Hiển thị các bài đăng có nhãn Chữ quốc ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chữ quốc ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Sự thật mất lòng: Quan ngại cho trình độ khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Việt Nam

Chu Mộng Long

Tôi ngồi nghe cả đêm về báo cáo của Tiến sĩ Phạm Thị Kiều Ly trên Youtube. Cô ta nói về khó khăn và công phu của việc đi sưu tầm, nghiên cứu thư tịch, chứng cứ về chữ "tiền quốc ngữ" của các Giáo sĩ được lưu trữ của các thư viện phương Tây và những phát hiện quan trọng cho luận án Tiến sĩ mà cô đã bảo vệ thành công ở Pháp.

Bây giờ thì được đọc bài báo này trên Tia sáng (*) qua chia sẻ trên mạng của các Giáo sư, Tiến sĩ trong nước. Bài báo được ngợi ca như một huyền thoại mới về việc nghiên cứu chữ quốc ngữ.

Không phủ nhận ý đồ tốt về việc quảng bá công lao của những nhà truyền Giáo đối với chữ quốc ngữ, nhưng cách làm như thế này cũng ngang bằng với sự phủ nhận chữ quốc ngữ của nhóm Phật tử Lê Cung, Nguyễn Đắc Xuân...

Trước tiên, nói về "những công phu và phát hiện mới mẻ" của tác giả Phạm Thị Kiều Ly.

Tôi nghe cô ta báo cáo và đọc hết bài báo này, về mặt tư liệu, nếu ai chưa hề đọc các sách viết về chữ quốc ngữ lâu nay, rất dễ ngộ nhận đây là "những phát hiện mới mẻ". Không biết trong luận án có gì mới không, chứ sự thực, qua báo cáo của cô và qua bài viết trên Tia sáng, nếu đem so với gần cả trăm công trình viết về chữ quốc ngữ đã công bố thì là không có gì mới. Các bản chụp được khoe ra ở đây, một là, dù cô ta có công phu cỡ nào thì cũng đã được những người đi trước tiếp cận và đưa vào trong rất nhiều công trình; hai là, nhiều hình ảnh gần như y chang tư liệu đã được công bố trên các sách báo và thậm chí mạng. Không tin các bạn cứ search trên Google là thấy ngay. Sự xào đi nấu lại là hoạt động không chỉ Phạm Thị Kiều Ly mà phổ biến của Giáo sư Tiến sĩ Việt Nam.

Những kiến giải trong từng luận điểm của bài báo cũng không có gì mới. Ai chẳng biết "Việc ghi âm tiếng Việt bằng chữ alphabet được bắt đầu khi các Thừa sai Dòng Tên tới Đàng Trong từ năm 1615, rồi tiếp theo là Đàng Ngoài từ 1626"? Ai chẳng biết mục đích tạo chữ quốc ngữ của các Giáo sĩ phương Tây là để phục vụ cho giao tiếp và truyền giáo? Ai chẳng biết, trong sự sáng chế chữ quốc ngữ phải là công lao của nhiều người, trong đó có người Việt? Ai chẳng biết chữ "tiền quốc ngữ" được ghi theo cách thẩm âm và phát âm của mấy ông Tây ngọng tiếng Việt, trừ phi có không ít nhà khoa học Việt ngộ nhận đó là sự phát âm của người Việt trước thế kỷ 16, 17? Ai chẳng biết các bước ngoặt của lịch sử phát triển chữ quốc ngữ, từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, từ cuộc gặp gỡ Ma Cao đến quay lại Việt Nam, từ việc ghi chép và sử dụng cá nhân đến hợp thành bộ Từ điển Việt-Bồ-La mà tác giả phải kể lại dài dòng, trừ phi tác giả muốn xào lại lần nữa những điều nhiều người đã viết để quảng bá cho những người lười đọc sách? v.v...

Vậy mà nhiều Giáo sư, Tiến sĩ tán dương như là lần đầu tiên Phạm Thị Kiều Ly phát minh ra sao Hỏa vậy. Cái tội lười đọc sách nên mới dẫn đến hiện tượng nhìn đâu cũng thấy mới mà không phân biệt cái gì mới, cái gì đã cũ. Đó là lý do, có nhiều luận văn, luận án, học viên đạo văn cả rổ, nhưng cả hội đồng toàn Giáo sư, Tiến sĩ không nhận ra.

Điều mà người đọc đang cần là các sự kiện và tình huống lịch sử sinh ra chữ quốc ngữ, từ đó đi đến những vấn đề cốt tử của học thuật như sự cố định và biến đổi ngữ âm Việt trong quá trình ghi âm bằng chữ Latinh, tinh thần thoát Hán và nhu cầu văn minh của chính người Việt v.v. thì tác giả gần như mù tịt.

Bây giờ thì tôi nói đến khái niệm, thuật ngữ chìa khóa mà Phạm Thị Kiều Ly dùng trong bài báo này: "Quá trình La-tinh hóa tiếng Việt". Với khái niệm "La-tinh hóa", tôi khẳng định, tư duy và trình độ khoa học của Phạm Thị Kiều Ly không cao hơn nhóm Nguyễn Đắc Xuân. Không chỉ Phạm Thị Kiều Ly, các Giáo sư, Tiến sĩ khi share (chia sẻ) bài báo này để tung hô mà không nhận ra cái sai ngay ở tiêu đề bài báo, thì rõ ràng đã lộ diện cả một ổ ăn theo nói leo, phản học thuật.

"Hóa" là từ Hán, đặt sau tính từ hoặc danh từ, biểu thị chuyển biến thành trạng thái hay tính chất nào đó theo chuẩn định trước của tính từ hoặc danh từ chính, ví dụ như: “lục hóa” 綠化, “ác hóa” 惡化, “điện khí hóa” 電氣化, “khoa học hóa” 科學化, “hiện đại hóa” 現代化... Nói "La-tinh hóa", có nghĩa là từ khi được ghi âm bằng chữ Latinh, tiếng Việt đã thành tiếng Latinh? Vậy thì từ khi đế chế La Mã thống trị châu Âu, tất cả các thứ tiếng Hy Lạp, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức... đều biến thành tiếng Latinh?

Trên thế giới, hàng trăm quốc gia, dân tộc chỉ dùng chung trong giới hạn hơn chục hệ ký tự, nhưng có bị đồng hóa không, hay tiếng nói của từng dân tộc vẫn bảo tồn? Chẳng hạn, khu vực các dân tộc dùng chữ Hán có bị Hán hóa, khu vực các dân tộc dùng chữ Khmer có bị Khmer hóa, khu vực các dân tộc dùng chữ Slav (hay Cyrill) có bị Slav hóa... như cách nói tùy tiện của các khoa học gia Việt Nam?

Lịch sử có bị xuyên tạc?

Mai Thanh Sơn 

Phần I

Trong hình ảnh có thể có: 3 người, bao gồm Minh Tường Hoàng và Nguyen Dang Hung, mọi người đang ngồi và trong nhà

Trong năm 2019 đã diễn ra một số hoạt động nhằm vinh danh chữ Quốc ngữ Tôi không biết hết tất cả các thông tin về những hoạt động này, nhưng ít nhất biết được rằng, đã có những cuộc hội thảo xung quanh sự hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ được tổ chức ở Bồ Đào Nha, ở thành phố HCM và Hà Nội. Gần đây nhất, trong 2 ngày – 28 và 29/12/2019 – tại Đà Nẵng, Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng phối hợp cùng Công ty Tao Đàn Thư quán đã tổ chức Hội thảo Quốc tế “100 năm chữ Quốc ngữ”. Theo đánh giá của các nhà tổ chức và một số đại biểu tham dự, cuộc Hội thảo được tổ chức ở Đà Nẵng thành công ngoài mong đợi. Sau 4 phiên thảo luận trong ngày 28/12/2019 (với gần 200 người tham dự, trong đó có một số học giả đến từ Bồ Đào Nha, Pháp, Mỹ), ngày 29/12/2019, các đại biểu có tham luận đã đi thực địa và tiến hành một số hoạt động giao lưu học thuật tại thị xã Điện Bàn và thành phố Hội An (Quảng Nam).

Tuy nhiên, ngay trong ngày 29/12/2019, nhà thơ Ly Doi đã có bài viết, được nhiều người chia sẻ, kết tội khá nặng những cuộc hội thảo xung quanh chủ đề “100 năm chữ Quốc ngữ”. Tác giả đưa ra câu hỏi “Chữ Quốc ngữ - chỉ 100 năm thôi ư?”, và lấy đó làm tiêu đề bài viết của mình. Trong bài viết, ông đưa ra nhiều dẫn chứng/lập luận để chứng minh rằng, những người tổ chức đã sai khi xác định chữ Quốc ngữ chỉ có 100 năm. Ông kết tội các nhà tổ chức hội thảo “Nịnh bợ một quyết định có tính chính trị và hành chính, mà phủ nhận phát kiến, công lao của những nhà truyền giáo, nhà ngôn ngữ, nhà văn, nhà báo và cả những chứng nhân tiền phong làm nên chữ quốc ngữ.”, và ông than vãn “Một lần nữa, lịch sử đã bị xuyên tạc trắng trợn”. Quan điểm của ông được nhiều người tán đồng. Nhiều người comments kết tội nặng nề. Có người chưa từng biết tiến trình chuẩn bị cũng như nội dung hội thảo đã khẳng định “Tôi không tin đây là hội thảo khoa học mà có khi phản khoa học. Nó mang động cơ chính trị và cũng méo mó ngang hàng với bức thư của 12 kẻ phản đối chữ quốc ngữ.” Vấn đề dường như đang trở nên nghiêm trọng.

Các cuộc Hội thảo khác ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội được tổ chức như thế nào, nội dung ra sao, có sử dụng ngân sách nhà nước hay không, tôi không biết và không bàn đến. Riêng với cuộc Hội thảo Quốc tế tại Đà Nẵng, với tư cách là người có can dự ngay từ đầu, tôi thấy mình có trách nhiệm phải lên tiếng.

Trước hết, tôi khẳng đinh, đây là một hội thảo khoa học nghiêm túc, được chuẩn bị kỹ lưỡng nhưng bắt đầu từ ý tưởng của một vài cá nhân tâm huyết với tiếng Việt và chữ Quốc ngữ. Những cá nhân này đều không đảng phái, và cũng không phải tín hữu Phật giáo hay Thiên Chúa giáo, do vậy họ không có động cơ chính trị. Thứ nữa, con đường dẫn đến thành công của Hội thảo bắt đầu từ những cuộc gặp gỡ hết sức ngẫu nhiên chứ không có "dự mưu" nào hết. Và cuối cùng, đây là một hoạt động hoàn toàn xã hội hóa, không sử dụng một đồng ngân sách nhà nước.

Nguyên ủy, sáng kiến tổ chức Hội thảo Quốc tế “100 năm chữ Quốc ngữ” tại Đà Nẵng được đề xuất bởi GS. Nguyễn Đăng Hưng, lúc đó đang là Viện trưởng viện Tôn vinh chữ Quốc ngữ và tiếng Việt (gọi tắt là Viện Quốc ngữ) thuộc Đại học Duy Tân (ai quan tâm đến thân thế của ông, xin hỏi bác Google). Ông nảy ra ý tưởng này sau chuyến đi đặt bia mộ Giáo sĩ Alexandre de Rhodes ở Ba Tư (11/2018). Ông đã bàn việc này với PGS. Hoàng Dũng ở Đại học Sư phạm thành phố HCM. Ngày 18/01/2019, nhà văn Hoàng Minh Tường (người cùng tham gia chuyến đi Ba Tư với GS. Nguyễn Đăng Hưng) vừa từ Hà Nội vào Đà Nẵng đã gọi điện thoại hẹn tôi cùng đến gặp GS. Nguyễn Đăng Hưng. Trong cuộc gặp này, GS. Nguyễn Đăng Hưng trình bày những ý tưởng chính của ông xung quanh chuỗi hoạt động nhằm vinh danh chữ Quốc ngữ và những người đã có công sáng tạo, truyền bá. Bên cạnh hoạt động hội thảo, ông còn mong muốn tổ chức truyền thông, trưng bày các hiện vật/tài liệu/hình ảnh liên quan đến lịch sử chữ Quốc ngữ cũng như ảnh hưởng của nó đối với các khía cạnh đời sống quốc dân Việt Nam.

Riêng về tên gọi cuộc Hội thảo, chúng tôi suy nghĩ và thảo luận rất nhiều. Bởi lẽ, mẫu tự Latin bắt đầu được các giáo sĩ phương Tây sử dụng ký âm tiếng Việt từ những năm đầu thế kỷ XVII. Ban đầu, nó được sử dụng cho công cuộc truyền giáo. Những năm cuối thế kỷ XIX, ở Nam bộ, mẫu tự Latin bắt đầu được sử dụng trong giao tiếp (thư tín), trong báo chí (1865), trong văn học, và cả trong công văn chính thức (1869). Đến 1882, Nam Kỳ chuyển hẳn sang dùng mẫu tự Latin trong tất cả các văn bản quản lý nhà nước cùng với chữ Pháp. Nhưng lúc này, ở Trung và Bắc Kỳ, mẫu tự Latin chưa thực sự phát triển. Như vậy, việc dùng mẫu tự Latin để ký âm tiếng Việt không đồng nhất với việc nó trở thành “chữ Quốc ngữ”. Đó là 2 thời điểm khác nhau.

Sang đầu thế kỷ XX, các nghĩa thục ở miền Trung và miền Bắc bắt đầu khuyến khích học chữ quốc ngữ. Năm 1910, chính quyền Đông Pháp mở rộng việc dạy mẫu tự Latin ra Bắc Kỳ. Năm 1915, vua Duy Tân bãi bỏ các kỳ thi hương ở Bắc Kỳ. Và đến năm 1918, vua Khải Định ban đạo Dụ 123 bãi bỏ hoàn toàn chế độ khoa cử Hán học kể từ năm 1919. Nhưng lúc này, trên thực tế, mẫu tự Latin dùng để ký âm tiếng Việt vẫn chưa thực sự trở thành chữ Quốc ngữ. Một số văn bản được soạn thảo trong giai đoạn sau đó vẫn được ghi chép bằng 2 hoặc 3 thứ chữ (chữ Pháp+chữ Việt Latin hoặc chữ Pháp+chữ Việt Latin+chữ Hán). Năm 1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ được thành lập. Phong trào học chữ Quốc ngữ trên cả nước được đẩy lên cao. Ngày 30/07/1945, vua Bảo Đại ban đạo Dụ số 67, quy định việc dạy chữ Quốc ngữ trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Nhưng lúc này, các văn bản hành chính vẫn còn được dùng tiếng Pháp hoặc song ngữ Pháp+Việt. Sau khi Việt Minh “cướp chính quyền”, kế thừa thành tựu thời vua Bảo Đại, ngày 08/09/1945, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số 20, quy định TOÀN DÂN phải học chữ Quốc ngữ. Cũng từ đó, các văn bản giấy tờ hành chính chỉ được viết duy nhất bằng chữ Việt Latin. Về nguyên tắc, chỉ đến thời điểm này, mẫu tự Latin dùng để ký âm tiếng Việt mới thực sự trở thành “chữ Quốc ngữ” với nghĩa đầy đủ nhất.

Như vậy, từ một mẫu tự dùng trong truyền giáo, đến dùng trong văn chương/báo chí, đến văn bản hành chính ở Nam Bộ, rồi trở thành “chữ Quốc ngữ” thống nhất trên cả nước là một quá trình rất dài. Tuy nhiên, chúng tôi đánh giá cao ý nghĩa của đạo Dụ 123 do vua Khải Định ban hành năm 1918, để chấm dứt các kỳ thi Hán học ở miền Trung kể từ năm 1919. Mặc dù đạo Dụ này không đề cập đến việc công nhận hệ mẫu tự Latin dùng ký âm tiếng Việt là “chữ Quốc ngữ”, nhưng nó đã đánh sập thành trì cuối cùng của khoa cử Hán học, tạo tiền đề để dẫn đến việc sử dụng rộng rãi mẫu tự Latin thay thế cho Hán tự trong văn bản hành chính trên cả nước. Chính vì thế, anh em chúng tôi đồng ý với GS. Nguyễn Đăng Hưng lấy tiêu đề hội thảo là “100 năm chữ Quốc ngữ”.

(Xem tiếp phần II)

M.T.S.

Nguồn: FB Mai Thanh Sơn

Phần II

Mặc dù cả hai đều đồng ý với GS. Nguyễn Đăng Hưng là sẽ lấy tiêu đề hội thảo là “100 năm chữ Quốc ngữ Việt Nam”, nhưng giữa tôi và nhà văn Hoàng Minh Tường theo đuổi những suy nghĩ khác nhau. Anh Hoàng Minh Tường (Minh Tường Hoàng) là nhà văn. Anh có cái nhìn khá phóng khoáng về lịch sử. Điều anh quan tâm nhất là làm thế nào để các thế hệ người Việt hôm nay và mai sau vẫn biết ơn và vinh danh những người đã sáng tạo/truyền bá chữ Quốc ngữ trên đất nước này, còn cách chọn mốc không quan trọng là mấy. Tôi thì khác. Nghề nghiệp của tôi ít nhiều dính dáng đến khoa học lịch sử. Tôi cần sự thật/hoặc ít nhất cũng tiệm cận sự thật. Tôi hoài nghi mốc thời gian 100 năm. Hoài nghi nhưng vẫn chấp nhận. Vì sao vậy? Chuyện khá dài dòng.

Tiếng Việt và chữ Việt với vận mệnh Dân tộc

Hà Sĩ Phu

1/ Ba thứ chữ viết mà người Việt đã sử dụng

Về quan hệ giữa chữ Hán chữ Nôm và chữ Quốc ngữ tôi đã một lần đề cập, nhưng không thể (và không dám) bàn tiếp vì biết nói chuyện ấy vào lúc ấy là không đúng lúc, có thể bị hiểu nhầm, vì liên quan đến một vấn đề chính trị rất nhạy cảm và hệ trọng là âm mưu đồng hóa của Trung Quốc và nhu cầu Thoát Trung hiện nay.

Gần đây lại có cuộc tranh luận về chữ Quốc ngữ và tôn vinh A. de Rhodes nên thoạt đầu tôi cũng hy vọng vấn đề “văn tự” có thể được đặt trở lại trên cái nền ngôn ngữ và văn hóa nói chung của Việt Nam một cách khách quan, ngờ đâu tránh được“thằng Tàu” lại vướng “thằng Tây”, vì cả Đông lẫn Tây đều đã dòm ngó, mê say “cô gái Việt” và quyết tâm chiếm đoạt, nên người Việt đề phòng cả hai kẻ thù cũng có lý thôi. Nhưng mỗi nhóm người Việt lại đề phòng một kiểu khác nên câu chuyện chữ viết của người Việt mới sinh rắc rối. Tiếng nói và chữ viết là hồn cốt của một Dân tộc (Học giả Phạm Quỳnh từ 1924 đã linh cảm thấy quan hệ “Tiếng ta còn thì nước ta còn”(1)). Bàn về chữ viết không phải chuyện riêng về học thuật mà liên quan đến việc yêu nước và giữ nước tức liên quan đến “chủ nghĩa yêu nước” Việt Nam. Vấn đề quả thực không đơn giản, nay cũng xin góp một lời bàn.

Tiếng Việt ta là một ngôn ngữ đặc thù không giống dân tộc nào, tuy theo thời gian có sự tu chỉnh và du nhập để thêm phần phong phú và chính xác, nhưng trước sau vẫn chỉ là thứ tiếng Việt đặc hiệu rất đáng tự hào ấy. Muốn ghi lại mọi điều bằng tiếng Việt có hai cách, cách kinh điển và phổ quát là ghi bằng những ký tự tức chữ viết để cảm nhận bằng thị giác. Cách thứ hai sau này mới có là ghi lại bằng âm thanh để cảm nhận bằng thính giác, nhưng cách này có những hạn chế nên chỉ thích hợp trong một vài lĩnh vực, không thể thay thế vai trò của chữ viết được.

Cách ghi bằng ký tự tức chữ viết trải qua ba thời kỳ:

Chữ Quốc ngữ đã cứu tiếng Việt khỏi nạn diệt chủng ngôn ngữ?

Nguyễn Quốc Tấn Trung

https://i1.wp.com/www.luatkhoa.org/wp-content/uploads/2019/12/chu-quoc-ngu.jpg

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes và các ấn phẩm chữ Quốc ngữ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ảnh: Luật Khoa tổng hợp

Thảo luận về công – tội của một trong những người định hình nên chữ Quốc ngữ, thứ chữ viết mô tả tượng âm lại tiếng Việt, mà bạn đọc của Luật Khoa đang sử dụng để tiếp nhận và xử lý thông tin của chính bài viết này, đang được đẩy lên cao một cách khá bất ngờ. Alexandre de Rhodes, một giáo sĩ truyền giáo gốc Pháp, người được thừa nhận là đặt những nền móng đầu tiên cho chữ Quốc ngữ, bị một số học giả cho rằng nó chỉ nhằm mục tiêu xấu xa.

Ví dụ, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân thì phân tích rằng quá trình ban đầu của việc tạo ra chữ quốc ngữ không nhằm mục đích phát triển văn minh của dân tộc ta, mà là “một công cụ để thực dân Pháp xâm lăng nước ta”.

Hay Tiến sĩ Lê Cung, người đứng đầu nhóm phản đối đặt tên đường Alexandre de Rhodes tại Đà Nẵng, khẳng định “Rhodes là kẻ có tội thì làm sao vinh danh, đặt tên đường được”.

Vậy thật sự các đế quốc, các thế lực thực dân có cần thiết phải tạo ra một loại ngôn ngữ riêng biệt để đồng hóa và xâm lược hay không?

Nếu nói đến tầm ảnh hưởng của ngôn ngữ trong quá trình thực dân hóa (colonisation), sẽ là hơi ngờ nghệch nếu cho rằng những đế quốc hùng mạnh lại cần phải tạo ra một loại chữ viết đặc trưng, dựa trên đúng thứ tiếng bản địa để có thể thành công trong việc kiểm soát và đồng hóa văn hóa, tư tưởng của quốc gia bị bảo hộ.

Bài viết này, dựa trên các thông tin lịch sử về chủ nghĩa thực dân trên thế giới, hy vọng giúp bạn đọc hiểu thêm về tầm ảnh hưởng quan trọng của chữ Quốc ngữ trong việc duy trì văn hóa và tư duy độc lập của người Việt Nam.

Alexandre de Rhodes và sự tưởng tượng về lịch sử cận đại của nền sử học Việt Nam

Khôi Nguyễn, Đại học Oregon

Tháng Mười một 27, 2019

Gần đây, thành phố Đà Nẵng muốn lấy tên Alexandre de Rhodes để đặt tên đường phố. Một số trí thức, trong đó có nhiều người giảng dạy lịch sử trong môi trường đại học, viết thư phản đối, cho rằng Alexandre de Rhodes là một nhà truyền giáo mang tư tưởng thực dân, là kẻ có tội với Việt Nam. Lá thư của họ khiến cho thành phố Đà Nẵng rút lại ý định.

Tuy vậy, những người phản đối ấy hoàn toàn dựa theo những niềm tin có tính tưởng tượng về Alexandre de Rhodes nói riêng và hình ảnh “Tây phương” nói chung, được kiến tạo từ trước 1975 ở miền Bắc.

Bài viết này nhắc lại một cách ngắn gọn những tưởng tượng về lịch sử ấy để gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về sử học, giáo dục và chính trị đương đại.

Tưởng tượng về Alexandre de Rhodes

Năm 1971, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, trong quyển “Lịch sử Việt Nam”, tập 1, trang 304, trích dẫn lời Alexandre de Rhodes thể hiện một âm mưu có tính thực dân của mình:

Alexandre de Rhodes Ảnh: Internet

“Đây là một vị trí cần được chiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương gia Âu châu sẽ tìm được một nguồn lợi nhuận và tài nguyên phong phú”

Uỷ ban này chú thích rằng câu trích này được trích từ sách “Divers voyages et missions en Chine et autres royaumes de l’Orient” (Những cuộc hành trình và truyền giáo ở Trung Quốc và các vương quốc khác ở phương Đông) của Alexandre de Rhodes, Paris, 1653, tr. 109-110.

Tuy vậy, người ta không thể tìm thấy câu nói ấy trong tài liệu nói trên.

Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam là một định chế nghiên cứu cấp quốc gia. Vị thế của nó bảo đảm cho uy tín học thuật của nó. Thành ra từ đó, người ta cứ trích dẫn và lan truyền niềm tin lệch lạc như vậy về Alexandre de Rhodes mà không cần kiểm tra lại. Từ lâu, những nhà nghiên cứu như Vương Đình Chữ (1996), Nguyễn Đình Đầu (2006) đã chỉ ra lỗi trích dẫn này của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Nhưng niềm tin ấy vẫn chưa mất. Lá thư phản đối đặt tên đường của nhóm “trí thức” nói trên là một ví dụ.

Cũng trong sách này, Alexandre de Rhodes nói đến việc xin nước Pháp cung cấp nhiều “soldats” để “chinh phục toàn cõi phương Đông, đem về quy phục Chúa Jesus”. Cao Huy Thuần coi từ “soldats” là “binh lính” quân sự, từ đó kết tội Alexandre de Rhodes mở đường cho thực dân xâm lược Việt Nam, dù nhà truyền giáo ấy chết trước cuộc xâm lược ấy đến hai trăm năm, còn Nguyễn Khắc Xuyên coi “soldats” không phải là “binh lính” theo nghĩa đen mà chỉ “chiến binh Phúc âm”, tức giáo sỹ truyền đạo. Số người hiểu theo cách hiểu của Cao Huy Thuần đông hơn hẳn cách hiểu của Nguyễn Khắc Xuyên, các cuộc tranh luận, đúng hơn là cãi vã, về nghĩa của từ “soldats” hầu như không đặt từ này trong toàn bộ văn bản của “Hành trình và truyền giáo” để xem tinh thần thực sự của khái niệm cũng như của sách này là gì, có liên quan đến việc đánh chiếm thuộc địa hay không. 

Trí tưởng tượng nói trên về Alexandre de Rhodes sở dĩ khó có thể nhạt phai vì nó nằm trong một tưởng tượng khác, lớn hơn, về lịch sử cận đại. Tưởng tượng về lịch sử cận đại này cũng do Uỷ Ban khoa học xã hội Việt Nam, từ tiền thân của nó là Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, xây dựng nên từ giữa thập niên 1950, sau khi Đảng Lao động Việt Nam (tức Đảng Cộng sản Việt Nam) lấy được miền Bắc.

Tưởng tượng về thế kỷ 19

Tôi có làm “phỏng vấn” nhỏ một số bậc thức giả, bao gồm cả những người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, một câu hỏi duy nhất: Trước thế kỷ 20, cuộc xâm lược cuối cùng của Trung Quốc đối với Việt Nam là cuộc xâm lược nào? Trong sự kiện ấy, ai là tổng chỉ huy của quân đội Trung Quốc? Ai là người đánh bại đội quân xâm lược đó?

Hầu hết người được hỏi đều trả lời: Đó là cuộc xâm lược của Mãn Thanh thời Hoàng đế Càn Long vào năm 1789, chỉ huy đội quân xâm lược là Tôn Sỹ Nghị, người đánh bại đội quân xâm lược đó là Hoàng đế Quang Trung.

Chỉ có một học giả duy nhất trả lời đúng: Cuộc xâm lược cuối cùng là vào thế kỷ 19, thời Từ Hy thái hậu của Mãn Thanh, chỉ huy đội quân xâm lược là Phùng Tử Tài, còn người đánh bại cuộc xâm lược đó của Trung Quốc là… thực dân Pháp.

Tại sao hầu hết những người am tường sách vở ở Việt Nam mà tôi có dịp được hỏi lại hoàn toàn không nhớ gì về cuộc xâm lược trong thế kỷ 19 này của Trung Quốc? Vì nó hoàn toàn bị xoá khỏi lịch sử. Nó không được dạy trong chương trình sử ở cả bậc đại học lẫn trung học.

Câu chuyện bị lãng quên: Nước Đại Nam trước hai “gọng kìm lịch sử” Pháp – Mãn Thanh

Cuối thế kỷ 19, Việt Nam đối diện với hai siêu cường, Pháp và Mãn Thanh, một bên đến từ phương Tây, mang theo nền văn minh của chủ nghĩa tư bản, một bên là thiên triều ngàn năm vẫn đang chìm đắm trong ảo giác mình là trung tâm của thế giới.

Ngay sau khi Pháp lấy Nam Kỳ, Mãn Thanh cũng lập kế hoạch đánh chiếm miền Bắc. Mãn Thanh quyết tâm đánh chiếm Bắc Kỳ vì Việt Nam đã suy yếu, nhằm bảo vệ mô hình thiên triều – chư hầu ngàn năm, còn Pháp quyết lấy nốt phần còn lại. Hai bên tất yếu bước vào một cuộc đụng đầu lịch sử, dần dần đi đến chỗ đánh nhau ác liệt ngay trên lãnh thổ Việt Nam, qua một loạt trận đánh như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang năm 1883.

Mãn Thanh đã quyết tâm đến mức dốc tổng lực đánh bại Pháp trên đất liền, chiếm toàn bộ vùng trung du phía Bắc, áp sát khu vực đồng bằng sông Hồng. Thủ tướng Pháp phải từ chức. Nhưng quân Pháp lật ngược thế cờ bằng cách mở ra chiến trường trên biển, đánh chiếm đảo Đài Loan và huỷ diệt Bắc Dương hạm đội của Mãn Thanh ở Phúc Châu.

Pháp – Thanh ký Hiệp ước Thiên Tân 1885 Ảnh: Internet

Mãn Thanh ban đầu thấy chỉ khả thi khi đặt mục tiêu giữ lại vùng Bắc Kỳ, nhưng khi phải ký vào Hiệp ước Thiên Tân 1885, Mãn Thanh buộc chấp nhận mất toàn bộ chư hầu Việt Nam.

Hiệp ước Thiên Tân 1885 giữa Pháp và Mãn Thanh đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho cả Mãn Thanh và Việt Nam.

Nếu như việc phải nhượng địa Hong Kong cho nước Anh chỉ khiến Mãn Thanh thức tỉnh về khả năng kỹ thuật của phương Tây nhưng vẫn giữ vững niềm tin vào hệ thống thiên triều – chư hầu, thì đến khi mất chư hầu Việt Nam vào tay Pháp, ý thức hệ và cấu trúc thiên triều – chư hầu của họ bị đánh tận gốc rễ. Việc Mãn Thanh không thể giữ Việt Nam trong cấu trúc thiên triều – chư hầu đã khiến Nhật Bản, lúc này đã trở thành một cường quốc, quyết định giành lấy một chư hầu khác của Mãn Thanh là Triều Tiên. Mãn Thanh tiếp tục mất Triều Tiên trong cuộc chiến Nhật Thanh 10 năm sau đó.

Từ đó, việc cấu trúc và ý thức hệ thiên triều – chư hầu bị sụp đổ toàn diện trong thế kỷ 19 trở thành một trong những nội dung chủ yếu của ý niệm “thế kỷ ô nhục” trong chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa hiện đại. 

Còn ở Việt Nam, do cuộc chiến Pháp – Thanh ảnh hưởng quá lớn đến số phận Việt Nam, nên dù xoá cuộc chiến này khỏi Sách giáo khoa sử cho học sinh phổ thông, ngày nay, các sử gia ở Hà Nội vẫn phải dạy học sinh về một số điều liên quan đến cuộc chiến ấy: đội quân Cờ Đen của tướng Mãn Thanh là Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Thiên Tân 1885.

Đó là sự kiện không thể không dạy. Quân đội Lưu Vĩnh Phúc của Mãn Thanh đã lập hai chiến công là giết hai chỉ huy của Pháp trong hai trận ở Cầu Giấy, còn Hiệp ước Pháp – Thanh 1885 thì mở ra trang sử mới của Việt Nam. Nhưng, nói về Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Pháp – Thanh mà lại không nói gì về cuộc chiến tranh quyết định quyền kiểm soát Việt Nam của hai nước Pháp – Thanh này, các sử gia của chúng ta đã cho học sinh phổ thông học một bức tranh lịch sử cận đại theo kiểu… Pháp xâm lược Việt Nam, rồi đột nhiên Mãn Thanh xuất hiện ký một hiệp ước quyết định số phận chúng ta.

Lưu Vĩnh Phúc vốn là quân Thái Bình Thiên Quốc, bị triều đình Mãn Thanh đánh bại, chạy sang Việt Nam làm thổ phỉ, gây ra vô số tội ác cho dân chúng. Triều đình Huế không thể đánh dẹp, phải nhờ Mãn Thanh đánh giúp. Khi triều đình Mãn Thanh cử quân đội vào Việt Nam để đụng đầu với Pháp, quân đội triều đình Mãn Thanh đã thâu nạp luôn đội quân thổ phỉ Lưu Vĩnh Phúc, ban cho phẩm hàm triều đình, thay vì tiêu diệt nó.

Sách giáo khoa sử lớp 7 hiện nay ở Việt Nam dùng khái niệm “quân ta” để gọi Lưu Vĩnh Phúc. Lối giáo dục này bắt đầu từ hơn 70 năm trước, khi sử gia Trần Văn Giàu và Trần Huy Liệu ở Hà Nội bắt đầu xây dựng bức tranh “lịch sử cận đại”. Lưu Vĩnh Phúc có tờ Hịch kêu gọi binh lính của mình đánh Pháp, trong đó, đoạn đầu tiên, ông nói rõ mục đích của cuộc chiến: Việt Nam là chư hầu của Mãn Thanh, nay Pháp sang chiếm mất chư hầu của ta, ta và Pháp là kẻ thù không đội trời chung.

Sử gia Trần Văn Giàu làm gì khi trích dẫn bài Hịch này vào bộ sử “Bắc kỳ kháng Pháp”? Ông cắt bỏ đoạn mở đầu thể hiện rõ ý thức hệ và mục đích chiến tranh của họ Lưu. Nhờ thế, sử gia họ Trần dễ dàng gắn huân chương “tình hữu nghị chiến đấu của hai dân tộc Việt Trung” cho Lưu Vĩnh Phúc.

Chữ quốc ngữ và 12 ‘tông đồ’ của phi nhân, phản khoa học

Trân Văn

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes.

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes.

Bão lại nổi lên trên mạng xã hội sau khi thành phố Đà Nẵng thông báo, chưa lấy tên hai linh mục Công giáo là Francisco De Pina và Alexandre de Rhodes đặt cho hai con đường ở thành phố này.

Đà Nẵng dự tính dùng tên hai linh mục vừa kể đặt cho một vài con đường vì trước nay, hai ông vẫn được xem như những người tiêu biểu trong việc giúp người Việt chuyển đổi chữ viết từ hệ thống ký tự tượng hình sang hệ thống ký tự La tinh (chữ quốc ngữ).

Tuy nhiên dự tính đó đã bị 12 cá nhân mang những học hàm như Phó Giáo sư, những học vị như Tiến sĩ hoặc vẫn được gọi là “nhà nghiên cứu” về lịch sử, văn hóa phản đối kịch liệt, tất cả lập luận bài bác đều có màu sắc chính trị. Ví dụ: Alexandre de Rhodes là tội phạm. Chữ quốc ngữ là công cụ xâm lăng. Chữ quốc ngữ là cách thực dân khiến người Việt phải ghi ơn mẫu quốc vì có công khai phá. Phải xem Francisco De Pina và Alexandre de Rhodes có xứng tầm để hậu thế noi theo hay không?..

Đó cũng là lý do chính quyền thành phố Đà Nẵng phải tạm dừng ý định dùng Francisco De Pina và Alexandre de Rhodes làm tên cho hai con đường ở thành phố này. Cứ như tự sự của ông Huỳnh Văn Hùng, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao Đà Nẵng thì quyết định tạm dừng không phải do lập luận của những người bài bác hữu lý. Ông Hùng nhắc nhở, không phải tự nhiên mà tiền nhân, giới sĩ phu yêu nước thúc giục truyền bá chữ quốc ngữ, xem đó là yêu nước (1)...

Dẫu nhận thức như thế song các viên chức hữu trách ở Đà Nẵng vẫn không vượt qua được sự ngán ngại về những rắc rối chính trị theo sau kiểu mà họ gọi là “bỏ bóng đá người” - đem “quan điểm, lập trường” cột vào cổ Pina và de Rhodes!

*

Dù muốn hay không cũng phải thừa nhận, Francisco De Pina và Alexandre de Rhodes đã giúp Việt Nam trở thành một trong số rất ít quốc gia ở châu Á có hệ thống ký tự La tinh, nhờ vậy người Việt dễ học đọc, viết, tiếp cận các ngôn ngữ khác ở phương Tây hơn.

Tuy thù hận Francisco De Pina và Alexandre de Rhodes và được xem như những nhân vật có thứ hạng trong nghiên cứu văn hóa và lịch sử nhưng 12 người tiên phong trong việc chống ghi công Francisco De Pina và Alexandre de Rhodes lại chỉ rành… chữ quốc ngữ. Vốn liếng của họ về Hán Nôm - một trong những công cụ hữu dụng để nghiên cứu văn hóa, lịch sử Việt Nam, nâng cao tri thức và hiểu biết cả về tiền nhân lẫn tự hào dân tộc, có lẽ chỉ gói gọn trong phạm vi phân biệt “tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, tốt”!

Đó cũng là lý do có những facebooker như Hoàng Linh gọi 12 nhân vật này là “12 tông đồ”. Dùng kiểu tư duy đó, Hoàng Linh đề nghị nghiên cứu xem “Kênh Nước Đen” - tên một con đường ở TP.HCM có… làm gì cho chế độ cũ hay không? Gia đình có ai… định cư ở nước ngoài không? Vợ có phải là… “Kênh Tàu Hũ” không? “Kênh Nhiêu Lộc” có phải con không, tại sao không khai trong lý lịch?.. Chưa làm rõ thì không nên dùng để đặt tên đường và cần làm rõ ý đồ chính trị, tôn giáo của người đã chọn tên ông… “Kênh Nước Đen” (2)!

Bi hài việc tôn vinh người sáng tạo chữ quốc ngữ (*)

Lưu Trọng Văn

Bản kiến nghị của 12 nhà khoa học xã hội, chính trị, lịch sử chống việc đặt tên đường A. Rhodes và F. Pina ở Đà Nẵng đã gặp những phản ứng quyết liệt của đa số người Việt với đủ thành phần xã hội.

Có thể khẳng định trên không gian mạng và báo chí chính thống ý kiến ủng hộ việc Đà Nẵng đặt tên đường là tuyệt đại đa số.

Lý do quá rõ.

1.
- Cha F. Pina người Bồ Đào Nha từ năm 1617 đã nghĩ ra công thức dùng khuôn nhạc và 6 dấu (huyền, hỏi, sắc, nặng, ngã, không) trong đó sáng tạo thêm dấu hỏi và dấu nặng mà hầu như không có ngôn ngữ nào trên thế giới có để phiên âm chính xác âm Việt và hồn của tiếng Việt ra chữ viết theo hệ La Tinh.

Tại Lisbon Bồ Đào Nha còn lưu giữ các tư liệu chứng minh sự thật này. (Nhà thơ Hoàng Hưng, phó gs ngôn ngữ Hoàng Dũng cùng nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ và người viết bài này đã trực tiếp được xem tư liệu này).

- Cha Gaspar de Amaral học trò học tiếng Việt của cha Pina có công soạn cuốn từ điển Việt- Bồ.
- Cha Antonio Barbosa một học trò tiếng Việt khác của cha Pina có công soạn từ điển Bồ- Việt.
- Cha A.Rhodes cũng là người được cha Pina dậy tiếng Việt có công lớn khi tổng hợp các thành tựu của các cha Pina, Amaral, Barbosa soạn thành bộ từ điển Việt- Bồ-La hoàn chỉnh chính thức in và công bố cho thế giới biết vào năm 1651 tại Roma, Ý.

Bên cạnh đó lịch sử cũng phải ghi công rất nhiều người Việt đã hỗ trợ tích cực cho các cha thực hiện việc sáng tạo chữ Việt mà chúng ta gọi là chữ Quốc ngữ ngày nay.

2.
Trước khi có chữ Việt dân tộc ta dùng chữ Hán và chữ Nôm.
Chữ Hán là tiếng Hán.
Chữ Nôm tuy là tiếng Việt do Hàn Thuyên sáng tạo nên nhưng chữ vẫn lấy gốc chữ Hán mà chỉ cải tiến đơn giản hơn.
Chữ Việt mà các cha sáng tạo là loại chữ phiên âm tiếng Việt duy nhất dễ học, dễ viết và tách biệt chữ Hán.

Tiếng Việt là tiếng của Tổ tiên Việt, là Hồn Việt, là Văn hoá Việt, là cuộc sống thuần Việt. Khác hoàn toàn tiếng Hán. Vậy thì công lao của các cha Pina, Amaral, Barbosa, Rhodes là công lao trời bể.

Tiếng Việt cùng chữ Việt được như ngày nay đương nhiên còn nhờ công lao vô cùng to lớn của các nhà văn hoá Việt và chính người Dân Việt nói tiếng Việt, viết chữ Việt không ngừng nghỉ, làm trong sáng, làm phong phú và sáng tạo nên - hoàn chỉnh thêm.

3.
Các ý kiến cho rằng mục đích các cha sáng tạo nên chữ Việt chỉ để phục vụ cho việc truyền đạo chứ không vì Dân tộc Việt.

Ý kiến này bị đa số ý kiến trên mạng và trên báo chính thống bác bỏ vì nó chia rẽ sự đoàn kết Dân tộc.

Cách đây hơn 2000 năm VN đã xuất hiện các nhà sư từ Ấn Độ đến truyền đạo Phật. Vậy thì cách đây hơn 400 năm VN xuất hiện các giáo sĩ từ Bồ Đào Nha, từ Pháp đến truyền đạo Thiên Chúa có gì sai? Có gì chống lại Dân tộc?

Chả lẽ đạo Phật, Nho giáo là tốt còn đạo Thiên Chúa là phản động, phản Dân tộc?

Nếu xấu tại sao hầu hết các nước Dân chủ, Văn minh và cả tỷ người trên thế giới lại tin và tôn thờ?

Nếu xấu tại sao VN hiện có hàng triệu bà con công giáo kính Chúa yêu nước, đồng hành cùng Dân tộc lại tin và tôn thờ?

Nếu xấu thì vì sao Thiên Chúa giáo lại được Nhà nước VN tôn trọng và gắn kết?

Vì vậy việc các cha do việc truyền đạo đi chăng nữa mà sáng tạo chữ Việt cũng là việc cần được tôn trọng. Đó là chưa kể đạo Thiên Chúa đã góp phần không nhỏ giúp nước Việt được khai sáng thêm, được tiếp nhận các giá trị văn hoá phương Tây hơn.

4.
Có ý kiến gay gắt phê phán cha A.Rhodes trong khi truyền đạo đã phỉ báng đạo Phật, Khổng Tử, Nho giáo.

Cứ giả sử có sự cực đoan vậy và giả sử việc bài các tôn giáo khác là có thật thì cân nhắc giữa công và tội của cha A.Rhodes chúng ta không khó để thấy công của cha là trời bể.

Đồng thời để công bằng thì chúng ta thấy trên nhiều đường phố khắp VN mang tên nhiều nhân vật lịch sử hiện đại của VN đã chủ mưu và trực tiếp ra lệnh phá huỷ rất nhiều chùa chiền, đình, đền thờ của Dân tộc quy kết là văn hoá mê tín, phong kiến lạc hậu. Tại sao họ vẫn được đặt tên đại lộ, đường phố lớn?

5.
Có ý kiến các cha đã kết nối rước thực dân Pháp xâm lược VN vì vậy các cha là tội đồ của Dân tộc VN.

Các cha sáng tạo nên chữ Việt và truyền đạo Thiên Chúa vào VN từ năm 1617- 1645. Hơn 200 năm sau 1858 người Pháp mới đổ quân vào Sơn Trà Đà Nẵng chính thức xâm lược VN.

Sao lại có thể có sự liên kết quy chụp qua hai thế kỷ như vậy được?

Định kiến chính trị thành phản văn hóa

Chu Mộng Long

Tôi không ngạc nhiên khi 12 nhà sử-chính trị ký đơn phản đối Đà Nẵng đặt tên đường lấy tên hai giáo sĩ phương Tây: Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes. Vì lẽ đơn giản, định kiến chính trị đã từng làm cái việc thay, xóa tên đường cũ thành tên đường mới, chủ yếu đường hiện nay dành đặt tên gắn với những người có công với cách mạng.

Đọc nguyên văn cái đơn này thấy rất rõ định kiến chính trị đã ăn sâu vào trong não những người được gọi là nhà khoa học.

Trong đơn chỉ có một nội dung đúng. Đó là phủ nhận Alexandre de Rhodes là “ông tổ” của chữ quốc ngữ. Nhưng cái đúng này trẻ con cũng nói được, vì làm gì có chuyện một cá nhân sáng chế ra cả kho tàng ngôn ngữ, dù chỉ là chữ viết. Ngôn ngữ được xem là kỳ quan hàng đầu của các cộng đồng người, qua giao tiếp hàng triệu năm mà thành. Riêng chữ viết, hiện nay trên thế giới chỉ có chưa tới 10 hệ ký tự được dùng chung cho cả trăm quốc gia, dân tộc. Khi sử dụng một hệ ký tự nào đó, đố biết ai là tổ ghi hình hay ghi âm cho ngôn ngữ của dân tộc mình. Bất cứ từ điển nào cũng chỉ ghi lại những gì đã có, tức tổng hợp từ sản phẩm của nhiều người và được cộng đồng thừa nhận như một tài sản chung. Chính Alexandre de Rhodes đã nói rõ điều đó trong cuốn Từ điển Việt - Bồ - La mà ông biên soạn chứ không tự nhận mình là “ông tổ”.

Các nghiên cứu được trích dẫn trong đơn thật thừa thãi khi trẻ con cũng biết cái chân lý ấy.

Chỉ công lần đầu tập hợp biên soạn cuốn từ điển đó đã đủ vinh danh Alexandre de Rhodes và Francisco de Pina.

Chưa nói sự ngụy tạo lời của Alexandre de Rhodes, việc luận tội truyền giáo hay gián điệp cho thực dân cướp nước ta mà xóa công lao của 2 giáo sĩ này đủ thấy định kiến chính trị đã sinh ra một thứ nhãn quan phản văn hóa không nên có ở nhà khoa học.

Nếu cho việc truyền bá chữ quốc ngữ với mục tiêu xâm lược hay nô dịch mà phủ nhận sạch trơn thì có lẽ cả ngàn năm trước cha ông ta đã từ chối chữ Hán chứ không để cho đến nay nó đã Hán hóa ngôn ngữ Việt đến hơn 70%. Và cho rằng chữ Latin đã làm ta nô dịch Tây (thực chất chỉ mượn ký tự để ghi tiếng nói của dân tộc chứ không phải như chữ Hán trước đó) thì cha ông ta đầu thế kỷ 20 đã tẩy chay hay vứt cuốn từ điển của Alexandre de Rhodes vào sọt rác chứ không thể có phong trào truyền bá chữ quốc ngữ rầm rộ và ca khúc khải hoàn bởi chiến thắng của nền văn hóa mới!

Nếu vẫn giữ cái đầu định kiến chính trị như ta, có lẽ phương Tây, và cho đến nay gần như toàn cầu, cũng không dùng bảng chữ cái Latin. Bởi vì sự ứng dụng rộng rãi chữ Latin gắn liền với sự bành trướng của đế chế La Mã và việc truyền giáo của Giáo hội Rome. Nếu muốn luận tội thì đế chế La Mã và Giáo hội Rome thời trung cổ tội ác chất chồng, luận ba ngàn trang sách cũng không hết. Nhưng việc nào ra việc nấy, người Âu - Mỹ vẫn tôn trọng và biết ơn cả một nền văn hóa mà đế chế La Mã và Giáo hội Rome đã hình thành như một nền tảng thứ hai sau thời cổ đại Hy Lạp.

Bước đi mới tôn vinh Chữ Quốc Ngữ

Hoàng Hưng

Nhà báo Lưu Trọng Văn và tôi, Hoàng Hưng, vừa làm xong một việc có ý nghĩa ở Lisbon, thủ đô Bồ Đào Nha, coi như mở đầu cuộc tôn vinh Chữ Quốc Ngữ (CQN) mà một nhóm người yêu tiếng Việt khởi xướng từ tháng 3 năm nay (2018).

Ông Nguyễn Đăng Hưng, nguyên GS Đại học Liege Bỉ, nhiều năm về Việt Nam giúp đào tạo cao học, là người có sáng kiến tôn vinh Cha Alexandre de Rhodes (nguyên cớ trực tiếp là do GS bất bình với “đề án chữ Việt mới” của một vị đã từng gây ồn ào truyền thông hồi đầu năm). Sáng kiến này được ông đưa lên Facebook cá nhân và đưa ra trong buổi họp mặt các nhà văn thân hữu của mạng Văn Việt cuối tháng 3/2018.

Động thái đầu tiên của GS Nguyễn Đăng Hưng là tìm đến ngôi mộ người có công lớn trong công cuộc tạo ra Chữ Quốc Ngữ là Giáo sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes người Pháp, ở Isfahan, Iran. Ông đã kiên trì vận động để được chính quyền sở tại cho phép, và thuê làm bia “Tri ân Cha Alexandre de Rhodes, người có công lớn trong việc tạo tác Chữ Quốc Ngữ” bằng 4 thứ tiếng (Việt, Pháp, Anh, Iran). Bia sẽ được Giáo sư cùng một số chiến hữu từ Việt Nam và nước ngoài sang Isfahan dựng vào dịp 358 năm ngày mất của cụ Rhodes (5/11/1660).

Những chữ Việt đầu tiên...

Lưu Trọng Văn

Phải nhớ đến công lao của Cha Francisco de Pina (1585 - 1625) như người đầu tiên sáng chế ra chữ quốc ngữ, bên cạnh những người khác cũng góp công sức vào quá trình lâu dài gian khổ này, như người “thanh niên Giáo dân [Việt Nam] có tên đạo là Phêrô cùng với Pina lần đầu tiên dịch một số bản kinh sang tiếng Việt hồi năm 1618, khởi đầu công cuộc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin”(*), và cả các Giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa. Nhưng không vì thế mà chúng ta lại đi đến cực đoan bác bỏ công phu tổng hợp để hoàn chỉnh một bước quan trọng của Cha Alexandre de Rhodes trong bộ Từ điển Việt-Bồ-La và sách Phép giảng tám ngày của ông, thậm chí coi Rhodes là… “đạo chích”. Lịch sử bao giờ cũng công bằng, vì thế người nhận thức lịch sử cũng cần có cái nhìn khách quan, tỉnh táo và tấm lòng rộng mở để không trở thành phũ phàng trước đòi hỏi vô tư mà nghiêm khắc ấy, trái lai biết chắt chiu sàng lọc mọi cái đẹp lớn nhỏ mà mỗi con người từng hiện diện trong quá khứ đã dâng hiến phần mình vào thành quả mà chúng ta được thừa hưởng hôm nay.

Bauxite Việt Nam

Bây giờ là 2g10 chiều ngày 5.7. Ít phút nữa, gã bước vào hội thảo chữ quốc ngữ tại Lisbon. Hội thảo sẽ khẳng định cha đẻ của chữ quốc ngữ, tức chữ Việt ngày nay không phải là cha Alexandre de Rhodes mà là cha Francisco de Pina.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn