Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa nhân văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa nhân văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thương yêu nào cho người

Theodore Dalrymple(*)

Trần Quốc Việt dịch

Dịch giả gửi tới Dân Luận

Mùa hè 2001

Hầu như mỗi trí thức đều khẳng định trong lòng họ chỉ nghĩ đến phúc lợi của con người, và đặc biệt phúc lợi của người nghèo: nhưng vì không có vụ giết quá nhiều người nào diễn ra mà thủ phạm lại không tuyên bố rằng họ hành động vì lợi ích của nhân loại, nên tình cảm bác ái có thể thể hiện rõ ràng qua muôn vàn cách.

Hai tác giả lớn người Âu Châu vào thế kỷ thứ mười chín, Ivan Turgenev và Karl Marx, minh họa rất rõ ràng sự đa dạng này. Cả hai đều cùng sinh vào năm 1818 và cùng mất vào năm 1883, và cuộc đời của họ còn giống nhau gần như một cách kỳ lạ về nhiều điểm khác. Tuy nhiên cuối cùng họ có cái nhìn rất khác nhau, thực ra xung khắc tưởng chừng như hai thái cực khác hẳn, về cuộc đời và khổ đau của kiếp người. Turgenev thấy con người là những cá nhân luôn luôn được tạo hoá ban cho ý thức, tính cách, tình cảm, cùng những điểm mạnh và yếu về đạo đức; Marx thấy họ là những bông tuyết trong cơn tuyết lở, là những trường hợp của các quy luật chung, là chưa hẳn là người vì bị hoàn cảnh chi phối hoàn toàn. Nơi Turgenev thấy con người, Marx thấy giai cấp; nơi Turgenev thấy dân chúng, Marx thấy Nhân dân. Hai cách nhìn đời này tiếp tục tồn tại cho đến thời của chúng ta và vẫn ảnh hưởng sâu sắc, dù tốt hay xấu, đến các giải pháp chúng ta đưa ra cho các vấn đề xã hội.

Những điểm tương đồng trong nghề nghiệp giữa hai người khởi sự từ việc họ cùng theo học trường Đại học Berlin trong cùng thời gian, tại đây cả hai chịu ảnh hưởng sâu sắc -đến độ say mê-triết học biện chứng Hegel đang thịnh hành. Do thế, cả hai đều tính trở thành giáo sư dạy triết ở trường đại học, nhưng không có ai từng giảng dạy. Họ có nhiều người quen chung ở Berlin, trong đó có Mikhail Bakunin, nhà quý tộc Nga về sau trở thành nhà cách mạng theo chủ trương vô chính phủ, triết gia Bruno Bauer, và nhà thơ quá khích Georg Herwegh. Họ có điểm chung là chẳng màng đến tiền bạc, có lẽ vì cả hai đều sinh ra trong cảnh giàu sang nên chẳng bao giờ lo âu đến chuyện tiền nong. Lúc bắt đầu theo nghiệp cầm bút cả hai đều là những nhà thơ lãng mạn, tuy thơ của Turgenev được xuất bản nhiều hơn thơ của Marx.

Ảnh hưởng và thị hiếu văn chương của hai người đều giống nhau. Mỗi người đều đọc nhiều tác phẩm cổ điển La tinh và Hy Lạp; mỗi người đều có thể trích dẫn Shakespeare bằng tiếng Anh. Cả hai đã học tiếng Tây Ban Nha để đọc Calderón. (Turgenev, tất nhiên, học tiếng này để thể hiện qua ngôn ngữ bản xứ mối tình lớn nhưng không toại nguyện trong đời ông, nữ danh ca opera Pauline Viardot.) Cả hai ngưòi đang ở Brussels vào lúc nổ ra cuộc cách mạng năm 1848 chống lại Quân chủ tháng Bảy tại Pháp, và cả hai rời khỏi nơi đấy để quan sát những biến cố ở nơi khác. Người bạn Nga thân nhất của Turgenev, Pavel Annenkov, người được ông đề tặng nhiều tác phẩm, biết Marx rất rõ ở Brussels và đã tả những điều không hay về Marx.

Cảnh sát chìm theo đõi cả hai người, và cả hai đều sống phần lớn cuộc đời trưởng thành, và đều mất, trong cảnh lưu vong. Mỗi người đều có con riêng với người giúp việc: ở Turgenev đó là lầm lỡ tuổi trẻ, ở Marx đó là lầm lỗi lúc đã đứng tuổi. Tuy nhiên, khác với Marx, Turgenev thừa nhận con và cấp tiền nuôi dưỡng.

Người ta biết cả hai đều cảm thông với những phận người bị chà đạp và bị áp bức. Nhưng cho dù họ rất giống nhau ở nhiều điểm về giáo dục và kinh nghiệm, bản chất lòng trắc ẩn ở mỗi người lại khác nhau như một trời một vực: vì trong khi ở người này lòng trắc ẩn, bắt nguồn từ đau khổ của những cá nhân, là thực thì ở người kia lòng trắc ẩn, trừu tượng và chung chung, lại là không thực.

Để thấy sự khác biệt ấy, chúng ta hãy so sánh truyện Mumu vào năm 1852 của Turgenev với Tuyên ngôn Cộng sản của Marx được viết trước đó bốn năm. Cả hai tác phẩm, hầu như dài bằng nhau, đều ra đời trong hoàn cảnh khó khăn: Marx, do hoạt động cách mạng nên bị trục xuất khỏi nước Pháp, đang ở Brussels, nơi ông chẳng muốn ở và cũng chẳng có thu nhập gì, còn Turgenev đang bị quản thúc ở Spasskoye, điền trang hẻo lánh của ông ở phía tây nam Mạc Tư Khoa, vì đã viết Bút ký người đi săn, một tác phẩm bị xem là phá hoại khi lên án kín đáo chế độ nông nô. Viên chức kiểm duyệt cho phép tác phẩm được xuất bản đã bị sa thải và bị tước tiền hưu.

Truyện Mumu lấy bối cảnh ở Mạc Tư Khoa vào thời nông nô. Gerasim là nông nô có vóc người và sức mạnh phi thường nhưng bị câm và điếc, được chủ mình, một địa chủ già và khắc nghiệt, đưa từ quê ra thành phố. Vì không nói ra lời được Gerasim đành vụng về tán tỉnh một thiếu nữ nông dân tên Tatyana, người cũng thuộc quyền sở hữu của cùng địa chủ. Song, địa chủ, một người đàn bà góa tính tình chua ngoa và cay nghiệt, tự nhiên vô cớ, quyết định gả quách Tatyana cho một nông nô khác của bà, một người thợ vá giày hay say sưa tên Kapiton, qua đấy làm vỡ tan bao hy vọng của Gerasim.

Không bao lâu sau, Gerasim thấy một con chó con suýt bị chết đắm ở một dòng suối đầy bùn. Hắn cứu con chó và đem về nuôi nấng săn sóc cho đến khi nó khôn lớn và khoẻ mạnh. Hắn gọi nó là Mumu, đó là tiếng gần giống tiếng người nhất mà hắn có thể bật ra được, và mọi người làm công cho địa chủ ở Mạc Tư Khoa liền gọi con chó theo tên ấy. Gerasim càng ngày càng rất yêu thích con chó, người bạn chân thành duy nhất của mình, và hắn cho con chó sống chung với mình trong căn phòng nhỏ, và nó lẽo đẽo đi theo hắn khắp mọi nơi như hình với bóng. Con chó cũng thương hắn vô cùng.

Ngày nọ nhìn qua cửa sổ bà địa chủ thấy Mumu liền sai người mang con chó đến. Nhưng Mumu sợ bà nên nhe răng gầm gừ. Bà bỗng chợt thấy ghét con chó bèn ra lệnh tống khứ nó đi cho khuất mắt. Một người giúp việc của bà đem con chó đi bán cho người lạ. Gerasim cuống cuồng lên tìm kiếm chó khắp nơi nhưng không thấy. Tuy nhiên, Mumu lần tìm được đường trở về lại với hắn khiến hắn vui mừng khôn xiết.

Không may vào tối hôm sau Mumu lại cất tiếng sủa khiến bà địa chủ thức giấc. Tin rằng mình khổ sở đau đớn do sự mất ngủ này, bà ra lệnh lần này phải giết con chó. Những người giúp việc cho bà đến gặp Gerasim và ra dấu để truyền đạt mệnh lệnh của chủ. Gerasim, nhận ra kết cục tất yếu, hứa sẽ tự tay mình giết chó.

Sau đây là hai trích đoạn cảm động đến tưởng như đau xé lòng. Ở trích đoạn đầu, Gerasim đưa Mumu đến quán rượu trong vùng: “Trong quán rượu họ biết Gerasim và hiểu được ngôn ngữ ra dấu của hắn. Hắn gọi xúp cải bắp và thịt rồi ngồi đặt hai tay trên bàn. Mumu đứng kế bên cạnh ghế, đưa đôi mắt tinh anh vô tư nhìn hắn. Bộ lông của nó sáng ửng lên: rõ ràng bộ lông nó mới vừa được chải chuốt mượt mà. Họ mang ra cho Gerasim món xúp cải bắp. Hắn bẻ vụn bánh mỳ cho vào xúp, cắt thịt ra từng miếng nhỏ rồi đặt bát xúp xuống dưới nền nhà. Mumu bắt đầu ăn món ăn ngon thường lệ, cái mõm của nó tưởng chừng như không chạm đến thức ăn. Gerasim nhìn chăm chú nó thật lâu; bất ngờ từ khoé mắt hắn ứa lăn ra hai giọt nước mắt nằng nặng: một giọt rơi trên trán con chó, giọt kia rơi vào súp. Hắn lấy hai tay che mặt. Mumu ăn hết nửa bát xúp rồi vừa bỏ đi vừa liếm lông. Gerasim đứng lên, trả tiền bát xúp rồi rời quán”.

Hắn đưa Mumu đi xuôi về hướng sông, dọc đường nhặt vài cục gạch. Đến bờ sông, hắn xuống thuyền với Mumu rồi chèo ra thật xa.

“Cuối cùng vẻ mặt buồn thảm cay đắng, Gerashim ngồi thẳng lên,vội vã lấy dây buộc những viên gạch lại với nhau thành cái thòng lọng, tròng nó quanh cổ của Mumu, bế con chó lên trên mặt nước, nhìn nó lần cuối cùng... Đầy tin tưởng và chẳng sợ hãi nó nhìn hắn và vẫy nhẹ đuôi. Hắn nhăn mặt quay đi rồi buông ra... Gerashim không nghe gì, không nghe tiếng rên rỉ của Mumu khi rơi xuống, hay tiếng rơi tõm nặng nề trên mặt nước; đối với hắn ngày ồn ào nhất vẫn là ngày yên ắng chẳng mảy may âm thanh gì, còn hơn cả đêm yên tĩnh nhất có thể không có tiếng động nào đối với ta; rồi khi hắn mở mắt ra lại những làn sóng nhỏ vẫn luôn luôn chảy vội vã trên mặt nước, như thể đuổi bắt nhau, như thể chúng vẫn luôn luôn vỗ nhẹ vào mạn thuyền, và xa tít đằng sau một hay hai vòng tròn lớn đang lan toả vào bờ”.

Chúng ta biết sau khi Mumu chết Gerashim bỏ trốn về lại làng cũ, nơi hắn làm việc quần quật ngoài đồng như một nô lệ: nhưng từ đấy hắn không bao giờ gắn bó thân thiết với người hay chó nữa.

Khi nhà cách mạng Nga lưu vong Alexander Herzen, vốn là người uyên bác thuộc dòng dõi quý tộc, đọc truyện này, ông giận run lên. Thomas Carlyle khẳng định đây là truyện xúc động nhất ông đã từng đọc. Còn John Galsworthy khi bàn về truyện đã thốt lên “chưa từng có ai viết ra được những lời xúc động nao lòng người hơn thế để lên án sự độc ác hà khắc”. Và một người bà con của Turgenev, người được tác giả đọc Mumu cho, sau này viết, “Phải là một người rất tốt và nhân ái lắm mới thấu hiểu và diễn đạt được cảnh ngộ và bao đau đớn ở trong lòng người khác như thế”.

Truyện có tính tự sự, và địa chủ cay nghiệt, xét nét, độc đoán, và ích kỷ ấy chính là mẹ tác giả, Varvara Petrovna Turgeneva. Chồng mất sớm, bà thành lãnh chúa tuyệt đối ở điền trang của mình. Nhiều câu chuyện về sự độc ác của bà vẫn còn lưu truyền đến chúng ta, tuy rằng không phải tất cả đều thật: chẳng hạn, bà đày hai nông nô lên Siberia chỉ vì cái tội không cúi đầu chào bà khi bà đi ngang qua - vì họ không thấy bà. Còn nhân vật Gerasim thật sự ngoài đời là một nông nô bị câm và điếc tên Andrei thuộc về Varvara Petrovna.

Rõ ràng Mumu là tiếng kêu bi thương phẫn uất chống lại sự thực thi quyền lực độc đoán giữa người với người, nhưng sự lên án ấy không nhằm mục tiêu chính trị. Dù sự lên án ấy hiển nhiên nhắm vào chế độ nông nô, nhưng truyện không ám chỉ rằng tàn nhẫn là đặc quyền chỉ riêng của những địa chủ phong kiến, và rằng giá như chế độ nông nô bị xoá bỏ đi thì ta không còn cần thiết phải cảnh giác với sự độc ác như thế. Nếu quyền lực là một đặc trưng mãi mãi hiện diện trong các mối quan hệ của con người - dẫu chắc chắn chỉ có tuổi mới lớn và những loại trí thức nào đấy, trong đó có cả Marx, mới mơ tưởng quyền lực tiêu vong - thì Mumu là lời kêu gọi bất tử thúc giục ta nên nhân ái, tự chủ, và công bằng khi thực thi quyền lực. Vì lẽ ấy 140 năm sau khi xoá bỏ chế độ nông nô ở Nga Mumu vẫn không mất đi sức mạnh làm lay động lòng người; dù truyện diễn ra ở nơi chốn cụ thể vào thời gian cụ thể, truyện cũng mang tính phổ quát.

Khi đưa ra quan điểm chung của mình, Turgenev không gợi ý rằng các nhân vật của ông hoàn toàn không phải là những cá nhân với những đặc điểm riêng của mỗi người. Ông không xem họ chỉ là những thành viên của tập thể hay giai cấp, do bị áp bức nên hành động theo những cách đã định trước tựa như những tàu điện luôn luôn chạy trên những đường ray định sẵn: cho nên nhận xét tinh tế của ông về nhân vật thậm chí hèn mọn nhất vẫn là lời chứng thực có thể hùng hồn nhất cho niềm tin của ông về nhân tính của họ. Tuy là nhà đại quý tộc, và quen biết với những tâm hồn lỗi lạc nhất của Châu Âu, ông chẳng khinh khi xem thường người nông dân hèn mọn nhất, người mà không thể nghe và nói được. Những người nông dân bị đè nén của Turgenev hoàn toàn là những con người, được tạo hoá phú cho ý chí tự do và khả năng biết chọn giữa thiện và ác.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn