ chữa. Bởi khu vực họ sống đúng nghĩa ô yên chướng khí. Ánh nắng 8-9 giờ sáng chưa đủ xua đi những cụm mây lững lờ ngang triền dốc. Thứ không khí thung lũng không có gió đối lưu này rất độc, hít vào nhiều có thể ho ra máu. Các bệnh ngoài da, sốt rét, đau bụng,… của bà con cũng được Hiến chữa chạy tận tình. Bệnh nặng hơn thì sơ cứu rồi mới chở đi viện nên cũng yên tâm. Vì điều này cộng thêm tính chăm chỉ nên dân tiểu khu 1535 thương Hiến hết mực.

Phận số không may đeo bám họ dai dẳng, chỉ 2 năm sau ngày mua được “miếng đất cắm dùi” thì chính quyền tỉnh Đak Nông “giao đất trên bản đồ” cho công ty Long Sơn. Vườn điều của gia đình Hiến, vườn điều của nhiều hộ dân khác và các rẫy hoa màu lâu năm bỗng “vào trong” dự án. (Xin nói thêm là không chỉ có Đak Nông mà các tỉnh khác ở Tây Nguyên cũng có tình trạng giao đất vô tội vạ như vậy.)

Mọi việc chưa dừng lại hay nói đúng hơn là bi kịch chỉ mới bắt đầu, từ năm 2008-2016, mấy chục cuộc xô xát lớn nhỏ ở tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đak Nông. Công ty Long Sơn tổ chức những cuộc cưỡng chế tự phát với các công nhân là người dân tộc bản địa được trang bị vũ khí tự chế, gạch đá. Bạo lực diễn ra liên tục.

Từ năm 2008-2016, việc cưỡng chế với những trận đòn tàn khốc, việc đốt phá chòi dân, rẫy điều xảy ra liên tục. Trong một cuộc họp an dân tại tiểu khu 1535, những người dân đã nói trước máy quay của công an, biên phòng và nhà báo một sự thật kinh khủng:

Công nhân Long Sơn đánh phụ nữ mang thai đến sảy thai, đánh phụ nữ đang bế con đến rơi con xuống đất, kéo cụ già 94 tuổi dựa vào gốc điều rồi đập cán gỗ vào ngực phun máu tại chỗ,… Những người ở tiểu khu 1535 chìa đầu, chìa tay chân, cởi áo để tôi xem những “vết thù” chằng chịt. Cá biệt, có trường hợp của ông Trần Văn Thanh bị bảo vệ công ty dùng rựa chém bay cả một vạt sọ. Ông Thanh may mắn sống sót nhưng mất đi khả năng nói, chỉ còn ú ớ và mỗi ngày đều đối diện với những cơn đau đầu quằn quại, rúm ró cả người.

Như nhiều nạn nhân khác, gia đình của bà Khuyên, ông Hiến không nằm ngoài vòng xoáy bạo lực ấy. Bà Khuyên có kể lại khi gặp tôi và các luật sư (sau ngày ông Hiến đầu thú) rằng đó là những ngày “khổ sở, uất ức không cách nào tả hết”.

Và chồng bà Khuyên đã nổ súng sau tám năm dài kìm nén…

Báo chí ‘câm miệng’, vụ Thủ Thiêm sẽ lại bị nhấn chìm xuồng

Phạm Chí Dũng

“Phải chăng đã có sự thỏa hiệp, hay nói trắng ra là “đi đêm” giữa các nhóm quyền lực – lợi ích mới với nhóm quyền lực – lợi ích cũ để “chuyển giao lợi ích” và đương nhiên cho chìm xuồng vụ Thủ Thiêm cùng đổ sạch biển nước mắt của dân oan?”

P.C.D.

Người dân Thủ Thiêm uất nghẹn vì bị cướp đất tại buổi gặp gỡ “đại biểu quốc hội” hồi Tháng Năm, 2017. (Hình: Zing)

Sau vô số tiếng khóc xé ruột và cả những cái chết tự treo cổ không thể nhắm mắt của người dân Thủ Thiêm, bản kết luận thanh tra vùng đất đẫm máu cưỡng chế này được hứa hẹn bởi Thanh tra Chính phủ vẫn biệt tăm.

Liệu đã có một ý đồ toa rập giữa chính quyền ở Sài Gòn, mà cụ thể là của nhóm lợi ích “ăn đất” Thủ Thiêm và những quan chức lãnh đạo đương nhiệm của thành phố này, với các cơ quan chính phủ và với đích thân Thủ tướng Phúc, để dẫn đến những kết luận trơn tuột của ông Phúc như muốn cho vụ việc này chìm xuồng?

Chỉ cách đây không lâu, đã có những dấu hiệu cho thấy chính quyền ở Sài Gòn cày cục xin trung ương “xử lý nội bộ,” còn Thủ Tướng Phúc có lẽ chẳng mong gì hơn thế. Cùng lúc, có tin Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương Võ Văn Thưởng đã chỉ đạo báo chí ngừng đăng bài về vụ này.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn