Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân chủ & Độc tài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dân chủ & Độc tài. Hiển thị tất cả bài đăng

Vài suy nghĩ về dân chủ hiện nay: Tính độc đoán của chủ nghĩa tuyệt đối (Bài 4)

Đoàn Hưng Quốc

Bà Aung Sang Suu Kyi từng được Tây Phương ca ngợi như một nữ thần tranh đấu cho tự do của dân tộc Miến Điện. Nhưng nay cũng chính Tây Phương phỉ báng cho rằng bà bênh vực nạn diệt chủng đối với người thiểu số Hồi Giáo đòi ly khai ở Rohyndia. Chính quyền Miến Điện không còn chỗ tựa nên mở lại cánh cửa đầu tư đón tiếp Trung Quốc.

Bà J.K.Rowling vốn được thế giới mến mộ vì là tác giả của tập sách nổi tiếng Harry Potter nhưng nay bị đánh hội đồng chỉ vì bày tỏ quan điểm về việc chuyển giới (transgender).

Nhiều trường hợp khác đang xảy ra cho thấy tính độc đoán của giới cấp tiến Tây Phương vốn tự cho họ sở hữu tuyệt đối (absolutism) những giá trị bó buộc (straight jacket) của nhân loại nên chống phá mọi quan điểm bất đồng.

Dùng thí dụ cho dễ hiểu, giả sử một nhà tranh đấu cho Việt Nam có tự do dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ nhưng chống đối phong trào dân tộc thiểu số đòi ly khai tự trị, hoặc không ủng hộ hôn nhân đồng tính thì cũng sẽ bị Tây Phương cô lập và triệt hạ. Bà Aung Sang Suu Kyi tranh đấu cho đa số người Miến Điện thoát khỏi ách độc tài quân phiệt và đô hộ kinh tế của Trung Quốc nhưng bị kẹt giữa đa số Phật Giáo và phong trào đòi ly khai của thiểu số Hồi Giáo. Tình trạng tương tự một ngày nào đó xảy đến cho những nhà tranh đấu Việt, Lào hay Campuchia thì Tây Phương lại có thể sẽ cô lập và đẩy lùi phong trào dân chủ ở những nước này đi trở ngược vào vòng tay của Bắc Kinh!.

Hiện thời nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp khắc nghiệt cánh dân chủ nhưng lại ma mãnh chấp nhận giới đồng tính nhằm lấy điểm để được Tây Phương ca ngợi là tiến bộ - cụ thể là cựu đại sứ Mỹ ông Ted Osius vốn cũng là người đồng tính. Trào lưu LGBTQ chẳng những không là mối đe dọa cho giới cầm quyền mà còn phù họp với chính sách của Đảng Cộng Sản muốn làm suy đồi nền văn hóa dân tộc.

Đảng với dân – nói một mà hai!

Nhân đọc bài Liệu có nhầm không của GS Nguyễn Đình Cống 

Hà Sĩ Phu

Thưa GS Nguyễn Đình Cống (NĐC) cùng quý vị độc giả,
Cuốn sách “Chia tay Ý thức hệ” (NXB Tự do) là thiện ý của bạn bè ở hải ngoại từ năm 2012 muốn có một cuốn sách ghi lại làm kỷ niệm 3 bài viết đã cũ của tôi từ 20 năm trước. Sau 3 bài cơ bản ấy tôi đã viết và trả lời phỏng vấn hơn 200 bài khác, phản ánh sự phát triển nhận thức của tôi kịp dòng thời sự. Vì thế tôi đã đề nghị ghi vào đầu sách mấy dòng như sau:

Đôi lời với bạn đọc 2012

Ba bài tiểu luận này bắt đầu viết từ 1988 đến 1995, đến nay đã trên dưới 20 năm. Tình hình thế giới và đất nước đã bao thay đổi, nhận thức của tác giả (HSP) cũng được bổ sung nhiều. Nếu được viết lại chắc chắn phải sửa đổi một số ý, đặc biệt là đánh giá kết quả giành Độc lập của mấy cuộc chiến tranh, cùng với Hồ Chí Minh và những nhân vật lịch sử thời ấy, cũng như nguyên nhân dẫn đến nguy cơ “Bắc thuộc kiểu mới” hiện nay, từ đó càng thấy rõ thêm những tác hại của một học thuyết sai lầm đối với Tổ quốc chúng ta.
Tôn trọng thời điểm lịch sử của bài viết, chúng tôi vẫn giữ nguyên văn, nên gặp những điểm còn ấu trĩ lúc ban đầu mong người đọc rộng lòng lượng thứ…

Hà Sĩ Phu

Tháng 12-2012

Trong những điều tôi đã biết là cần viết lại cho rõ hơn thì chủ yếu là cái câu ngắn gọn “Ta biết ơn chiếc thuyền nan đã đưa ta qua sông” (mà GS NĐC đã trích ra), khi tôi khuyên ĐCS phải biết từ bỏ “con thuyền Đảng trị Mác-Lê” khi đã qua sông.

GS NĐC là người đồng cảm với tôi một cách hết sức sâu sắc trong những nhận thức về triết học và xã hội, nên trong mấy trăm trang sách mà ông rất đồng tình, ông đã thấy “gợn” ngay lên một chút gì đó cần phải minh định trong cái câu ngắn gọn “ta biết ơn” ấy (biết ơn chủ nghĩa Mác-Lê đã giúp dân ta giành độc lập). Thực ra trong ba chữ “Ta biết ơn” ấy” thì chỉ một chỉ chữ “Ta” là quan trọng, vì tùy theo “VN ta”,“đảng ta”, hay “dân ta” thì sự cảm ơn kia sẽ là đúng hay sai.

Thực ra ngay từ đầu, trong bài “Dắt tay nhau…” năm 1988 tôi đã thấy thân phận khác nhau giữa “anh lái xe” và đoàn người trên xe (tức thân phận khác nhau giữa ĐCS và nhân dân) trên con đường Mác-Lê vạn dặm.

Bàn về “chúng ta”

Nguyễn Đình Cống

Khi đề cập đến tình hình đất nước (làm được gì, cần làm gì…) thường gặp cụm từ “nhân dân ta”, hoặc “chúng ta”. Thí dụ 2 câu sau trong bài “Thời cơ vàng đã đến” của Vũ Duy Phú: “Tại sao Nhân dân ta đã giành bao thắng lợi trong công việc đấu tranh GIÀNH ĐỘC LẬP, TỰ DO cho Đất nước, nhưng lại bỏ lỡ bao cơ hội để xây dựng Đất nước tiến lên Văn minh, hiện đại?... Chúng ta cần từ bỏ ĐỘC QUYỀN ĐẢNG TRỊ”.

Hoặc: “Chúng ta hãy làm cho cả nước là một chiến tuyến thống nhất bảo vệ Tổ Quốc! (“Hãy làm cho cả nước dốc lòng xây dựng đất nước sớm giàu mạnh”, bài của Nguyễn Trung). “Hiện nay chúng ta đang thiếu 2 thứ, một là minh triết, hai là kế hoạch (Chúng ta có thể giữ được Biển Đông một cách hòa bình - bài của Nguyễn Trường Giang).

Với dân Việt, khái niệm Nhân dân ta hoặc Chúng ta gồm toàn thể mọi người có quốc tịch hoặc giòng giống Việt Nam, không phân biệt gì cả. Nó bao gồm từ người dân bình thường đến lãnh đạo cao nhất, và được phân chia thành 2 thế lực cơ bản, tạm gọi là: DÂN và QUAN. Về quan hệ Nhà nước thì Dân thuộc bề dưới, Quan thuộc bề trên.

Dân lo học hành, lao động, sản xuất để tồn tại và đóng góp cho xã hội. Dân chiếm đa số. Ở thể chế dân chủ, mọi quyền thuộc về Dân. Ở xã hội độc tài dân thuộc tầng lớp bị trị.

Ở chế độ dân chủ Quan do dân bầu ra, có trách nhiệm quản lý xã hội, bảo vệ dân, hướng dẫn dân thực thi pháp luật và nghĩa vụ. Quan chiếm số ít, nhưng nhiều quyền. Ở chế độ độc tài quan thuộc tầng lớp thống trị, Quan cấp cao nhất (vua, thủ lĩnh) do dùng sức mạnh hoặc thủ đoạn chiếm lấy, Quan cấp dưới được cấp trên chọn trong số thân hữu, với tiêu chuẩn quan trọng nhất là lòng trung thành. Việc để cho Dân bầu cử thường chỉ là dân chủ giả hiệu.

Khi chế độ thối nát thì Quan trở thành bọn sâu mọt, còn được mua bán.

Giữa Dân và Quan có thống nhất và bất đồng (mâu thuẫn) về quan điểm và quyền lợi.

Khi Dân và Quan thống nhất (bất đồng không đảng kể) thì khái niệm chúng ta, nhân dân ta là bao gồm cả Dân và Quan.

Với các vấn đề mà Dân và Quan bất đồng thì cần phân biệt 2 trường hợp: Một là mâu thuẫn nội bộ, chỉ xảy ra giữa Dân và Quan. Hai là bất đồng giữa Dân và Quan về cách ứng xử với đối tượng thứ ba.

Trong trường hợp một, có thể dùng từ chúng ta cho cả hai bên, thí dụ: “Chúng ta cần bỏ qua bất đồng, chúng ta nên thông cảm với nhau, chúng ta cần hiệp thương, bàn bạc, v.v.”.

Trong trường hợp hai, khi dùng từ chúng ta phải thận trọng, không nhầm lẫn giữa Dân và Quan.

Dân ở chỗ nào?

Nguyễn Đức Tiến

Sáng nay, 15-10-2019 trong cuộc tiếp xúc cử tri các quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Tây Hồ của TBTCTN Nguyễn Phú Trọng, tướng Thước một gương mặt quen thuộc trong các sự kiện quan trọng đã hùng hồn khẳng định Tổ quốc, Đảng, Bộ chính trị là một…TBTCTN cười rất tươi và cảm ơn ông. Người ngồi trước màn hình sau mấy giây ngây ngất hòa cùng tướng Thước bỗng giật mình không biết ông để Nhân dân ở chỗ nào?

Cách đây hàng ngàn năm nhân loại đã biết đến ba phạm trù khác biệt là Xã tắc – Quân – Dân; Lại còn chua: “Dân vi quí - Xã tắc thứ chi - Quân vi khinh”. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lí ấy không bao giờ thay đổi”. Giờ ông gộp Đảng với Tổ quốc là Một và cho Dân chầu rìa…Có thể hiểu Đảng là Tổ Quốc và Tổ Quốc là Đảng. Gạo nếp trộn với đỗ đồ lên thì gọi là xôi đỗ, còn Đảng -Tổ quốc thì gọi là gì?

Dân chủ, hòa giải và tương lai

Phạm Phú Khải
Hình minh họa.
Hình minh họa.

Trong bài trước, tôi đề cập đến vấn đề hòa giải. Tôi biện luận rằng chỉ khi nào Việt Nam có được một nhà nước dân chủ thật sự và có một chính sách hòa giải toàn diện thì hy vọng mới có thể tiến hành hòa giải từng bước. Hy vọng, bởi vì để hòa giải thật sự, nó đòi hỏi nhiều yếu tố về con người, về nỗ lực tự vượt qua chính mình và tự thay đổi. Các chính sách đề ra phải hỗ trợ các nỗ lực cá nhân này, điển hình là truyền thông, giáo dục cũng như các bài học về hòa giải của các dân tộc khác, chẳng hạn.
Tóm lại, để có thể thật sự hòa giải đối với toàn dân tộc thì trước hết phải có một nhà nước dân chủ đích thực làm nền tảng của công lý và chính nghĩa. Tức dân chủ, theo tôi, phải là tiến trình đi trước sau đó mới đến hòa giải.
Nhưng làm thế nào để có được dân chủ khi cuộc vận động và đấu tranh cho dân chủ đòi hỏi sự đoàn kết và dấn thân cho mục tiêu chung giữa người Việt với nhau, trong và ngoài nước, khi mà sự rạn nứt, chia rẽ và đố kỵ còn quá trầm trọng ngay cả giữa những người cùng mục đích và chủ trương trong tình hình hiện nay?
Đây là một bài toán, một thách đố trông khá nan giải!
Bài toán này, thách đố này có lẽ đã được thảo luận không ngừng hơn bốn thập niên qua kể từ biến cố 30 tháng Tư 1975, và hơn một trăm năm qua kể từ phong trào duy tân. Sự khác biệt chính yếu của hai thời kỳ này là mục tiêu dân chủ hiện nay, và độc lập trước đây.
Thật ra độc lập và dân chủ có điểm chung, đó là tự do. Tuy phương pháp của hai cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Châu Trinh đều muốn nước nhà được độc lập, để người dân Việt Nam không còn bị nô lệ, xiềng xích, đọa đầy, nhưng cách thức thực hiện khác nhau trời vực. Tuy nhiên họ đều nhìn thấy rằng người dân không có một chút tự do nào cả dưới chế độ thực dân Pháp. Trong khi đó, mọi thiết chế và mục đích của dân chủ là để bảo đảm quyền và tự do của người dân.
Tuy có điểm chung này, độc lập không đồng nghĩa với tự do. Trong lịch sử và trong bối cảnh chính trị hiện đại đều chứng minh điều này. Theo báo cáo năm 2019 của tổ chức Freedom House, thì trong dân số toàn cầu hiện nay gồm 7,6 tỷ người, có 39 phần trăm sống trong tự do, 24 được tự do phần nào, và 37 không có tự do. Trong tổng số 195 quốc gia thì 44 phần trăm tự do, 30 tự do phần nào và 26 không tự do. Nghĩa là rất nhiều quốc gia được độc lập kể từ Thế chiến II đến nay nhưng vẫn chưa có tự do.

Vị kỷ của các lãnh tụ dân chủ và độc tài

Lê Minh Nguyên

Vị kỷ – vì mình, lấy mình làm trung tâm của mọi quyết định, tuỳ theo môi trường sống mà nó biến đổi giữa hai cực ích kỷ và vị tha – là một trong ba tiểu bản năng của Sinh Tồn (vị kỷ, tình dục, xã hội).

Các lãnh tụ dân chủ và độc tài đều giống nhau ở một điểm: tất cả đều vị kỷ. Nhưng, sau cái điểm giống nhau này là nó bắt đầu rẽ qua hai hướng khác nhau.

Các lãnh tụ độc tài thì bản năng vị kỷ nó chạy theo chiều ích kỷ, chỉ biết có mình, chỉ lo phục vụ sinh tồn cá nhân và gia đình mình, sẵn sàng hy sinh sự sinh tồn của dân tộc.

Khi sống họ lo tóm thu quyền lực và quyền lợi càng nhiều càng tốt, quyền lực để ép dân như ép hạt mè lấy dầu, quyền lợi để đem tài sản và gia đình ra bên ngoài Việt Nam, coi VN là một con thú để xẻ thịt, như Nguyễn Phú Trọng và các đảng viên cao cấp CSVN đang làm.

Khi chết họ làm quốc táng, lấy đất dân để xây lăng, tiêu tốn ngân sách nhà nước, thu hẹp sự sinh tồn của dân tộc, dù cho khi sống họ hạ độc lẫn nhau hay đì nhau cho chết, như Trần Đại Quang bị ép tiếp khách không ngừng nghỉ (cùng một ngày Quang bay từ Hà Nội dự APEC ở Đà Nẵng, xong bay vào Sài Gòn, chiều bay về Hà Nội tiếp tục họp). Ngày Quang chết, khoảng 10g 00 tối 20/9, Quang cũng phải cật lực làm việc và gục tại bàn họp. Trọng cho Quang chết theo quy trình, tức 10g 05 sáng ngày hôm sau 21/9.

Trọng muốn Quang chết trước ngày họp Trung ương 8 (từ 2/10 đến 6/10) để ông ta sớm thu tóm chức chủ tịch nước vào tay, nếu không phải chờ thêm 6 tháng nữa ở hội nghị TƯ9, trong khi TƯ8 cần quyết vấn đề nhân sự.

Đó là chưa kể đến việc ông Quang bị bệnh gì, tại sao bị nhiễm “virus hiếm và độc hại”như lời ông Nguyễn Quốc Triệu, Trưởng ban Bảo vệ và Chăm sóc Sức khỏe Trung ương hé lộ. Với y học tân tiến của ngày hôm nay mà Nhật, nơi ông Quang trị bệnh lại không biết “virus hiếm và độc hại” này!? Lạ thật!

Ông Đỗ Mười Nguyễn Duy Cống chết, theo một số nguồn tin riêng từ Hà Nội, cũng là theo quy trình (11g 12 tối 1/10/2018) để cho vừa buớc sang tháng 10 thay vì còn trong tháng 9, tránh trùng đại tang trong cùng một tháng. Đây là những xác chết đóng băng chờ Đảng quyết định cho khi nào được chết.

Các lãnh tụ độc tài Cộng sản (CS), họ nhân danh bảo vệ giai cấp vô sản, nhất là công nhân, nhưng thực sự là để phục vụ bản năng sinh tồn cá nhân theo chiều ích kỷ bằng cách xây dựng giai cấp cộng sản, một loại giai cấp quý tộc thời nay đứng trên Hiến pháp và luật pháp mà họ ma mị bằng từ Nhà Nước Pháp Quyền (rule By law). Quý tộc thời quân chủ chuyên chính xử theo Lễ, quý tộc CS xử theo Điều Lệ Đảng. Hình luật, trong quân chủ và CS, chỉ dành cho thứ dân.

Các lãnh tụ dân chủ thì bản năng vị kỷ nó chạy theo chiều vị tha. Trong khi không quên lấy mình làm trung tâm của mọi quyết định, họ muốn sinh tồn được trường tồn, tức các thế hệ về sau tuy không thấy họ sống nhưng thấy họ còn hiện hữu, nhắc đến họ và cảm kích các công ơn của họ vì khi sống họ biết nghĩ đến và để lại các lợi ích cho hậu sinh. Người chết chỉ thật sự chết đi khi không còn ai nhắc gì đến họ nữa.

Ngoại trưởng Mỹ William H. Seward mua Alaska từ Nga năm 1867, một lãnh thổ khổng lồ, to nhất trong 50 tiểu bang của Mỹ, có vị trí chiến lược và tài nguyên dầu khí, gỗ, hải sản vô tận, với giá $7.2 triệu đôla (khoảng $105 triệu bây giờ) cho thấy các lãnh tụ dân chủ giàu viễn kiến và năng lực xây dựng quốc gia dân tộc. Ông được nhớ tới qua một thành phố cảng có tên ông ở Alaska.

Dĩ nhiên, những kẻ ác, những kẻ bán nước cũng được nhắc đến, như những trang đen tối của lịch sử dân tộc.

Các lãnh tụ dân chủ chết đi nhưng không gây thiệt hại ngân sách nhà nước, không ngăn cấm giao thông, không lấy nhiều đất của dân, không xây đường nhanh, chớp nhoáng, phục vụ đám tang, trong khi dân nghèo qua sông bằng dây cáp hay bao ny lông. Mộ họ khiêm nhường, họ và những người yêu thương họ chung tiền xây thư viện mang tên họ. Họ vị kỷ, vì mình, nhưng vì mình bằng cách tạo lợi ích cho người khác.

Nói chung, họ phát triển bản năng vị kỷ qua ngả phục vụ và bảo vệ sức sống của dân tộc, lấy mình làm trung tâm họ hướng về phía vị tha để sinh tồn thăng tiến lên trường tồn.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn