Hiển thị các bài đăng có nhãn phẩm chất dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phẩm chất dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Người Nhật - Người Việt

Kim Văn Chinh 

Nhiều người thắc mắc tại sao người Nhật họ có thời đại Minh trị Thiên hoàng (Meiji) trong khi Việt Nam mình loay hoay thời nhà Nguyễn vẫn bế tắc trong quan hệ với phương Tây?

Rồi sau Chiến tranh Thế giới 2, nước Nhật thua trận, vậy mà họ vẫn quy phục Mỹ và vươn lên thành cường quốc kinh tế cuối TK 20? Trong khi Việt Nam ta suốt nửa cuối TK 20 vẫn loay hoay “tìm đường”, tìm mãi đến nay cũng chưa ra (chưa thuyết phục toàn dân)… 

Câu chuyện dẫn chúng ta đến sự khác biệt cơ bản giữa người Nhật và người Việt. 

Nụ cười - Đặc sản của dân tộc tôi?

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Đã lâu lắm, tôi mới được nhìn thấy một nụ cười trên mạng truyền thông xã hội - mà theo cảm nhận tức thì của nhà thơ Hoàng Xuân Họa (Hải Xuân), đó là “Gương mặt và nụ cười vô tư đến thánh thiện!”, khi bài viết về người phụ nữ làm nghề phụ hồ ở Quảng Ngãi nhặt được 150 triệu đồng chủ động tìm trả lại cho người mất vừa xuất hiện sáng nay trên nhiều trang mạng.

Nữ văn sĩ Ba Lan Blaga Dimitrova có thời khi xuống tới sân bay của Việt Nam, điều đầu tiên là bà “bắt gặp nụ cười”, nụ cười trong khói lửa chiến tranh khiến bà ngoài ấm lòng, tin tưởng ở Con người và Công lý… Đó là “Nụ cười - Đặc sản của dân tộc tôi” như một nhà thơ VN tên tuổi đã mơ ước và định danh…

Nụ cười ấy đã biến đâu mất suốt hàng chục thập kỷ qua, để thay vào đó là biết bao tiếng khóc, tiếng thét xót xa, phẫn nộ, uất hận của người dân lành bị mất đất một cách oan ức, bị cướp đoạt công lý, bị vu khống, bị đẩy tới “Bước đường cùng” như thời cụ Nguyễn Công Hoan viết cuốn sách đẫm máu và nước mắt nọ…?

Nụ cười ấy từng quen thuộc trong những cuốn sách bỏ túi “Người tốt việc tốt” được in nhiều đến độ chúng trở nên thừa thãi nhàm chán một thời, song dù sao cũng là chỉ dấu đáng tin cậy ít nhiều về tâm lý thời đại “Ra ngõ gặp anh hùng”, khi mà vận mệnh của mỗi con người đang gắn bó với vận mệnh cả dân tộc đương bị thử thách - và truyền thông chính thống một dạo đã có lý phần nào khi gắn nụ cười Võ Thị Thắng trước pháp trường vào nụ cười riêng của từng số phận. Và đám dân chúng vốn ở đâu cũng thế, đều là những “chú cừu non” dễ bảo dễ an phận, đã ào lên theo những hiệu lệnh và những vần thơ hùng tráng tựa những chiếc kèn đồng sáng choang mong tìm được một số phận mới mẻ hơn cho “kiếp người cơm vãi cơm rơi” (Tố Hữu). Nụ cười hân hoan vui sướng đến đắc thắng khi đó vừa là sản phẩm của thực tế, vừa là kết quả của “Tâm lý đám đông”… Thế rồi, những nụ cười “quả thực” tươi ròng đã nhanh chóng bị thay bằng những cái mếu xệch, những tiếng khóc tủi hờn đau đớn khi một bộ phận không nhỏ của tầng lớp “quan lại” mới đã ngang nhiên chà đạp lên lý tưởng chung, chà đạp lên quyền lợi của nhân dân để dễ dàng vơ vét cho bản thân và ngang nhiên bước vào tầng lớp “quý tộc” đỏ trên tấm thảm thấm máu, mồ hôi nước mắt và mơ ước bình dị của hàng triệu người lao động lương thiện! Giờ đây, không phải nụ cười mà là giọt nước mắt xót bỏng và tiếng khóc uất hận mới là “đặc sản” của “Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi”!

Nhân Cách “Thằng” và “Ông”

Nguyệt Quỳnh

Sông Hóa chỉ là một nhánh sông nhỏ tách ra từ sông Luộc tại địa phận An Khê; thế nhưng nó đã in dấu trong lòng người Việt từ thế hệ này sang thế hệ khác chỉ vì nó khắc ghi lời thề của một dũng tướng: “Phen này không phá xong giặc Nguyên, ta thề không trở lại khúc sông này nữa”. Con sông đã trôi đi hàng nghìn năm nhưng câu nói của Hưng Đạo Vương như còn âm vang trong cỏ cây trời nước. Ngài nói câu ấy khi voi chiến bị sa lầy ở bờ sông Hóa; ngay trước phút xuất quân đánh trận Bạch Đằng với danh tướng giặc là Ô Mã Nhi.

Làm tướng phải có khí phách của người làm tướng, trước khó khăn không hề nao núng, thế cho nên đoàn chiến thuyền của quân giặc Mông Thát lại một phen nữa tan tác trên giòng sông Bạch Đằng.

Tôi có cái bệnh (có lẽ không ít người VN cũng thế) là hoài cổ, là say mê lịch sử nên chuyện gì xảy ra trong hiện tại cũng làm mình hồi tưởng đến những chuyện ngày xưa. Nhắc lại câu chuyện trên để sẻ chia cùng người dân nghèo quê tôi những điều não lòng khi phải chứng kiến phiên xử cựu Trung Tướng Phan Văn Vĩnh, ông Tướng đã từng đoạt danh hiệu vinh dự, cao quý nhất của nước ta: “Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân”.

Nhưng trước hết, tưởng cũng cần nhắc lại phiên xử hai ông thượng tá Phan Văn Anh Vũ và Đinh Ngọc Hệ. Nếu hôm 30/7 thượng tá Đinh Ngọc Hệ đã rất thành khẩn khi khai báo trước hội đồng xét xử rằng bằng cấp đại học của ông chỉ là bằng giả, và rằng “trình độ dân trí bị cáo thấp”; thì Tướng Vĩnh cũng thành khẩn không kém :“Do trình độ hạn chế, do năng lực có hạn” và  rồi ông khóc khi được tháo còng tay.

Từ thái độ thiểu não của các cán bộ lãnh đạo trong vụ án Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng đến thái độ vụng về té ngã, quên quên, nhớ nhớ  trước tòa của tướng Vĩnh làm chúng ta không khỏi kinh hãi với cái ý nghĩ – Than ôi! Thời buổi loạn lạc mà lãnh đạo đất nước ta sao lại thế. Người được sắc phong hàm tướng của cả một lực lượng được xem là thanh kiếm, là lá chắn của Tổ quốc sao nhân cách lại thế! Không ai nỡ trách người sa cơ, nhưng nhân cách ấy mà là tướng lĩnh, là cán bộ lãnh đạo thì chúng ta là ai đây? Dân tộc ta sao lại chịu hèn kém thế này!

Tôi lại ngậm ngùi nghĩ đến lịch sử, nghĩ đến chữ “thằng” trong văn hóa dân gian VN. Người Việt ta xưng hô ai đó là “ông” để bày tỏ lòng kính trọng, và gọi bằng “thằng” những kẻ hèn hạ đáng khinh. Lịch sử ta chép rằng một trong những truyền thống của người Việt cổ là tín ngưỡng thờ cúng các vị anh hùng, thũ lĩnh. Người VN trọng cái khí phách, cái đảm lược của một tướng lĩnh trước gian nan, kính cái đức hy sinh, thờ người dám xả thân vì nước; bởi thế cho nên lại càng thêm khinh ghét những kẻ nhu nhược, lòn cúi, làm tay sai cho giặc. Thời Pháp thuộc cha ông ta có câu vè để răn con cháu:

Việt gian có lũ thằng Tường

Thằng Lộc thằng Tấn thằng Phương một bầy

Thằng Tường tức danh sĩ Tôn Thọ Tường, Thằng Lộc là Tổng đốc Trần Bá Lộc, Thằng Tấn là Lãnh binh Huỳnh Công Tấn và Thằng Phương là Tổng đốc Đỗ Hữu Phương. Tất cả bốn người trên đều là những “quan to”, thuộc hàng thượng lưu do cộng sự đắc lực và có công lớn với thực dân Pháp trong những vụ truy nã, đánh dẹp các phong trào nghĩa quân của ta. Cha ông đã liệt họ vào hạng “Thằng” để nói lên sự khinh miệt những kẻ theo giặc “cõng rắn cắn gà nhà” là vậy.

Ngày nay các quan to của nước ta đa số là quan tham; chỉ khi bị vướng vòng lao lý thì mới thành khẩn nhận rằng mình xài bằng giả, mình năng lực kém, mình “não bé” chỉ có trái tim trung thành với đảng (lời của Tướng Nguyễn Thanh Hóa). Mà đảng thì đã thần phục Trung Quốc; cho nên hễ dân đi biểu tình chống Trung Quốc là chúng mê muội, cứ y lịnh của giặc mà đánh đập người dân đến tóe máu, mà nhốt tù người dân vô tội vạ.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn