Hiển thị các bài đăng có nhãn Thoái Đảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thoái Đảng. Hiển thị tất cả bài đăng

Hơn 430 triệu người Trung Quốc thoái xuất khỏi Đảng, Đoàn, Đội

Bình Minh 

Dữ liệu của Chính phủ Trung Quốc cho thấy, tính đến ngày 31/12/2023, tổng số đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) là 99,185 triệu người, tăng ròng 1,144 triệu người so với cuối năm 2022, tăng 1,2%. Mặc dù số đảng viên tăng lên, nhưng lượng đảng viên ròng tăng thêm đã giảm trong năm thứ 2 liên tiếp, và số người Trung Quốc thoái xuất khỏi các tổ chức của ĐCSTQ như Đảng, Đoàn Đội cũng tăng lên trên 430 triệu người.

Đảng đã thất bại - Một đảng viên đoạn tuyệt với Bắc Kinh

Thái Hà

Ngọc Lan dịch

Từng là một người theo chủ nghĩa Marx nhiệt thành, tôi đã chia tay với chủ nghĩa Marx và ngày càng hướng tới tư tưởng phương Tây để tìm câu trả lời cho các vấn đề của Trung Quốc.

VNTB – Đảng đã thất bại – Một đảng viên đoạn tuyệt với Bắc Kinh

    Khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012, tôi tràn đầy hy vọng vào Trung Quốc. Là một giáo sư tại ngôi trường danh tiếng đào tạo các nhà lãnh đạo hàng đầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), tôi đủ hiểu về lịch sử để kết luận rằng đã tới lúc Trung Quốc mở cửa hệ thống chính trị. Sau một thập kỷ trì trệ, ĐCSTQ cần cải cách hơn bao giờ hết, và ông Tập Cận Bình dường như sẽ là người dẫn dắt khi có ám chỉ xu hướng thay đổi của mình.

    Đến lúc đó, tôi đang ở giữa một quá trình vật lộn với hệ tư tưởng chính thống của Trung Quốc hàng thập kỷ, ngay cả khi tôi chịu trách nhiệm truyền bá cho các quan chức Trung Quốc. Từng là một người theo chủ nghĩa Marx nhiệt thành, tôi đã chia tay với chủ nghĩa Marx và ngày càng hướng tới tư tưởng phương Tây để tìm câu trả lời cho các vấn đề của Trung Quốc.

    Từng là một người tự hào bảo vệ chính sách chính thức, tôi đã bắt đầu đưa ra trường hợp tự do hóa. Từng là một thành viên trung thành của ĐCSTQ, tôi đã ngấm ngầm nghi ngờ về sự chân thành của niềm tin và sự quan tâm của đảng đối với người dân Trung Quốc.

    Vì vậy, tôi không nên ngạc nhiên khi hóa ra ông Tập không phải là nhà cải cách. Trong suốt nhiệm kỳ của ông, chế độ này đã suy thoái sâu hơn thành một chế độ đầu sỏ chính trị cố gắng nắm giữ quyền lực thông qua sự tàn bạo và tàn nhẫn. Chế độ đó thậm chí còn trở nên đàn áp và độc tài hơn. Một sự sùng bái cá tính hiện đang bao quanh ông Tập, người đã thắt chặt sự kiềm chế của đảng đối với hệ tư tưởng và loại bỏ không gian ít ỏi dành cho phát ngôn chính trị và xã hội dân sự.

    Những người không sống ở Trung Quốc đại lục trong tám năm qua khó có thể hiểu được chế độ này đã trở nên tàn bạo như thế nào, đã gây ra bao nhiêu bi kịch lặng lẽ ra sao. Sau khi lên tiếng phản đối hệ thống, tôi biết rằng tôi không còn an toàn khi sống ở Trung Quốc.

    Nền giáo dục của một đảng viên

    Tôi sinh ra trong một gia đình quân nhân Cộng sản. Năm 1928, khi cuộc Nội chiến Trung Quốc bắt đầu, ông ngoại tôi tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Khi những người Cộng sản và những người theo chủ nghĩa Quốc gia đình chỉ chiến tranh trong Thế chiến thứ hai, cha mẹ tôi và gia đình mẹ tôi đã chiến đấu chống lại quân xâm lược Nhật Bản trong đội quân do ĐCSTQ lãnh đạo.

    Sau chiến thắng của Cộng sản, năm 1949, cuộc sống của một gia đình cách mạng như chúng tôi rất tốt. Cha tôi chỉ huy một đơn vị Quân Giải phóng Nhân dân gần Nam Kinh, còn mẹ tôi điều hành một văn phòng trong chính quyền thành phố. Cha mẹ tôi cấm hai chị tôi và tôi không được lợi dụng những đặc quyền của cơ quan họ, kẻo chúng tôi trở thành “những tiểu tư sản hư hỏng”.

    Chúng tôi không được đi trên chiếc xe của cha mình và các nhân viên bảo vệ của ông ấy không bao giờ làm việc vặt trong gia đình. Tuy nhiên, tôi vẫn được hưởng lợi từ địa vị của cha mẹ mình và không bao giờ phải chịu như nhiều người Trung Quốc đã làm vào những năm dưới quyền Mao. Tôi không biết gì về hàng chục triệu người chết đói trong thời kỳ Đại nhảy vọt.

    Tất cả những gì tôi có thể thấy là tương lai tươi sáng của chủ nghĩa xã hội. Giá sách của gia đình tôi chứa đầy những đầu sách của chủ nghĩa Mác như Tác phẩm được chọn lọc của Stalin và Đọc sách bắt buộc cho cán bộ. Khi còn là một thiếu niên, tôi đã sử dụng những cuốn sách này để đọc ngoại khóa.

    Bất cứ khi nào tôi mở chúng ra, tôi đều tràn ngập sự tôn kính. Mặc dù tôi không thể hiểu được sự phức tạp trong lập luận của họ, nhưng nhiệm vụ của tôi rất rõ ràng: Tôi phải yêu quê hương đất nước, kế thừa di sản cách mạng của cha mẹ tôi và xây dựng một xã hội cộng sản không bị bóc lột. Tôi là một tín đồ thực sự.

    Tôi hiểu biết sâu sắc hơn về tư tưởng cộng sản sau khi gia nhập Quân đội Giải phóng Nhân dân năm 1969, ở tuổi 17. Với cuộc Cách mạng Văn hóa đang diễn ra sôi nổi, Mao yêu cầu mọi người đọc sáu tác phẩm của Karl Marx và Friedrich Engels, bao gồm cả Tuyên ngôn Cộng sản.

    Một đoạn văn không tưởng trong cuốn sách đó đã để lại ấn tượng lâu dài trong tôi: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với các giai cấp và đối kháng giai cấp, chúng ta sẽ có một hiệp hội, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả”. Mặc dù tôi không thực sự hiểu khái niệm về tự do vào thời điểm đó, nhưng những từ đó cứ lởn vởn trong đầu tôi.

    Quân Giải phóng Nhân dân đã phân công tôi vào một trường quân y. Công việc của tôi là quản lý thư viện, nơi tình cờ có các bản dịch tiếng Trung của các tác phẩm “phản động”, chủ yếu là văn học phương Tây và triết học chính trị.

    Được bọc bìa màu xám để phân biệt, những cuốn sách này chỉ được giới hạn cho những người trong chính quyền với mục đích làm quen với các đối thủ về ý thức hệ của Trung Quốc, nhưng tôi cũng đã bí mật đọc chúng. Tôi ấn tượng nhất với cuốn Sự trỗi dậy và sụp đổ của Đế chế thứ ba, của nhà báo người Mỹ William Shirer, và một bộ sưu tập tiểu thuyết của Liên Xô. Tôi nhận ra rằng có một thế giới ý tưởng bên ngoài các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác. Nhưng tôi vẫn tin rằng chủ nghĩa Mác là chân lý duy nhất.

    Tôi rời quân ngũ năm 1978 và nhận công việc trong tổ chức công đoàn của một nhà máy sản xuất phân bón quốc doanh ở ngoại ô thành phố Tô Châu. Lúc đó, Mao đã chết và Cách mạng Văn hóa kết thúc. Người kế nhiệm của ông, Đặng Tiểu Bình, đang mở ra thời kỳ cải cách và mở cửa, và là một phần của nỗ lực này, ông đang tuyển dụng một thế hệ cán bộ có tư tưởng cải cách mới có thể điều hành đảng trong tương lai.

    Mỗi tổ chức đảng địa phương phải chọn một vài thành viên để phục vụ trong nhóm này, và tổ chức đảng Tô Châu đã chọn tôi. Tôi được gửi đến học một chương trình hai năm tại Trường Đảng thành phố Tô Châu, nơi tôi và các bạn học cùng nghiên cứu lý thuyết của chủ nghĩa Mác và lịch sử của ĐCSTQ. Chúng tôi cũng nhận được một số khóa đào tạo về các tác phẩm kinh điển của Trung Quốc, một môn học mà chúng tôi đã bỏ lỡ do sự gián đoạn giáo dục trong Cách mạng Văn hóa.

    Tôi đã xem qua Das Kapital hai lần và học những kiến ​​thức cơ bản của lý thuyết Mác. Điều hấp dẫn tôi nhất là những ý tưởng của Marx về lao động và giá trị - cụ thể là các nhà tư bản tích lũy của cải bằng cách tận dụng lợi thế của người lao động. Tôi cũng có ấn tượng với cách tiếp cận triết học của Marx, chủ nghĩa duy vật biện chứng, cho phép ông xem các hệ thống chính trị, luật pháp, văn hóa và đạo đức của chủ nghĩa tư bản được xây dựng trên nền tảng của sự bóc lột kinh tế.

    Khi tôi tốt nghiệp, năm 1986, tôi được mời ở lại làm giảng viên của trường, lúc đó đang thiếu biên chế. Tôi đã chấp nhận, điều này khiến một số lãnh đạo thành phố thất vọng, những người nghĩ rằng tôi có một tương lai đầy hứa hẹn trong một bộ máy của đảng. Thay vào đó, công việc mới của tôi đã khởi đầu sự nghiệp học giả trong hệ thống truyền bá tư tưởng của ĐCSTQ.

    Học sinh trở thành thầy

    Đứng đầu hệ thống đó là Trường Đảng Trung ương ở Bắc Kinh. Kể từ năm 1933, trường đã đào tạo ra nhiều thế hệ cán bộ cấp cao nhất của ĐCSTQ, những người điều hành bộ máy hành chính của Trung Quốc từ cấp thành phố trực thuộc trung ương trở lên. Trường có quan hệ mật thiết với các đảng viên ưu tú và luôn có hiệu trưởng là một ủy viên Bộ Chính trị. (Hiệu tưởng của trường từ năm 2007 đến năm 2012 không ai khác chính là Tập).

    Vào tháng 6 năm 1989, chính phủ đàn áp những người biểu tình ủng hộ dân chủ ở Quảng trường Thiên An Môn, giết chết hàng trăm người. Riêng tôi, tôi cảm thấy kinh hoàng khi Quân đội Giải phóng Nhân dân đã bắn vào sinh viên đại học, điều này trái ngược với những gì tôi đã nhận được từ thời thơ ấu rằng quân đội bảo vệ nhân dân; chỉ có bọn “ác quỷ” Nhật Bản và bọn phản động Quốc dân đảng mới giết người.

    Báo động về các cuộc biểu tình, cộng với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, lãnh đạo cao nhất của ĐCSTQ quyết định phải chống lại sự lỏng lẻo về ý thức hệ. Họ ra lệnh cho các trường đảng địa phương cử một số giáo viên của họ đến Trường Đảng Trung ương để tìm hiểu về tư duy của đảng.

    Trường tôi ở Tô Châu đã chọn tôi. Thời gian ngắn ở Trường Đảng Trung ương khiến tôi muốn học ở đó lâu hơn nữa. Sau một năm chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh, tôi được nhận vào chương trình thạc sĩ tại khoa lý thuyết của trường. Tôi tận tâm với đường lối của ĐCSTQ đến nỗi sau lưng tôi, các bạn cùng lớp gọi tôi là “Bà già Marx”. Năm 1998, tôi nhận bằng Tiến sĩ. và tham gia vào khoa của trường.

    Một số sinh viên của tôi là nghiên cứu sinh chính quy, những người đã được dạy một chương trình thông thường về lý thuyết chính trị Mác xít và lịch sử ĐCSTQ. Nhưng những người khác là các quan chức cấp trung và cấp cao của đảng, bao gồm các nhà quản lý cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương và các bộ trưởng cấp nội các. Một số sinh viên của tôi là thành viên của Ủy ban Trung ương ĐCSTQ, cơ quan của vài trăm đại biểu đứng đầu hệ thống phân cấp của đảng và phê chuẩn các quyết định lớn.

    Việc giảng dạy ở Trường Đảng Trung ương không hề dễ dàng. Máy quay video trong các lớp học đã ghi lại bài giảng của chúng tôi, sau đó được giám sát viên của chúng tôi xem lại. Chúng tôi phải làm cho chủ đề trở nên sống động đối với những sinh viên có kinh nghiệm và trình độ cao trong lớp, mà không diễn giải giáo lý quá linh hoạt hoặc thu hút sự chú ý vào những điểm yếu của nó. Thông thường, chúng tôi phải đưa ra những câu trả lời thông minh cho những câu hỏi hóc búa do các quan chức trong lớp của chúng tôi hỏi.

    Hầu hết các câu hỏi của họ đều xoay quanh những mâu thuẫn khó hiểu trong hệ tư tưởng chính thống, vốn được tạo ra để biện minh cho các chính sách trong thế giới thực do ĐCSTQ thực hiện. Các sửa đổi bổ sung vào năm 2004 trong hiến pháp của Trung Quốc nói rằng chính phủ bảo vệ nhân quyền và tài sản tư nhân.

    Nhưng còn quan điểm của Marx rằng hệ thống cộng sản nên xóa bỏ sở hữu tư nhân thì sao? Đăng Tiểu Bình muốn “để một bộ phận dân cư giàu lên trước” để tạo động lực cho mọi người và kích thích năng suất. Làm thế nào mà điều đó phải phù hợp với lời hứa của Marx rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ cung cấp cho mỗi người theo nhu cầu của ông?

    Tôi vẫn trung thành với ĐCSTQ, nhưng tôi liên tục đặt câu hỏi về niềm tin của chính mình. Vào những năm 1980, giới học thuật Trung Quốc đã tham gia vào một cuộc thảo luận sôi nổi về “chủ nghĩa nhân văn mácxít”, một dòng tư duy mác xít nhấn mạnh đến sự phát triển toàn diện của nhân cách con người.

    Một số học giả tiếp tục cuộc thảo luận đó vào những năm 1990, ngay cả khi phạm vi diễn ngôn có thể chấp nhận được thu hẹp. Tôi đã nghiên cứu Bản thảo kinh tế và triết học của Marx năm 1844, trong đó nói rằng mục đích của chủ nghĩa xã hội là giải phóng cá nhân. Tôi đồng quan điểm với các triết gia mácxít nhấn mạnh đến tự do - trên hết là Antonio Gramsci và Herbert Marcuse.

    Ngay trong luận văn thạc sĩ của tôi, tôi đã chỉ trích ý tưởng rằng mọi người nên luôn hy sinh lợi ích cá nhân của mình để phục vụ đảng. Trong luận văn Tiến sĩ, tôi đã thách thức khẩu hiệu cổ đại của Trung Quốc “nước giàu, quân mạnh” bằng cách cho rằng Trung Quốc sẽ mạnh chỉ khi đảng cho phép công dân của mình thịnh vượng.

    Bây giờ, tôi đã tiến xa hơn lập luận này một bước. Trong các bài báo và các cuộc nói chuyện, tôi gợi ý rằng các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn quá thống trị trong nền kinh tế Trung Quốc và cần phải cải cách hơn nữa để cho phép các công ty tư nhân cạnh tranh. Tôi nhấn mạnh, tham nhũng không nên được coi là sự suy đồi đạo đức của cá nhân cán bộ mà là một vấn đề mang tính hệ thống do sự kìm kẹp của chính phủ đối với nền kinh tế.

    Lý thuyết và thực hành

    Suy nghĩ của tôi tình cờ phù hợp với suy nghĩ của Giang Trạch Dân, người kế nhiệm Đặng Tiểu Bình. Quyết tâm phát triển nền kinh tế Trung Quốc, Giang đã tìm cách kích thích doanh nghiệp tư nhân và đưa Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Nhưng những chính sách này mâu thuẫn với lý thuyết lâu nay của ĐCSTQ về nền kinh tế kế hoạch và khả năng tự cung tự cấp của quốc gia. Vì hệ tư tưởng của cả Marx, Mao và Đặng đều không thể giải quyết những mâu thuẫn này, Giang cảm thấy buộc phải nghĩ ra một cái gì đó mới. Ông ấy gọi nó là “Tam Đại”.

    Lần đầu tiên tôi nghe về lý thuyết mới này khi những người khác đã nghe. Vào tối ngày 25 tháng 2 năm 2000, tôi xem Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) phát một phóng sự về Tam đại. Giang nói, đảng này phải đại diện cho ba khía cạnh của Trung Quốc: “yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất tiên tiến”, tiến bộ văn hóa và lợi ích của đa số. Là một giáo sư tại Trường Đảng Trung ương, tôi ngay lập tức hiểu rằng lý thuyết này cho thấy một sự thay đổi đáng kể trong hệ tư tưởng của ĐCSTQ.

    Đặc biệt, điều đầu tiên trong số Ba đại diện ngụ ý rằng Giang đang từ bỏ niềm tin cốt lõi của chủ nghĩa Mác rằng các nhà tư bản là một nhóm xã hội bóc lột. Thay vào đó, Giang đã mở đảng cho hàng ngũ của họ - một quyết định mà tôi hoan nghênh.

    Ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan phụ trách công tác tư tưởng của ĐCSTQ, chịu trách nhiệm quảng bá lý thuyết mới của Giang, nhưng họ gặp phải một vấn đề: Tam Đại đã bị tấn công từ phe cực tả, vốn cho rằng Giang đã đi quá xa trong việc ve vãn các doanh nhân.

    Với hy vọng che đậy cuộc tranh chấp này, Ban Tuyên giáo đã chọn cách hạ thấp lý thuyết. Nhân dân Nhật báo đã xuất bản một bài báo dài cả trang chứng minh tính đúng đắn của Tam Đại với các tham chiếu chéo đến các văn bản của Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao và Đặng.

    Tôi thấy điều này không thuyết phục. Mục đích của Tam Đại là gì nếu nó chỉ đơn thuần là khôi phục lại hệ tư tưởng hiện có? Tôi ghê tởm những phương pháp hời hợt của bộ máy công quyền của đảng. Tôi quyết tâm tiết lộ ý nghĩa thực sự của Tam Đại, một lý thuyết trên thực tế đã đánh dấu một sự ra đi táo bạo đối với Trung Quốc. Hóa ra điều này sẽ khiến tôi xung đột với bộ máy quan liêu cố thủ của ĐCSTQ.

    Giới tinh hoa chưa được biết đến

    Cơ hội để nâng cao hiểu biết đúng đắn của tôi về Tam Đại đến vào đầu năm 2001, khi CCTV, nghe được từ một đồng nghiệp rằng tôi đặc biệt quan tâm đến lý thuyết mới của Giang, mời tôi viết một chương trình truyền hình về điều này.

    Tôi đã dành sáu tháng để nghiên cứu và viết bộ phim tài liệu cũng như thảo luận với các nhà sản xuất . Kịch bản của tôi nhấn mạnh sự cần thiết của các chính sách mới sáng tạo để đáp ứng những thách thức của kỷ nguyên mới. Tôi nhấn mạnh những điều tương tự mà Giang đã làm: rằng chính phủ bây giờ sẽ giảm can thiệp vào nền kinh tế và vai trò của đảng không còn là thực hiện cuộc cách mạng bạo lực chống lại các nhà tư bản bóc lột nữa - thay vào đó là khuyến khích việc tạo ra của cải và cân bằng lợi ích của các nhóm khác nhau trong xã hội.

    Vào chiều ngày 16 tháng 6, bốn phó chủ tịch cấp cao của CCTV đã tập trung tại một trường quay trong trụ sở chính của mạng để xem lại ba tập phim dài 30 phút. Khi họ xem nó, khuôn mặt của họ tối sầm lại. “Hãy dừng lại ở đây”, một người trong số họ nói khi tập đầu tiên kết thúc.

    “Giáo sư Cai, giáo sư có biết tại sao giáo sư được mời sản xuất một chương trình về Tam Đại không?” Ông ấy hỏi.

    “Đảng đã đưa ra một lý thuyết ý thức hệ mới, và chúng tôi cần phải công bố nó”, tôi trả lời.

    Vị quan chức này không bị lay chuyển. “Nghiên cứu và đổi mới của giáo sư có thể được trình chiếu tại Trường Đảng Trung ương, nhưng chỉ những gì an toàn nhất mới được chiếu trên TV”, ông nói. Tại thời điểm đó, không ai chắc chắn Tam Đại rốt cuộc sẽ được hiểu nghĩa là gì và ông ấy lo lắng rằng kịch bản của tôi có thể lạc hậu với quan điểm của Ban Tuyên giáo. “Nếu có bất kỳ sự khác biệt nào, tác động sẽ quá lớn”.

    Một người quản lý đài truyền hình khác nói: “Năm nay là kỷ niệm 80 năm Đảng Cộng sản Trung Quốc!” ông ta thốt lên. Một lễ kỷ niệm như vậy không đòi hỏi một cuộc thảo luận về những thách thức mà đảng phải đối mặt mà là một lễ kỷ niệm hào hùng về những chiến thắng của đảng. Ngay lúc đó, tôi đã hiểu. Những người CCTV không quan tâm đến hàm ý thực sự của hệ tư tưởng. Họ chỉ muốn làm cho bữa tiệc có vẻ đẹp và làm hài lòng cấp trên của họ.

    Trong mười ngày tiếp theo, chúng tôi cố gắng làm lại bộ phim tài liệu. Chúng tôi đã chỉnh sửa những từ và cụm từ có khả năng xúc phạm, làm việc cả ngày lẫn đêm khi kịch bản của tôi trải qua một số cuộc đánh giá chính trị của các nhóm từ khắp cơ quan đảng. Cuối cùng, một tá quan chức đã đến để xem xét lại lần cuối, trong đó tôi càng biết thêm nhiều điều về thói đạo đức giả của đảng.

    Có lúc, một thành viên cấp cao của ủy ban kiểm duyệt đã lên tiếng. Trong tập thứ hai của chương trình, tôi đã trích dẫn hai câu nói nổi tiếng của Đặng, những câu nói này thường được kết hợp với nhau: “Nghèo đói không phải là chủ nghĩa xã hội; sự phát triển là sự thật trần trụi”.

    “Nghèo đói không phải là chủ nghĩa xã hội?” quan chức nghi ngờ hỏi. “Vậy chủ nghĩa xã hội là gì?” Lời phê bình của ông tiếp tục, ngày càng lớn hơn. “Và sự phát triển là sự thật trần trụi? Hai câu đó có quan hệ với nhau như thế nào? Nói tôi nghe xem!”

    Tôi chết lặng. Đây là những lời chính xác của Đặng, và quan chức cấp cao này - người đứng đầu Cục Quản lý Nhà nước về Phát thanh, Điện ảnh và Truyền hình, cơ quan quyền lực giám sát tất cả các phương tiện truyền thông - không biết điều đó sao? Tôi nghĩ ngay đến lời chỉ trích của Mao đối với các quan chức trong Cách mạng Văn hóa: “Họ không đọc sách và không đọc báo”.

    Ý tưởng trống rỗng

    Trong suốt năm 2001, như một phần trong nỗ lực thúc đẩy lý thuyết của Giang, Ban Tuyên giáo đã bắt đầu làm đề cương nghiên cứu về Tam đại, một bản tóm tắt sẽ được phát hành như một tài liệu của Ủy ban Trung ương để toàn đảng đọc và thực hiện. Có lẽ bởi vì tôi đã từng làm việc trong chương trình CCTV và đã có bài phát biểu về Tam Đại tại một hội nghị học thuật, nên tôi đã được yêu cầu giúp đỡ.

    Cùng với một học giả khác và 18 quan chức tuyên giáo, tôi được cử đến trung tâm đào tạo của Ban Tuyên giáo gần chân đồi phía tây Bắc Kinh. Bộ đã giải quyết một khuôn khổ chung cho đề cương, và bây giờ họ yêu cầu chúng tôi điền nội dung vào bộ khung. Nhiệm vụ của tôi là viết phần xây dựng đảng.

    Soạn thảo các tài liệu cho Ủy ban Trung ương là một quá trình tuyệt mật. Tôi và các đồng nghiệp bị cấm ra khỏi cơ sở hoặc tiếp khách. Khi Ban Tuyên giáo triệu tập cuộc họp, những người không được mời không được phép hỏi về việc đó. Những người soạn thảo chúng tôi có thể đi ăn và đi dạo cùng nhau, nhưng chúng tôi bị cấm thảo luận về tác phẩm của mình. Tôi là người phụ nữ duy nhất trong nhóm.

    Vào bữa tối, những người đàn ông nói chuyện phiếm và đùa cợt. Tôi thấy cuộc trò chuyện không hấp dẫn, đầy mùi rượu thô tục và sẽ luôn tắt ngúm sau một vài miếng ăn. Cuối cùng, một người tham gia khác đã kéo tôi sang một bên. Anh ấy giải thích, nói về việc kinh doanh chính thức sẽ chỉ khiến chúng tôi gặp rắc rối; an toàn và thú vị hơn khi giới hạn cuộc trò chuyện trong phạm vi tình dục.

    Giúp làm đề cương học tập là bài tập viết quan trọng nhất trong cuộc đời tôi, nhưng cũng là chuyện nực cười nhất. Công việc của tôi là đọc qua một đống tài liệu liệt kê những suy nghĩ của Giang, bao gồm các bài phát biểu và bài báo bí mật lưu hành nội bộ của đảng.

    Sau đó, tôi sẽ trích xuất các trích dẫn có liên quan và đặt chúng dưới các tiêu đề phụ khác nhau, chú thích nguồn. Tôi không thể thêm hoặc bớt văn bản, nhưng tôi có thể thay đổi dấu chấm thành dấu phẩy và nối một trích dẫn này với một trích dẫn khác.

    Tôi rất ngạc nhiên rằng lời giải thích chính thức về một trong những chiến dịch tư tưởng quan trọng nhất của đảng trong thời kỳ hậu Mao sẽ chỉ hơn một công việc cắt và dán chút đỉnh.

    Bởi vì nhiệm vụ quá dễ dàng, tôi đã dành rất nhiều thời gian trong sự chán nản chờ đợi công việc của mình được kiểm tra lại. Một ngày nọ, tôi nghe thấy một người tham gia khác, một giáo sư từ Đại học Renmin Trung Quốc. “Chẳng phải chúng ta vừa tạo một phiên bản khác của các Trích dẫn từ Mao Chủ tịch sao?” Tôi hỏi, đề cập đến Little Red Book, một tập sách bỏ túi những câu cách ngôn ngoại ngữ được lưu hành trong Cách mạng Văn hóa. Anh nhìn quanh và cười nhạt. “Đừng lo lắng về điều đó”, anh ấy nói với tôi. “Chúng tôi đang ở một vị trí tuyệt đẹp với đồ ăn ngon và những chuyến đi dạo thoải mái. Còn nơi nào chúng ta có thể dưỡng bệnh thoải mái như vậy? Chỉ cần đi tìm một cuốn sách để đọc. Quan trọng là cô ở đây khi họ gọi cô đi họp. ”

    Vào tháng 6 năm 2003, một cuộc họp báo cấp cao đã được tổ chức tại Đại lễ đường Nhân dân, ở Bắc Kinh, để công bố đề cương nghiên cứu, và tất cả chúng tôi, những người đã giúp viết đều được tham dự. Lưu Vân Sơn, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo trình bày báo cáo. Khi ông ấy và các quan chức khác bước lên sân khấu, tôi cảm thấy một cảm giác chìm đắm.

    Sự hiểu biết của tôi về Tam Đai như một trục quan trọng trong hệ tư tưởng của đảng cầm quyền đã bị loại bỏ hoàn toàn khỏi tài liệu và được thay thế bằng bài viết nhạt nhẽo. Nhớ lại cảnh nói chuyện phiếm xung quanh bàn ăn mỗi tối, lần đầu tiên tôi cảm thấy cái hệ thống mà bấy lâu nay tôi coi là thiêng liêng thực ra lại vô lý đến mức không thể chịu nổi.

    Ý tưởng kinh doanh

    Kinh nghiệm của tôi với đề cương nghiên cứu đã dạy tôi rằng những ý tưởng mà đảng đã quảng bá thần thánh thực chất là những công cụ tự phục vụ được sử dụng để đánh lừa người dân Trung Quốc. Tôi sớm biết rằng chúng cũng là một cách kiếm tiền. Một quan chức mà tôi biết tại Tổng cục Báo chí và Xuất bản, cơ quan kiểm soát quyền xuất bản sách và tạp chí, đã nói với tôi về một tình tiết đáng lo ngại liên quan đến cuộc chiến tranh giành doanh thu xuất bản trong ĐCSTQ.

    Trong nhiều năm, Nhà xuất bản Cờ Đỏ là một trong ba tổ chức chịu trách nhiệm xuất bản sách giáo dục của đảng. Vào năm 2005, trong quá trình xuất bản một cuốn sách thông thường thì một quan chức của Ban Tổ chức Trung ương, cơ quan quyền lực phụ trách các quyết định về nhân sự của ĐCSTQ, đã vào cuộc để khẳng định rằng chỉ có bộ của ông ta mới có quyền xuất bản một quyển sách. Ông đã cố gắng yêu cầu Tổng cục Báo chí và Xuất bản không cho cuốn sách được xuất bản. Nhưng công việc chính của Nhà xuất bản Cờ Đỏ chính xác là xuất bản các tác phẩm về hệ tư tưởng. Để thoát khỏi điều này, cơ quan này đã hiệu đính cuốn sách với hy vọng tìm ra các vấn đề có thể biện minh cho việc cấm xuất bản sách - nhưng thật khó xử, khi họ không có bằng chứng nào.

    Tại sao Ban Tổ chức lại muốn độc quyền về xuất bản? Tất cả đều quy về tiền bạc. Nhiều bộ phận có các quỹ ngầm dành cho việc hưởng thụ xa hoa của các quan chức cấp cao và được chia cho các nhân viên dưới dạng “trợ cấp phúc lợi”. Cách dễ nhất để bổ sung số tiền đó là xuất bản sách.

    Vào thời điểm đó, ĐCSTQ có hơn 3,6 triệu tổ chức cơ sở, mỗi tổ chức sẽ mua một ấn phẩm mới. Nếu cuốn sách được định giá 10 nhân dân tệ mỗi bản, điều đó có nghĩa là doanh thu bán hàng tối thiểu là 36 triệu nhân dân tệ - tương đương hơn 5 triệu đô la ngày nay. Vì số tiền đó đến từ ngân sách của các chi bộ đảng, nên kế hoạch này về cơ bản là buộc một tổ chức công này chuyển tiền cho tổ chức khác.

    Không có gì lạ khi Phòng Tổ chức thúc đẩy một chủ đề giáo dục chính trị mới mỗi năm. Và không có gì lạ khi hầu hết mọi tổ chức trong ĐCSTQ đều có chi nhánh xuất bản. Với gần như mọi đơn vị đều phát minh ra những cách thức mới để kiếm tiền, tham nhũng công khai đã ngấm sâu vào chế độ.

    Bất chấp sự thất vọng ngày càng tăng của tôi, tôi không hoàn toàn từ bỏ đảng. Cùng với nhiều học giả đảng viên khác, tôi vẫn hy vọng rằng ĐCSTQ có thể tiếp nhận cải cách và đi theo hướng của một số hình thức dân chủ. Trong những năm cuối của thời kỳ Giang Trạch Dân, đảng bắt đầu chấp nhận thảo luận tương đối thoải mái về các vấn đề nhạy cảm trong đảng, miễn là các cuộc thảo luận không bao giờ diễn ra công khai.

    Tại Trường Đảng Trung ương, tôi và các giáo sư đồng nghiệp thoải mái nêu ra những vấn đề sâu xa với hệ thống chính trị của Trung Quốc. Chúng tôi đã nói về việc giảm bớt vai trò của các quan chức đảng trong việc quyết định các vấn đề hành chính, những vẫn đề này phải do các quan chức chính phủ xử lý là tốt nhất. Chúng tôi đã thảo luận về ý tưởng độc lập tư pháp, vốn đã được ghi vào hiến pháp nhưng chưa bao giờ thực sự được thực thi.

    Chúng tôi rất vui, thực tế đảng đang thử nghiệm dân chủ, cả trong hoạt động của đảng và trong xã hội ở cấp cơ sở. Tôi thấy tất cả những điều này là những dấu hiệu đầy hy vọng của sự tiến bộ. Nhưng những sự kiện tiếp theo sẽ chỉ củng cố sự vỡ mộng của tôi.

    Cách thức khác

    Một bước ngoặt quan trọng đến vào năm 2008, khi tôi có một chuyến đi ngắn ngủi nhưng định mệnh đến Tây Ban Nha. Trong khuôn khổ chương trình trao đổi học thuật, tôi biết được cách Tây Ban Nha đã chuyển đổi từ chế độ chuyên quyền sang dân chủ sau cái chết của nhà độc tài Francisco Franco vào năm 1975. Tôi không thể không so sánh kinh nghiệm của Tây Ban Nha với Trung Quốc. Mao qua đời chỉ mười tháng sau Franco, và cả hai quốc gia đều trải qua những thay đổi to lớn trong ba thập kỷ sau đó. Nhưng trong khi Tây Ban Nha thực hiện bước nhảy vọt lên dân chủ một cách nhanh chóng và hòa bình, đạt được sự ổn định xã hội và thịnh vượng về kinh tế, thì Trung Quốc chỉ chuyển đổi được một phần, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế hỗn hợp mà không tự do hóa nền chính trị. Trung Quốc có thể học gì được từ Tây Ban Nha?

    Tôi đã đi đến kết luận bi quan rằng ĐCSTQ không có khả năng cải cách chính trị.

    Thứ nhất, quá trình chuyển đổi của Tây Ban Nha được khởi xướng bởi các lực lượng cải cách trong chế độ hậu Franco, chẳng hạn như Vua Juan Carlos I, người đã đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân của họ. ĐCSTQ, lên nắm quyền vào năm 1949 thông qua bạo lực, đã bị gắn chặt với ý tưởng rằng họ đã giành được độc quyền vĩnh viễn về quyền lực chính trị.

    Thành tích của đảng, đặc biệt là chiến dịch đàn áp các cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn, chứng tỏ rằng họ sẽ không từ bỏ độc quyền đó một cách hòa bình. Và không một nhà lãnh đạo nào thời hậu Đặng Tiểu Bình có can đảm thúc đẩy cải cách chính trị; họ chỉ đơn giản muốn chuyển trách nhiệm sang cho các nhà lãnh đạo tương lai.

    Tôi cũng được biết rằng sau cái chết của Franco, Tây Ban Nha đã nhanh chóng tạo ra một môi trường thuận lợi để cải cách, củng cố độc lập tư pháp và mở rộng quyền tự do báo chí. Họ thậm chí còn kết hợp các lực lượng đối lập vào quá trình chuyển đổi. Ngược lại, ĐCSTQ đã xem các nhu cầu xã hội và công bằng kinh tế là những mối đe dọa đối với quyền lực của ĐCS, đàn áp xã hội dân sự và hạn chế quyền tự do của mọi người. Chế độ và người dân đã ở trong thế đối đầu trong nhiều thập kỷ, khiến cho việc hòa giải trở nên không thể tưởng tượng được.

    Những hiểu biết mới có được của tôi về quá trình chuyển đổi dân chủ ở Tây Ban Nha, cùng với những gì tôi đã biết trong khối Liên Xô cũ, đã khiến tôi cơ bản từ chối hệ tư tưởng Mác xít mà tôi từng có niềm tin không thể lay chuyển. Tôi nhận ra rằng những lý thuyết mà Marx đưa ra trong thế kỷ 19 bị giới hạn bởi trí tuệ của chính ông và hoàn cảnh lịch sử của thời đại ông.

    Hơn nữa, tôi thấy rằng phiên bản tập trung cao độ, áp bức của chủ nghĩa Mác do ĐCSTQ quảng bá có giống với Stalin nhiều hơn là Marx. Tôi ngày càng nhận ra đó là một hệ tư tưởng được hình thành để phục vụ một chế độ độc tài tư lợi. Tôi bắt đầu gợi ý trong các ấn phẩm và bài giảng rằng không nên tôn thờ chủ nghĩa Mác như một chân lý tuyệt đối, và Trung Quốc phải bắt đầu hành trình đi đến dân chủ. Năm 2010, khi một số học giả theo chủ nghĩa tự do xuất bản một tập đã chỉnh sửa có tên Hướng tới Chủ nghĩa Hợp hiến, tôi đã đóng góp một bài báo nói về kinh nghiệm của người Tây Ban Nha.

    Tầm nhìn của tôi - được chia sẻ với các học giả tự do khác - là Trung Quốc sẽ bắt đầu bằng cách thực hiện dân chủ trong đảng, về lâu dài, sẽ dẫn đến một nền dân chủ hợp hiến. Trung Quốc sẽ có một quốc hội, thậm chí là một đảng đối lập thực sự. Trong thâm tâm, tôi lo lắng rằng ĐCSTQ có thể chống lại quá trình chuyển đổi như vậy một cách thô bạo, nhưng tôi vẫn giữ ý nghĩ đó cho riêng mình.

    Thay vào đó, khi nói chuyện với các đồng nghiệp và sinh viên, tôi lập luận rằng sự chuyển đổi như vậy sẽ tốt cho Trung Quốc và thậm chí cho chính đảng để có thể củng cố tính hợp pháp của mình bằng cách có trách nhiệm hơn với người dân. Nhiều quan chức tôi từng dạy thừa nhận rằng đảng phải đối mặt với những vấn đề đó, nhưng bản thân họ không thể nói như vậy. Thay vào đó, họ thận trọng thúc giục tôi thuyết phục cấp trên.

    Thất vọng về Tập

    Vấn đề là vào thời điểm đó, người kế nhiệm của Giang, Hồ Cẩm Đào, đang đi theo hướng ngược lại. Năm 2003, khi đang trong quá trình tiếp quản quyền lực, Hồ Cẩm Đào đã đưa ra “Triển vọng Khoa học về Phát triển”, khái niệm thay thế cho Tam Đại của Giang Trạch Dân. Khái niệm này là một nỗ lực khác nhằm biện minh cho mô hình phát triển hỗn hợp của Trung Quốc với lớp vỏ mỏng manh của hệ tư tưởng mang âm hưởng Mác xít, và né tránh được những câu hỏi lớn mà Trung Quốc phải đối mặt.

    Sự phát triển chóng mặt của Trung Quốc đã tạo ra xung đột xã hội khi đất đai của nông dân bị thu hồi để phát triển và các nhà máy siết chặt công nhân để kiếm thêm lợi nhuận. Số lượng người khiếu kiện đòi chính phủ giải quyết tăng đáng kể, và trên toàn quốc, các cuộc biểu tình cuối cùng đã vượt quá 100.000 lượt mỗi năm.

    Đối với tôi, sự bất bình cho thấy Trung Quốc ngày càng khó phát triển kinh tế mà không tự do hóa nền chính trị. Hồ Cẩm Đào lại nghĩ khác. Ông ta nói: “Đừng làm rối tung mọi thứ vào năm 2008, tại một buổi lễ kỷ niệm 30 năm chính sách cải cách và mở cửa. Tôi hiểu điều này có nghĩa là những cải cách về kinh tế, chính trị và hệ tư tưởng mà đảng đã thực hiện cho đến nay nên được duy trì nhưng không được đẩy mạnh. Hồ Cẳm Đào đang tự bảo vệ mình trước những cáo buộc từ cả hai phía: từ những người bảo thủ nghĩ rằng cải cách đã đi quá xa và từ những người theo chủ nghĩa tự do nghĩ rằng nó chưa đi đủ xa. Vì vậy, Trung Quốc, dưới sự giám sát của ông, bước vào thời kỳ trì trệ chính trị, một sự suy giảm tương tự như những gì Liên Xô đã trải qua dưới thời Leonid Brezhnev.

    Vì vậy, với sự lạc quan, tôi trông chờ vào Tập Cận Bình khi biết rõ rằng ông ấy sẽ nắm quyền. Những cải cách dễ dàng đều đã được thực hiện cách đây 30 năm; bây giờ là thời gian cho những cải cách khó khăn. Với danh tiếng của cha Tập Cận Bình là một cựu lãnh đạo ĐCSTQ với khuynh hướng tự do và phong cách linh hoạt mà chính ông Tập đã thể hiện trong các chức vụ trước đây, tôi và những người ủng hộ cải cách khác hy vọng rằng nhà lãnh đạo mới của chúng ta sẽ có can đảm để thực hiện những thay đổi táo bạo đối với hệ thống chính trị Trung Quốc. Nhưng không phải ai cũng đặt niềm tin vào ông Tập như vậy. Những người hoài nghi mà tôi biết thuộc hai loại. Cả hai đều được chứng minh là đã biết trước.

    Nhóm đầu tiên bao gồm các thái tử đỏ - hậu duệ của những người sáng lập đảng. Ông Tập là một thái tử đỏ, cũng như Bạc Hy Lai, bí thư năng động của Trùng Khánh. Ông Tập và ông Tập gần như cùng lúc lên các chức vụ cấp tỉnh và cấp bộ trưởng, và cả hai đều được cho là sẽ tham gia vào cơ quan cao nhất của ĐCSTQ, Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, và được coi là những ứng cử viên hàng đầu để lãnh đạo Trung Quốc.

    Nhưng Bạc Lai Hy đã bị loại khỏi cuộc cạnh tranh lãnh đạo vào đầu năm 2012, khi dính líu đến vụ giết hại một doanh nhân người Anh của vợ ông ta, và các chính khách cấp cao trong đảng đã ủng hộ ông Tập an toàn và ổn định. Các thủ lĩnh mà tôi biết, quen thuộc với sự tàn nhẫn của ông Tập, đã dự đoán rằng sự cạnh tranh sẽ không kết thúc ở đó. Thật vậy, sau khi ông Tập nắm quyền, ông Bạc Lai Hy bị kết tội tham nhũng, bị tước hết tài sản và bị kết án tù chung thân.

    Nhóm những người hoài nghi khác bao gồm các học giả. Hơn một tháng trước Đại hội Đảng lần thứ 18 vào tháng 11 năm 2012, khi ông Tập chính thức được công bố làm tổng bí thư mới của ĐCSTQ, tôi đã trò chuyện với một phóng viên kỳ cựu của một tạp chí lớn của Trung Quốc và một giáo sư hàng đầu tại trường tôi, người đã quan sát sự nghiệp của ông Tập. trong một khoảng thời gian dài. Hai người này vừa kết thúc một cuộc phỏng vấn, và trước khi rời đi, phóng viên đã đặt ra một câu hỏi: “Tôi nghe nói rằng Tập Cận Bình đã sống trong khuôn viên Trường Đảng Trung ương một thời gian. Bây giờ ông ấy sắp trở thành tổng bí thư đảng. Ông nghĩ gì về anh ta?” Vị giáo sư nhếch mép và ông ta nói với vẻ khinh bỉ rằng Tập Cận Bình từng có “kiến thức không đầy đủ”. Phóng viên và tôi đã rất sửng sốt trước cách tuyên bố thẳng thừng này.

    Bất chấp những quan điểm tiêu cực này, tôi sẵn sàng không tin tưởng và đặt hy vọng vào Tập. Nhưng ngay sau khi ông Tập thăng tiến, tôi bắt đầu nghi ngờ. Một bài phát biểu vào tháng 12 năm 2012 mà ông đã đưa ra gợi ý một tinh thần cải cách và tiến bộ, nhưng các tuyên bố khác ám chỉ sự quay ngược lại thời kỳ trước cải cách. Ông Tập đi sang trái hay phải? Tôi vừa nghỉ việc ở Trường Đảng Trung ương, nhưng tôi vẫn giữ liên lạc với các đồng nghiệp cũ.

    Một lần khi tôi nói chuyện với một số người trong số họ về kế hoạch của ông Tập, một người trong số họ nói, “Không phải là vấn đề liệu ông Tập đi bên trái hay bên phải mà là ông ấy thiếu khả năng phán đoán cơ bản và nói một cách phi logic”. Mọi người im lặng. Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Với những khiếm khuyết như thế này, làm sao chúng ta có thể mong đợi ông lãnh đạo một cuộc đấu tranh cải cách chính trị?

    Tôi sớm kết luận rằng chúng tôi có thể không thể có cải cách. Sau khi ông Tập công bố kế hoạch cải cách toàn diện của mình vào cuối năm 2013, giới kinh doanh và học thuật đã hào hứng dự đoán rằng ông sẽ thúc đẩy những cải cách lớn. Cảm giác của tôi hoàn toàn ngược lại. Kế hoạch đã né tránh tất cả các vấn đề then chốt của cải cách chính trị.

    Các vấn đề lâu dài của Trung Quốc về tham nhũng, nợ nần chồng chất và các doanh nghiệp nhà nước không sinh lời bắt nguồn từ việc các quan chức đảng có quyền can thiệp vào các quyết định kinh tế mà không có sự giám sát của công chúng. Cố gắng tự do hóa nền kinh tế trong khi thắt chặt kiểm soát chính trị là điều mâu thuẫn. Tuy nhiên, ông Tập đã phát động chiến dịch ý thức hệ lớn nhất kể từ khi Mao qua đời để phục hồi sự thống trị của chủ nghĩa Mao.

    Kế hoạch của Tận nhằm kêu gọi tăng cường giám sát xã hội và kiểm soát tự do ngôn luận. Lệnh cấm đối với bất kỳ cuộc thảo luận nào về nền dân chủ hợp hiến và các giá trị phổ quát đã được quảng bá một cách đáng xấu hổ dưới biểu ngữ “quản trị, quản lý, dịch vụ và luật pháp”.

    Xu hướng này tiếp tục với một gói cải cách pháp lý được thông qua vào năm 2014, điều này càng cho thấy ý định của đảng trong việc sử dụng luật như một công cụ để duy trì chế độ độc tài toàn trị. Tại thời điểm này, khuynh hướng ngang ngược của Tập và sự thoái trào chính trị của ĐCSTQ đã rõ ràng.

    Nếu tôi từng có một hy vọng mơ hồ vào Tập và đảng thì giờ đây những ảo tưởng của tôi đã tan tành. Các sự kiện tiếp theo sẽ chỉ khẳng định rằng khi nói đến cải cách, ông Tập đã đưa Trung Quốc từ trì trệ đến thoái trào. Trong năm 2015, đảng đã có hàng trăm luật sư bào chữa. Năm tiếp sau đó, Trung Quốc phát động một chiến dịch kiểu Cách mạng Văn hóa để chống lại một ông trùm bất động sản thẳng thắn. Chính phản ứng của tôi với tình tiết đó đã khiến tôi gặp rắc rối lớn.

    Giọt nước tràn ly

    Tài phiệt Nhậm Chí Cường ngày càng mâu thuẫn với ông Tập ông Nhậm chỉ trích Tập vì kiểm duyệt truyền thông Trung Quốc. Vào tháng 2 năm 2016, một trang web của ĐCSTQ đã gọi Nhậm là “chống đảng”.

    Cá nhân tôi không biết Ren, nhưng trường hợp của ông ấy khiến tôi đặc biệt lo lắng vì từ lâu tôi đã dựa vào nguyên tắc rằng trong ĐCSTQ, chúng tôi được phép - thậm chí được khuyến khích - tự do nói để giúp đảng sửa chữa những sai lầm của chính mình. Đây là một đảng viên kỳ cựu đã bị bôi đen vì làm điều đó.

    Trải qua cuộc Cách mạng Văn hóa, tôi biết rằng những người bị gắn mác “chống đảng” đã bị tước đoạt quyền lợi và bị đàn áp khắc nghiệt. Vì bài bảo vệ ông Nhậm không bao giờ có thể được công bố trên các phương tiện truyền thông bị kiểm duyệt, tôi đã viết một bài và gửi nó đến một nhóm WeChat, hy vọng bạn bè của tôi sẽ chia sẻ bài với những người liên hệ của họ. Bài báo của tôi đã lan truyền dữ dội.

    Mặc dù hầu hết bài viết của tôi chỉ trích dẫn hiến pháp và quy tắc ứng xử của đảng, nhưng ủy ban kỷ luật của Trường Đảng Trung ương đã buộc tội tôi phạm những sai sót nghiêm trọng. Tôi đã phải đối mặt với một loạt các cuộc phỏng vấn đáng sợ, trong đó những người thẩm vấn tôi áp dụng sức ép tâm lý và đặt bẫy ngôn từ để cố gắng gây ra lời thú nhận sai về hành vi sai trái.

    Điều đó không thoải mái, nhưng tôi nhận ra quá trình này như một cuộc thi tâm lý. Tôi nhận ra rằng nếu tôi không tỏ ra sợ hãi, họ sẽ thua một nửa trận chiến. Và thế là một so kè diễn ra sau đó: Tôi tiếp tục xuất bản, và các nhà chức trách liên tục gọi tôi đến để thẩm vấn.

    Chẳng bao lâu, tôi kết luận rằng các cơ quan an ninh đang nghe lén điện thoại của tôi, đọc thư từ kỹ thuật số của tôi và theo dõi tôi để xem tôi đã đi đâu và gặp ai. Các giáo sư đã nghỉ hưu từ Trường Đảng Trung ương thường cần phải được nhà trường cho phép để đi du lịch Hồng Kông hoặc nước ngoài, nhưng bây giờ nhà trường ám chỉ rằng tôi phải làm rõ những chuyến đi như vậy với Bộ An ninh Nhà nước trong tương lai.

    Vào tháng 4 năm 2016, nội dung bài phát biểu mà tôi đã thuyết trình vài tháng trước đó tại Đại học Thanh Hoa đã được xuất bản trên một trang web có ảnh hưởng ở Hồng Kông. Trong bài phát biểu đó tôi lập luận rằng nếu hệ tư tưởng vi phạm lẽ thường, nó sẽ trở nên dối trá -. Thời điểm xuất bản không phù hợp: ông Tập vừa thông báo rằng một số đòi hỏi tự do tại Trường Đảng Trung ương đã đi quá xa và yêu cầu sự giám sát chặt chẽ các giáo sư chặt chẽ hơn.

    Kết quả là vào đầu tháng 5, tôi lại bị ủy ban kỷ luật của trường gọi đến và bị buộc tội chống đối Tập Cận Bình. Kể từ đó, ĐCSTQ đã chặn tôi trên tất cả các phương tiện truyền thông ở Trung Quốc - báo in, trực tuyến, truyền hình. Ngay cả tên của tôi cũng không thể được công bố. Sau đó, vào một đêm tháng Bảy, tôi lại được triệu tập đến một cuộc họp ở Trường Đảng Trung ương, nơi mà một thành viên của ủy ban kỷ luật đặt một chồng tài liệu cao đến cả 30 cm trên bàn trước mặt tôi.

    “Chúng tôi có rất nhiều tài liệu về giáo sư”, anh ta nói. “Bà hãy nghĩ đi”. Rõ ràng là tôi đã bị cảnh cáo để giữ im lặng và nếu tôi chỉ tweet một từ, tôi sẽ phải chịu hình thức kỷ luật, bao gồm cả việc giảm trợ cấp hưu trí. Tôi phẫn nộ với cách họ đối xử của mình, mặc dù tôi hiểu rằng những người khác còn bị đối xử thô bạo hơn.

    Trong tất cả những năm là đảng viên của ĐCSTQ, tôi chưa bao giờ vi phạm một quy tắc nào, cũng như chưa bao giờ tôi bị khiển trách. Nhưng bây giờ, tôi thường xuyên bị quan chức đảng thẩm vấn. Ủy ban kỷ luật của trường liên tục đe dọa viễn cảnh nhục nhã là tổ chức một cuộc họp công khai lớn và công bố hình phạt chính thức. Vào cuối mỗi cuộc trò chuyện, những người thẩm vấn tôi yêu cầu tôi giữ bí mật. Tất cả đều là một phần của thế giới ngầm không thể để lộ ra ngoài.

    Sau đó, sự che đậy của sự tàn bạo của cảnh sát đã dẫn đến cuộc chia tay cuối cùng của tôi với Tập và đảng. Trước đó, vào tháng 5/2016, Lei Yang, một nhà khoa học môi trường, đang trên đường đến sân bay để đón mẹ vợ thì trong hoàn cảnh vẫn còn âm u, ông đã chết trong bị cảnh sát Bắc Kinh giam giữ. Để trốn tránh trách nhiệm, cảnh sát đã định khung Lei với cáo buộc rằng anh ta đã gạ tình một gái mại dâm.

    Những người bạn cùng lớp của anh từ những ngày còn học đại học, bị xúc phạm vì nỗ lực bôi nhọ này, đã tập hợp lại với nhau để giúp gia đình anh đòi lại công lý, bắt đầu một chiến dịch vang danh khắp Trung Quốc. Để dập tắt cơn thịnh nộ, các lãnh đạo cao nhất của ĐCSTQ đã ra lệnh điều tra. Công tố đã đồng ý khám nghiệm tử thi độc lập và một phiên tòa đã được lên kế hoạch để xét xử vấn đề này.

    Một điều kỳ lạ xảy ra tiếp theo: cha mẹ, vợ và con của Lei bị quản thúc tại gia và chính quyền địa phương đề nghị bồi thường cho họ rất lớn, khoảng 1 triệu đô la, để họ từ bỏ việc theo đuổi sự thật. Khi gia đình Lei từ chối, khoản thanh toán đã được tăng lên 3 triệu đô la. Ngay cả sau khi một ngôi nhà trị giá 3 triệu đô la được đề nghị, vợ của Lei vẫn nhất quyết rửa sạch tiếngg xấu cho người chồng quá cố của mình.

    Sau đó, chính quyền đã gây áp lực với cha mẹ của Lei, họ đã quỳ gối cầu xin con dâu từ bỏ vụ việc. Vào tháng 12, các công tố viên thông báo rằng họ sẽ không buộc tội bất kỳ ai về cái chết của Lei và luật sư của gia đình Lei tiết lộ rằng ông đã bị buộc phải từ bỏ vụ án.

    Khi tôi Biết được kết quả này, tôi đã ngồi vào bàn làm việc cả đêm, vượt qua nỗi đau buồn và tức giận. Cái chết của Lei là một trường hợp sai trái rõ ràng và thay vì trừng phạt các sĩ quan công an chịu trách nhiệm, cấp trên của họ đã cố gắng sử dụng tiền thuế cực khổ của người dân để giải quyết vấn đề ngoài tòa.

    Các quan chức đang đóng cửa hàng ngũ hơn là phục vụ nhân dân. Tôi tự hỏi bản thân, Nếu các quan chức của ĐCSTQ có khả năng thực hiện những hành động đáng khinh như vậy, thì làm sao đảng có thể được tin cậy? Trên hết, tôi tự hỏi làm thế nào tôi có thể tiếp tục là một phần của hệ thống này.

    Sau 20 năm do dự, bối rối và đau khổ, tôi đã đưa ra quyết định công khai và đoạn tuyệt hoàn toàn với đảng. Bước lùi vĩ đại của Tập đã sớm khiến tôi không còn lựa chọn nào khác. Vào năm 2018, ông Tập đã bãi bỏ các giới hạn nhiệm kỳ Chủ tịch, làm gia tăng viễn cảnh tôi sẽ phải sống vĩnh viễn dưới sự cai trị của chủ nghĩa tân Stalin. Mùa hè năm sau đó, tôi đã có thể đến Hoa Kỳ bằng thị thực du lịch.

    Khi ở đó, tôi nhận được tin nhắn từ một người bạn nói với tôi rằng chính quyền Trung Quốc, cáo buộc tôi hoạt động “chống Trung Quốc”, sẽ bắt tôi nếu tôi trở về. Tôi quyết định kéo dài chuyến đi của mình cho đến khi mọi thứ lắng xuống. Sau đó đại dịch COVID-19 bùng phát, các chuyến bay đến Trung Quốc bị hủy nên tôi phải đợi thêm một thời gian nữa.

    Đồng thời, tôi cảm thấy ghê tởm trước việc ông Tập xử lý sai dịch bệnh và đã ký một bản kiến ​​nghị ủng hộ Lý Văn Lượng, bác sĩ nhãn khoa ở Vũ Hán, người đã bị cảnh sát quấy rối vì đã cảnh báo cho bạn bè về căn bệnh mới và cuối cùng đã chết vì căn bệnh đó. Tôi nhận được điện thoại khẩn cấp của các nhà chức trách ở Trường Đảng Trung ương yêu cầu tôi phải về nhà.

    Nhưng bầu không khí ở Trung Quốc ngày càng u ám. Ông Nhậm trùm bất động sản bất đồng chính kiến, đã biến mất vào tháng 3, bị khai trừ khỏi đảng và bị kết án 18 năm tù. Trong khi đó, vấn đề của tôi với các nhà chức trách càng trầm trọng thêm do việc phát hành trái phép một bài nói chuyện riêng mà tôi đã đưa lên mạng cho một nhóm nhỏ bạn bè, trong đó tôi gọi ĐCSTQ là “thây ma chính trị” và nói rằng ông Tập nên từ chức. Khi tôi gửi cho bạn bè một bài báo ngắn mà tôi đã viết tố cáo luật an ninh quốc gia mới của ông Tập ở Hồng Kông, một người nào đó cũng đã tiết lộ điều này.

    Tôi biết tôi đã gặp rắc rối. Chẳng bao lâu sau đó, tôi bị khai trừ khỏi đảng. Nhà trường tước quyền lợi hưu trí của tôi. Tài khoản ngân hàng của tôi đã bị đóng băng. Tôi đã yêu cầu các cơ quan chức năng ở Trường Đảng Trung ương bảo đảm an toàn cá nhân cho tôi nếu tôi trở về. Các quan chức ở đó tránh trả lời câu hỏi và thay vào đó đưa ra những lời đe dọa mơ hồ cho con gái tôi ở Trung Quốc và con trai nhỏ của nó. Chính ở thời điểm này, tôi đã chấp nhận một sự thật: không còn đường quay về.

    T.H.

    Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2020-12-04/chinese-communist-party-failed

    VNTB gửi BVN.

    Đôi điều bộc bạch khi nhận “Quyết định xóa tên”

    Nguyễn Đăng Quang

    Thằng con trai 46 tuổi của tôi hồ hởi báo tin: “Nhà mình hôm nay có tin vui. Bố phải thông báo cho tất cả anh chị em nội ngoại và bạn bè thân thiết biết để mọi người mừng cho bố. Có lẽ bố phải mở tiệc chiêu đãi cả nhà để đánh dấu sự kiện này”. Nói đoạn, nó mở bì thư, trịnh trọng đọc quyết định của Quận ủy Cầu Giấy v/v xóa tên tôi khỏi danh sách đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) “do đã vi phạm quy định chuyển sinh hoạt Đảng”.

    Tôi quyết định “thoái Đảng” (tức lẳng lặng bỏ Đảng, không chuyển sinh hoạt Đảng) từ giữa năm 2003 ngay sau khi nhận quyết định nghỉ hưu. Ngày 3/2/2020 này, tôi đã “thoái Đảng” được suýt soát 17 năm! Còn trong thực tế, xin tiết lộ điều “bí mật” sau đây: Ngay khi còn đang phục vụ trong LLVT, tôi đã âm thầm “khai trừ Đảng khỏi lòng tôi” rồi! Tôi đã thực hiện điều này trong lặng lẽ, tức chỉ có tôi biết. Chính xác việc trên là từ khi nào, tôi không nhớ rõ, chỉ biết nó bắt đầu ngay sau khi nhận ra mình đặt lòng tin nhầm chỗ! Mãi sau này, khi chính thức “thoái Đảng”, tôi mới biết là đã có rất nhiều đảng viên ĐCSVN cũng hành động giống tôi, nghĩa là âm thầm “khai trừ Đảng trong lòng” khi còn tại chức, không đợi sau khi nghỉ hưu mới “thoái Đảng”!

    Công bằng mà nói, lý tưởng cộng sản đã từng một thời là khao khát và ước vọng của biết bao thế hệ trẻ. Trong thập kỷ 1960’s và 1970’s, lý tưởng cộng sản đã thôi thúc hàng triệu thanh niên trai tráng, trong đó có tôi, tự nguyện viết đơn xin đứng trong hàng ngũ ĐCSVN! Hồi tưởng lại, niềm tin vào lý tưởng cộng sản thật là trong sáng, nó đã không chỉ lay động trái tim tôi, mà còn sưởi ấm tâm hồn tôi. Chẳng thế mà Milovan Djilas (1911-1995) cố Chủ tịch Quốc hội Liên bang Nam Tư, cố Uỷ viên BCT Đảng Cộng sản Liên bang Nam Tư, đã để lại một câu bất hủ cho hậu thế: “20 tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim! 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu!”. Vì thế, lòng tin vào lý tưởng cộng sản trong tôi phai nhạt dần, cho đến đầu thập niên 1990’s thì nguội lạnh và lịm tắt hẳn. Tôi thực sự đã mất hết lòng tin vào ĐCSVN, vào chủ thuyết Marx-Lenine, vào CNXH và CNCS, và cả vào cái gọi là “Đỉnh cao trí tuệ” nữa!

    Tôi “thoái Đảng” vào thời điểm hiện tượng trên còn hãn hữu, nhưng đến nay nó đã trở nên phổ biến. Các đảng viên ĐCSVN, khi nhận quyết định nghỉ hưu, thường họ không chuyển giấy sinh hoạt cho các đảng bộ địa phương, mà lặng lẽ cất kỹ dưới đáy tủ như kỷ niệm của “một thời đáng quên!”. Họ lặng lẽ, âm thầm thực hiện hành động đó, không ồn ào và công khai với bất cứ ai, trừ khi là bạn rất thân của nhau. Đến nay, đã bao nhiêu đảng viên cộng sản chọn cách này để “tạm biệt” Đảng, không một ai có thể biết chính xác, bởi Đảng giấu rất kỹ. Nhưng theo nhiều người dự đoán, con số này ước khoảng 45%! Số còn lại, mang tiếng là “vẫn yêu Đảng”, nhưng thực tế đa số họ đã “chán Đảng”, họ miễn cưỡng phải tiếp tục ở lại sinh hoạt vì nhiều lý do khác nhau, trong đó phải kể đến lý do hàng đầu là sợ liên lụy đến con cháu, tiếp đến là sợ ảnh hưởng đến “sổ hưu”, tức kế sinh nhai hàng ngày của họ.

    Vậy phong trào “thoái Đảng” do đâu mà có? Từ kinh nghiệm của bản thân, tôi có thể khẳng định nó bắt đầu từ lòng tin (vào ĐCSVN) bị giảm sút, đến chỗ hồ nghi sự lãnh đạo của Đảng, và cuối cùng là mất sạch lòng tin vào Đảng. Thế là bệnh “chán Đảng”, như một hệ lụy tất yếu, nó xuất hiện trong sâu thẳm tâm can rất nhiều đảng viên. Bệnh “chán Đảng” nhanh chóng trở thành phong trào “thoái Đảng”. Căn bệnh này lây lan rất nhanh, song nó không gây nguy hiểm cho đất nước và xã hội, nhưng lại rất nguy hiểm cho đảng cầm quyền. Xét về khía cạnh luật pháp hay đạo đức, nó không vi phạm điều khoản nào trong mọi văn bản quy phạm pháp luật, vì vậy nó không thể bị quy kết là “có tội”. Lượng tích tụ lâu dần, từ ngày này qua tháng khác, sẽ biến thành chất. Đây là một quy luật tất yếu, không một ai có thể ngăn cản nổi!

    Tự do hơn và Không cô đơn

    Mạc Văn Trang

    Hôm nay đúng tròn một năm tôi tuyên bố ra khỏi Đảng CSVN (26/10/2018). Nhiều bạn bè và họ hàng cho đến gần đây vẫn hỏi: Việc ra khỏi Đảng có sao không? Có người còn hỏi có bị cắt lương hưu không? Có bị chính quyền gây khó dễ không? Có bị thiệt hại về kinh tế, chính trị không? Có bị cô lập, cô đơn không? Thậm chí tôi vừa về quê, ông bạn nông dân từ thời chăn trâu với nhau, vội đến dặn dò, phải hết sức cẩn thận, người ta đồn ông “phản động” đấy!...

    Qua đó cho thấy, những ám ảnh sợ hãi quy kết về chính trị từ thời xa xưa vẫn hằn sâu trong tâm trí dân ta. Nhân dịp này xin chia sẻ đôi điều để những ai quan tâm đến tôi, biết rõ sự tình và an lòng.

    Vào khoảng những năm 1980 về trước, nếu tuyên bố ra Đảng, lại đăng công khai, trả lời phỏng vấn “đài địch” nữa, chắc là khốn đốn to. Nay nhận thức, thái độ từ Đảng CS, Chính quyền và người dân đã “tự diễn biến”, buộc phải có những thay đổi, trước những biến chuyển to lớn trên thế giới và ở trong nước. Việc một đảng viên thấy Đảng chính trị không còn phù hợp với mình, tuyên bố ra khỏi Đảng, cũng trở nên bình thường. Khi Đảng không còn đại diện cho Mục đích, Lý tưởng của mình nữa mà cứ nhũng nhẵng bám lấy Đảng, thực sự là gượng ép, phiền toái, bất lợi cho cả hai phía.

    Còn với tôi sau một năm ra khỏi Đảng CSVN thấy thế nào?

    GỬI NHỮNG “ĐẢNG VIÊN NHƯNG MÀ TỐT”

    Đinh Minh Đạo

    “Đảng viên nhưng mà tốt”.  Chúng ta cám ơn ai đó đã sáng tạo ra cách gọi thật là chuẩn xác. Chỉ với 5 con chữ mà đầy đủ tính xác thực, hài hước, mỉa mai dễ gợi nhớ như câu tục ngữ, để đặt tên gọi cho những người tốt hiện  còn lại rất ít ỏi trong 4 triệu đảng viên của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN). Có lẽ thực trạng của Đảng, sự tha hóa của hầu hết các đảng viên như : tham nhũng, ức hiếp dân chúng, cửa quyền, gian dối, bảo thủ... là nguồn chất liệu, cảm hứng cho những nhà ngôn ngữ học dân gian sáng tạo ra tên gọi này.

    “Đảng viên nhưng mà tốt” đã khái quát tình trạng  hiện nay trong Đảng mà cả xã hội đã thừa nhận : Hầu hết các đảng viên không tốt, không những họ không tốt mà họ là những người xấu. “Nhưng mà” là trường hợp cá biệt, là số ít (hoặc rất ít) không bình thường trong Đảng.

    “Đảng viên nhưng mà tốt” thể hiện đặc tính của người Việt Nam, khoan dung, không “vơ đũa cả nắm” ngay cả đối với một tập đoàn đang cai trị, ức hiếp mình dưới một thể chế độc tài Đảng trị.

    “Đảng viên nhưng mà tốt” là sự diễn tả chính xác, tài tình, phong phú, thâm thúy của tiếng Việt.

    Với khái niệm trên đây, chúng ta mới chứng kiến giáo sư Chu Hảo, một “đảng viên nhưng mà tốt” rời bỏ Đảng.

    Là một trí thức, ông đã vào Đảng “với một lý tưởng cao quý là đấu tranh vì độc lập dân tộc vì dân chủ và phát triển đất nước”. Ông viết trong tuyên bố rời bỏ Đảng: “Nhưng càng ngày tôi càng nhận thức rõ hơn rằng tổ chức chính trị mà mình tham gia không có tính chính danh, hoạt động không chính đáng, có nhiều khuất tất, càng ngày càng thoái hóa, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại.

    Sau khi về hưu, lẽ ra ông có nhiều thời gian để nghỉ ngơi và dành cho gia đình, nhưng ông đã tiếp tục công việc “khai dân trí”. Nhà xuất bản Trí Thức do ông làm giám đốc mong muốn thực hiện ước mơ xây dựng tủ sách tinh hoa của trí thức thế giới, đã biên dịch, xuất bản những tác phẩm có giá trị về khoa học, kinh tế, chính trị, triết học.

    Ông đã tham gia viện nghiên cứu phát triển IDS, ký  các kiến nghị yêu cầu Đảng thay đổi, sửa chữa những chính sách kìm hãm sự phát triển của đất nước. Ông tổ chức đi thăm hỏi, động viên những nông dân bị chính quyền cướp đất và những người tham gia đấu tranh cho tự do, dân chủ bị đàn áp.

    Người mù hướng dẫn xem tranh

    Nguyễn Đình Cống

    Tôi vừa đọc bài “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên: Nhận diện và phòng chống. Bài đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 23/11/2018. Tôi thấy bài đó là một kiểu người mù hướng dẫn xem tranh.

    Bài có 3 nội dung: Nhận diện, Nguyên nhân, Biện pháp khắc phục.

    Trong mục nhận diện, tác giả nêu ra tác hại ghê gớm của tự chuyển biến, chỉ ra chủ nghĩa đế quốc và thế lực thù địch với âm mưu diễn biến hòa bình, dẫn ra 4 nguy cơ được ĐH VII, năm 1991, khẳng định. Phải chăng những điều như thế là nhận thức mới mẻ hay là thứ đã được bỏ quên từ lâu trong các đống rác?

    Tác giả đưa ra 3 nguyên nhân chính:

    1- Do tác dụng trái chiều của quá trình toàn cầu hóa, của kinh tế thị trường;

    2- Do những thách thức của lịch sử, âm mưu diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động..;

    3- Do những yếu kém từ chính nội bộ đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá trình lãnh đạo thực hiện sự nghiệp đổi mới.

    Liệu 3 nguyên nhân này có phải là do tác giả nghiên cứu, suy nghĩ sâu sắc rồi rút ra hay là nhắc lại theo kiểu sáo vẹt? Xin thưa: Ở các nước theo kinh tế thị trường không nơi nào xảy ra “tự diễn biến” như ở VN. Hỏi, xin chỉ ra chủ nghĩa đế quốc, thế lực phản động ở thế kỷ 21 này cụ thể nằm ở đâu, phản đối việc diễn biến hòa bình phải chăng là chỉ muốn diễn biến chiến tranh.

    Cũng đành phải kể ra nguyên nhân nội bộ, nhưng chỉ dám đề cập đến yếu kém mà không dám chỉ ra các sai lầm từ chủ nghĩa, đường lối đến những việc làm cụ thể.

    Trước đây tôi được dạy và tin rằng Mác Lê là chân lý, nay nhờ nghiên cứu mà hiểu ra rằng Mác Lê chứa nhiều độc hại. Trước đây tôi được tuyên truyền và tin rằng Đảng luôn sáng suốt và quang vinh, nay nhờ quan sát, đối chiếu thực tế mà biết rằng một số việc làm của Đảng làm tổn dân, hại nước. Như vậy tôi bị quy thuộc loại tự chuyển biến. Có khá nhiều người tự chuyển biến như vậy, nhưng giữ trong lòng, chỉ có một số thoát khỏi sự sợ hãi, dám nói ra, dám công khai từ bỏ Đảng. Tôi tự xét thấy, nguyên nhân tự chuyển biến chính là phát hiện ra bất đồng với Mác Lê và Đảng chứ chẳng phải do kinh tế thị trường, chẳng do đế quốc hoặc thù địch nào cả.

    Tác giả đưa ra 4 biện pháp nhằm khắc phục “tự diễn biến”:

    1- Đổi mới tư duy, phát triển lý luận;

    2- Nâng cao chất lượng quản lý đảng viên, kiểm tra, giám sát…;

    3- Nâng cao hiệu quả giáo dục, rèn luyện..;

    4- Đảng quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần và lợi ích thiết thân của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Thư giãn Chủ nhật: Lại nói chuyện vào, ra Đ+S VN

    Ngụy Hữu Tâm

    Nhân có chuyện Đ+S VN kỷ luật GS CH, xin được góp đôi lời về những kỷ niệm thời trẻ, ngắn gọn thôi nhưng hy vọng thú vị, ít nhất là với tôi, bởi vì... “văn mình, vợ người” mà! Nhất là các bạn trẻ ít trải nghiệm, còn bọn già chúng tôi, chúng ta quá hiểu nhau rồi còn gì!

    Vào Đ+S VN nói riêng, cũng hệt như vào bất cứ Đ+S nào khác trên cái thế giới trước đây không nhỏ bé nhưng nay qua internet, vệ tinh và các công nghệ hiện đại khác… đã trở nên cực kỳ nhỏ bé, hệt như cái làng, chẳng thế mà Tàu+ gần đây đương nhiên tự mình vẽ ra “đường lưỡi bò 9 đoạn” để định bắt cả thế giới phải công nhận. Vào đảng cũng hệt như tham gia một tín ngưỡng, khi có niềm tin thì mình vào, nhưng cũng không phải nhất thiết thế, vì hội kín thì sao, hay thậm chí vì quyền lợi, vào một băng đảng của xã hội đen mà ngày nay đã lan tràn khắp thế giới, mà nhiều lúc tôi chẳng còn phân biệt đâu đỏ, đâu đen vì xã hội ngày nay nhiễu nhương quá!

    “Lú” có chính danh hay không, nếu vậy thì xã hội này đã là xã hội đen rồi còn gì? Vì khi, Đ+S đứng trên nhà nước và pháp luật thì điều ấy là đương nhiên! Xét cho cùng thì đúng như vậy đấy! Thể chế toàn trị mà, cứ xem Orwell mà xem!

    Nhưng xin trở lại việc vào, chứ ra thì nay trong các cụ, nhiều cụ đều muốn ra nhưng chưa tìm được cách ra cho đường hoàng mà thôi, như chuyện của GS Chu Hảo, ra thế thì ồn ào và rối rắm, nhưng có khi thế lại hết sức nổi tiếng, nhiều người muốn, nhất là các bạn trẻ. Anh CH vốn người cơ quan tôi, cứ tưởng anh yên ổn mọi chuyện cho tới cuối đời, thật không ngờ anh còn gặp rắc rối, nhất là ở vị trí xã hội cao chót vót như thế, nhưng ở đời sướng khổ là chuyện chỉ chính người đó biết, ai nói hộ ai được. Thế nên tôi muốn nói với các bạn trẻ, có nhiều con đường khác để nổi tiếng, đâu nhất thiết phải thế!

    Trở lại câu chuyện thời trẻ tôi ngại vào Đ+S VN làm sao nhé! Thế lại là may dẫu khi ấy vào Đ+S VN là mơ ước của tất cả mọi người, nhất là trí thức, coi như con đường duy nhất để tiến thân, chứ hoàn toàn không rộng mở như hiện nay.

    Hai kỷ niệm hết sức nhỏ thôi, nhưng hy vọng cũng thú vị cho bạn đọc, chủ yếu là bạn trẻ.

    Đó là sau khi tôi đã tốt nghiệp đại học, có lẽ cuối 1968, đầu 1969 thì phải, nghĩa là đúng 50 năm, nửa thế kỷ chứ ít đâu, hai thế hệ, tôi mới 25, các bạn trẻ nay 21. Cũng phải nói lúc đó tôi về công tác ở Viện Vật lý cũng do “điều động của nhà nước” chứ có do nguyện vọng gì đâu, Nói là ghi nguyện vọng nhưng vào những năm tháng chiến tranh ác liệt đó, chúng tôi lại là khóa duy nhất của trường được đào tạo sĩ quan dự bị, cũng đã thấy cái hay của quân đội có kỷ luật, ai cũng đều xung phong vào bộ đội cả. Tôi cũng ghi nguyện vọng đó, nhưng được phân công về Bộ Công an, tôi còn nhớ như in lúc ấy Cục Cán bộ Bộ Công an còn đóng ven Hồ Thiền Quang. Anh cán bộ Tổ chức bỗng ngạc nhiên bảo, khi tôi đưa giấy phân công công tác: “Bên trường nhầm đấy, đồng chí về làm việc lại với Phòng Tổ chức trường nhá”. Tôi về lại trường thì các anh ấy bảo: “Có nguyên nhân tế nhị đấy, thôi Tâm về lại Ủy ban Khoa học Nhà nước là cơ quan nơi vốn đã cử cậu đi học. Mà lúc ấy nào đã có Viện Vật lý, tôi về Phòng Quang phổ, làm hồng ngoại, lúc đó còn tham gia hướng dẫn sinh viên làm đề tài nghiên cứu xăng máy bay bị vàng với anh Lý Hòa, làm sao quên được?

    Rồi sau này khi có Anh H. về thành lập Viện Vật lý, tôi được chuyển sang làm laser là ngành mới xây dựng, sướng thế nào rồi đi nghiên cứu sinh ở Berlin. Nhưng đó là chuyện về sau. Hãy nói những năm đầu ở Viện Vật lý đã.

    Anh em chúng tôi tuy ai cũng cố gắng phấn đấu vào Đảng vì lúc đó Đảng còn là cái gì thiêng liêng lắm, rất chi là lý tưởng. Anh CH còn là Bí thư Đoàn Thanh niên, khi đó còn mang tên „Lao động“, chưa đổi tên, lột xác thành +S. Những khúc khuỷu của nó, cũng không phải mọi người không biết, nhưng con đường tiến thân, ai cũng phải lo thôi, âu đó cũng là việc bình thường, còn đi nghiên cứu sinh cơ mà.

    Tôi kể lại chuyện này để bạn đọc cười cho vui khi sự kiện CH ầm ỹ đến thế này. Số là anh H. cũng phải xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên cho mình, nên quyết tâm kéo anh Đ. vào Đảng, các anh vốn nhóm 4 anh: anh H., anh Đ, anh CC và anh ĐN, vừa hết nhiệm kỳ công tác ở Dubna về nước.

    Hồi ấy trước khi kết nạp lại còn thủ tục phải có ý kiến “quần chúng” kia. Thế là chúng tôi, những người ngoài Đảng được tập trung lại họp nhận xét các đồng chí chuẩn bị được kết nạp Đảng. Mà anh Đ. thì ai mà chẳng biết, vừa đi Dubna về, công trình khoa học ngồn ngộn nổi tiếng tầm cỡ quốc tế, anh em trẻ chúng tôi mới ra trường ai mà chẳng biết và ngưỡng mộ. Thế nhưng vì là họp toàn Viện nên đâu phải chỉ có anh em bọn tôi, mà bọn tôi trẻ cũng nào biết mô tê gì mà “phát biểu ý kiến”, cứ chờ xem đã. Nói gì sai lại vạ miệng, chẳng bõ!

    Thế là có một chị lao công sồn sồn đứng lên phát biểu ý kiến ngay. Chị nói đại để là “anh Đ. ít nói quá, suốt ngày chẳng thấy anh ấy nói một câu gì, không có tác phong quần chúng. Thế thì chúng tôi làm sao hiểu được anh? Liệu anh có trung thành với Đảng hay không, hay lại như các anh chị khác, chỉ biết chuyên môn thuần túy thôi, lỡ địch nó lợi dụng thì sao?”.

    Bọn trẻ tôi sững sờ, không biết rồi chi bộ sau này xử lý vấn đề thế nào. Chỉ biết anh Đ. dẫu chuyên môn hết chê, nhưng chắc chắn cũng còn phải đợi đấy, phấn đấu chán mới được kết nạp Đảng. Và bạn đọc chắc cũng thông cảm, về phần tôi, vốn là người ham chơi, học hành kết quả cũng nhàng nhàng thì chuyện phấn đấu chẳng dễ nên trong tâm lý, qua những buổi góp ý như thế trong lòng có biết bao nhiêu là ngại ngần.

    Đó là kỷ niệm thứ nhất.

    Còn kỷ niệm thứ hai....

    Nhưng cuộc rồi đời xô đẩy, đến năm 1974, một năm trước “giải phóng Miền Nam” thì tôi cũng được đi thi nghiên cứu sinh, rồi tôi được đi nghiên cứu ở Berlin. Viện Hàn lâm Khoa học bên đó có nhận cán bộ ta sang làm về laser màu, tôi được sang làm ở nhóm bên đó. Cuối 1977 tôi về thì Phòng Quang học chuẩn bị được thành lập, vì thiếu cán bộ, tôi được “cơ cấu”, rồi được cử làm Phó phòng, không có Trưởng phòng, Q. Trưởng phòng thôi, bạn bè cứ đùa “thằng này phá phòng”, có lẽ đúng vậy thật. Tôi cũng cố gắng hết sức mình, cuối năm 1982 được cử sang Paris thực tập một năm. Đầu năm 1984 về nước. Trở về phòng cũ, vẫn vậy, không có trưởng mà cũng chẳng có phó. Dịp may đây. Tôi hằng mong, sắp tới cấp trên sẽ “cắt cu” cho mình. Anh bí thư chi bộ Viện, anh Q. cũng có lần ghé tôi nói: “Anh H. đánh giá cậu tốt lắm đấy!”.

    Và thế là có lẽ tôi cũng được chuẩn bị “kết nạp Đảng”. Ít nhất là tôi cũng tưởng tượng như vậy. Bởi vì tôi cứ nghĩ ngày đó chắc chắn cũng không còn xa nữa. Hầu như buổi “kết nạp Đảng” nào tôi cũng được mời dự. Nhưng lúc ấy tôi mới tóa hỏa... bỏ mẹ, có thủ tục phải giơ tay trước cờ Đảng và ảnh Bác để thề thốt: “Xin trung thành với lý tưởng của Đảng”.

    Đến nước ấy thì tôi chịu thua...

    “Đến vợ mình đấy, đầu gối tay ấp, chắc gì mình đã trung thành nổi, chứ cái lý tưởng viển vông đó thì xin... kiếu”.

    Thế thì cuộc đời tôi, may hay rủi?

    Nghệ sĩ Kim Chi tuyên bố ra khỏi đảng

    Nguyễn Thị Kim Chi

    Hôm nay, 4.11.2018, tôi – N.S.Ư.T. Nguyễn Thị Kim Chi, chính thức tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Lẽ ra tôi đã làm việc này cách đây gần 3 năm trước, khi ông Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử Tổng Bí thư Đảng CSVN. Bởi tôi biết ông Trọng một mực theo đuổi CNXH – con đường tăm tối không có tương lai cho đất nước, đi ngược xu thế tiến bộ của nhân loại.

    Nhưng ngày đó, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, GS – TSKH Chu Hảo, chồng tôi (ô. Vũ Linh), cùng nhiều bằng hữu tâm huyết khuyên tôi kiên nhẫn ở lại để giúp những người tốt trong Đảng CSVN nhận biết lẽ phải.

    Tôi đã kiên nhẫn tỏ bày chính kiến ôn hoà trong mọi việc:
    – Xuống đường biểu tình vì nhân quyền, chủ quyền đất nước, môi trường sống…
    – Viết Facebook lên án những sai trái của an ninh, giới chức nhà nước.
    – An ủi, sẻ chia cùng tù nhân lương tâm, bà con dân oan…

    Tham gia các hoạt động xã hội dân sự, với thiện ý xây dựng, tôi thành tâm mong góp tiếng nói phản biện, nhằm thức tỉnh lương tri những người đang chèo lái vận mệnh đất nước. Tôi chưa bao giờ có ý tưởng lật đổ, cổ xúy bạo lực, mà luôn thật lòng mong mỏi những người giữ trọng trách trong guồng máy nhà nước thay đổi tốt đẹp, biết yêu nước, thương dân.

    Về việc Lê Hiếu Đằng từ bỏ đảng

    Nguyễn Đình Cống

    Trong kho tàng văn học dân gian có câu “ Con chim gần chết hót hay, con người sắp chết nói  lời phải” (dị bản : chim sắp chết kêu thương). Lời phải ở đây mang nhiều ý nghĩa sâu xa, là lời trăng trối do tích lũy các suy nghĩ đúng sai của cuộc đời, là nhận thức sâu sắc về thế sự, là sự sám hối về sai lầm hoặc tội lỗi v.v…Trước khi chết ông Lê Hiếu Đằng đã nói lời hay : từ bỏ Đảng Cộng sản.

    Ông Đằng là nhà hoạt động chính trị nổi tiêng một thời. Sau khi ông mất  vào tháng 1 năm 2014, các trí thức lớn ở TP HCM lấy tên ông đặt cho Câu lạc bộ của mình. Trước tháng 4 năm 1975 ông Đằng  là một trong các "lãnh tụ" sinh viên trong phong trào đấu tranh tại Sài Gòn và các đô thị Miền Nam , thành viên Ban chấp hành Tổng hội Sinh viên Sài GònTrường Đại học Luật khoa Sài Gòn ( một tổ chức thân cộng sản), là luật sư, phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên Minh các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam, tổng thư ký Ủy ban nhân dân Cách mạng khu Sài Gòn Gia Định, Sau tháng 4/1975 ông là nhà hoạt động chính trị-xã hội, Phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc  Việt Nam TP HCM[.. Tính tới 2013, trước khi chết,  ông có 45 năm là Đảng viên Đảng CSVN.

    Tướng Trần Độ: “Tháng ngày biến hóa, ác luân hồi ”

    Đinh Quang Anh Thái
    (Tháng Chín, 2002)

    Lần tiếp xúc đầu tiên của tôi với ông Trần Độ phải qua trung gian hai ba người chứ không phải tự nhiên mà ông Độ trả lời điện thoại một người lạ sống ở Mỹ. Nhất là một nhân viên Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do, đài phát thanh bị Cộng Sản Hà Nội quy chụp là chống phá chế độ.

    Đầu đuôi câu chuyện bắt nguồn từ việc ông Trần Độ bị đảng Cộng Sản khai trừ ngày 4 Tháng Giêng năm 1999.

    Ngay khi biết tin, tôi lập tức gọi điện thoại về hỏi thăm ông Độ và được ông xác nhận tin này là đúng, nhưng ông không đưa ra lời bình luận nào.

    Một ngày sau, mới tờ mờ sáng ở Washington DC, giám đốc Ban Việt Ngữ RFA, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, điện thoại bảo tôi tìm cách liên lạc với những người quen ở Hà Nội để tìm hiểu nguồn tin nói rằng có một đại tá đảng viên cộng sản 50 năm đã trả thẻ đảng để phản đối việc ông Trần Độ bị khai trừ.

    Qua cuộc nói chuyện bằng điện thoại với Nhà văn Hoàng Tiến, tôi được biết người trả thẻ đảng là cựu Đại tá Phạm Quế Dương, nguyên Tổng biên tập Tạp Chí Lịch Sử Quân Sự thuộc Viện Lịch Sử Quân Sự, Tổng Cục Chính Trị của Cộng Sản Việt Nam.

    Nói chuyện với Nhà văn Hoàng Tiến, tôi hỏi ông sau khi ông viết những bài ủng hộ cựu Trung tướng Trần Độ, tình trạng an ninh của ông ra sao, ông Hoàng Tiến cho biết là ông bị công an “săn sóc” tận tình lắm, dù vậy, ông và những “anh em dân chủ khác” luôn luôn chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất, để nếu có việc gì xẩy ra thì về mặt tâm lý, mọi người không thấy có gì hỗn loạn cả. Ông Hoàng Tiến còn tâm sự rằng, “phải chịu đựng thôi, vì bao giờ cũng thế, cái gì cũng phải trả giá, nhất là dân chủ và tự do phải trả giá lớn chứ không phải nhỏ. Thôi thì cứ làm cho hết cái lương tâm của mình. Anh em đều nghĩ như thế, vì đây là cái nghĩa cả, cái nghĩa lớn ấy mà. Đất nước mình không thể thua các nước khác được. Bây giờ cả thế giới sống trong trào lưu dân chủ thì mình sống trong cái ốc đảo sao được. Làm sao cho quyền làm người, quyền làm dân được hiểu đúng thì lúc đó khó ai mà o ép dân được.”

    Tôi hỏi ông có gặp Tướng Trần Độ không, ông cho biết ngay sau khi đảng Cộng Sản khai trừ ông Trần Độ, ông có đến thăm và thấy ông Độ đã chuẩn bị hết cả rồi, vì ông Độ “sống bằng lương tâm đối với cái nghĩa lớn của đất nước nên rất thanh thản, không có gì vướng bận cả”.

    Ông Hoàng Tiến cho tôi số điện thoại của ông Phạm Quế Dương, còn dặn dò là tôi gọi về ngay, và cứ bảo do Hoàng Tiến giới thiệu.

    Tôi gọi về, sau vài phút dè dặt, ông Dương đã hề hà nói chuyện rất thân thiện. Ông gọi tôi là cậu và xưng tớ. Ông bảo, ông quen cung cách nhà binh như thế rồi, vả lại, ông nói, vậy mới thân tình.

    Hỏi tại sao ông trả thẻ đảng và trả luôn cả huân chương Hồ Chí Minh để phản đối việc ông Độ bị khai trừ, ông Dương cười thoải mái nói nguyên văn rằng, “Ông Độ từng là cấp chỉ huy của tớ, và trong một phiên gác thời tớ mới vào bộ đội trong cuộc chiến chống Pháp, chính ông Độ đã đề nghị gác thay cho tớ vì thấy tớ buồn ngủ quá. Từ đó, tớ yêu kính ông Độ. Nhưng trên tất cả, tớ thấy ông Độ rất anh dũng khi dám nói lên thực trạng hiện nay của đất nước và dám nêu vấn đề dân chủ với lãnh đạo đảng. Cho nên khi nghe tin ông bị khai trừ, tớ đến ngay nhà ông và bảo ông rằng, anh luôn luôn trong trái tim em, bây giờ em ra trụ sở đảng để trả thẻ đảng viên 50 năm và huân chương Hồ Chí Minh đây. Tớ cho rằng sống với nhau phải có tình có nghĩa. Thế thôi, nhất là việc ông Độ tranh đấu cho dân chủ là đúng quá chứ có gì sai đâu.”

    Tôi nói với ông Dương là có cách nào giúp tôi phỏng vấn được ông Độ không, ông Dương bảo “để tớ gọi ngay cho anh ấy, chắc được thôi.”

    clip_image002

    Tướng Trần Độ

    Tướng Trần Độ tên thật là Tạ Ngọc Phách, sinh năm 1923 tại Thái Bình. Gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940, từng bị Pháp bắt và lãnh án 15 năm tù. Cuối năm 1941, từ nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), Trần Độ bị đầy lên Sơn La, ở tù cùng thời gian với Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy... Năm 1943, trên đường Pháp giải tù từ Sơn La ra Côn Đảo, Trần Độ trốn thoát để ra ngoài tiếp tục hoạt động. Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong đảng CSVN, và năm 1975, ông là Phó Chính ủy và Phó Bí thư Quân ủy “Quân Giải phóng Miền Nam.”

    Sau 1975, ông giữ chức Trưởng ban kiêm Thứ trưởng Bộ Văn hóa và soạn nghị quyết số 5, củng cố tiến trình cởi mở văn hóa trong thời kỳ Đổi Mới. Ông còn làm Phó Chủ tịch Quốc hội khóa VII và là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa III, IV, V, VI (1960-1991).

    Do bất đồng chính kiến với một số lãnh đạo cao cấp khác của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông bị khai trừ khỏi Đảng ngày 4 Tháng Giêng năm 1999, sau 58 năm phục vụ đảng.

    ***

    Dù đã được ông Phạm Quế Dương giới thiệu, thế mà vẫn không được!

    Qua điện thoại, rõ ràng ông Độ có cởi mở hơn chứ không dè dặt như lần trước, nhưng ông bảo, cứ nói chuyện với nhau thôi, đừng thâu âm làm gì, vì ông cần cân nhắc trước khi trả lời các đài phát thanh nước ngoài, nhất là ông đang muốn thuyết phục những đảng viên khác còn trong đảng. Nói chuyện với ông Độ hơn nửa tiếng, hỏi ông rất nhiều vấn đề, nhất là thắc mắc của tôi là ông “chống đảng để cứu đảng hay chống đảng để cứu dân”. Ông bảo, đọc các bài viết của ông thì tất rõ chứ đừng để ông phải giải thích.

    Cảm tưởng của tôi thôi, chứ chưa chắc đã đúng, là ông Độ vẫn còn lưu luyến với đảng CS, tổ chức mà ông đã hết mực gắn bó gần cả đời người, dù nó đối xử tàn tệ với ông. Có lẽ nói đúng hơn, là ông quyến luyến với những đảng viên mà trong các bài viết của ông, ông gọi họ là “những người còn có tấm lòng”.

    Không hỏi trực tiếp được ông Độ thì tôi hỏi những người khác về ông Độ.

    Giáo sư Lữ Phương ở Sài Gòn, người từng là thứ trưởng của “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” và sau này đã bỏ đảng CS, nhận định rằng, đấu tranh trong nước phải quyền biến lắm, chống đảng để cứu đảng hay chống đảng để cứu dân, ranh giới của hai lập trường này rất khó phân định, mà cũng chả ai nói huỵch toẹt ra đâu, ai muốn đoán sao thì đoán. Tại sao ấy à, ông Lữ Phương giải thích, “xã hội CS nào cũng thế, người ta nghĩ một đằng nói một nẻo, nên cứ phải từ từ thì mới hiểu được ai là ai, ai là người thế nào”.

    Một nhận định của ông Lữ Phương về ông Trần Độ trong cuộc nói chuyện bằng điện thoại khiến tôi chú ý nhiều, là ông Trần Độ dấn thân vì lòng yêu nước, chứ trình độ hiểu biết của ông Độ về chủ nghĩa Mác Lê, theo ông Lữ Phương, “còn hời hợt lắm.” Ông Phương nói nguyên văn rằng “đối với chủ nghĩa Mác, ông Độ chỉ là người đứng ngoài ngõ nhìn vào thôi, chứ chưa bước chân vào nhà.” Cũng theo lời ông Phương, những người như ông Độ trong đảng chiếm đa số. Trả lời câu hỏi của tôi về ảnh hưởng việc ông Độ bị khai trừ, ông Lữ Phương nói, cứ nhìn vào số tướng lãnh vẫn đến thăm ông Độ thì biết là ông Độ còn được nhiều người yêu kính lắm. Mà không riêng gì quân đội đâu, ông Lữ Phương bảo, văn nghệ sĩ cũng nhiều người có cảm tình với ông tướng nhà văn này. Vì năm 1986, khi còn giữ chức Trưởng Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương Đảng, ông Độ đã được các văn nghệ sĩ hoan nghênh với câu nói “nhân dân Việt Nam không cần ai chọn món ăn tinh thần cho mình. Nhân dân đủ thông minh để chọn lấy. ”  Cũng vì câu nói ấy, và vì chủ trương cởi mở đối với sinh hoạt văn nghệ, ông Độ bị mất chức. Một số người cho rằng, nếu không có Trần Độ thì khó lòng có những tác phẩm nói lên sự thật về cuộc sống Xã Hội Chủ Nghĩa của các tác giả như Dương Thu Hương, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Mạnh Hảo, Phùng Gia Lộc và nhiều nhà văn khác.

    ***

    Tết năm 2000, tôi có dịp kiểm chứng lời ông Lữ Phương.

    Chiều Mùng Hai, do đi công tác cho đài Á Châu Tự Do ở Thái Lan, nên từ Bangkok, tôi điện thoại về mừng tuổi ông Độ. Cuộc nói chuyện rất ngắn, vì nhà ông đang có khách, tiếng cười nói rất ồn. Ông bảo, một số thuộc cấp ngày xưa của ông đến chúc Tết, họ hiện đang nắm các sư đoàn. Tôi hỏi, họ không sợ khi đến thăm một người bị khai trừ hay sao, ông nói, cũng có người sợ không dám đến, nhưng nhiều anh em vẫn giữ được tình cảm có trước có sau. Ông nói, tôi để anh nói chuyện với một sư trưởng nhé.  Sau đó ông Độ giao điện thoại cho một vị giọng Bắc sệt, cười lớn bảo, anh Trần Độ là thủ trưởng cũ của chúng tôi và mãi mãi vẫn là thủ trưởng, dù hoàn cảnh nào chăng nữa. Ông tiếp, anh hỏi tôi đang nắm sư đoàn mà thăm ông Độ như vậy có sợ không ấy à, tôi chả sợ gì cả: “Sống với nhau mà không giữ được lòng tử tế thì chẳng ra làm sao cả!”

    Trở lại việc tìm hiểu tâm tư ông Trần Độ qua những người quen thân ông Độ, ngày 13 Tháng Giêng 1999, tôi điện thoại thăm ông Hoàng Minh Chính, cựu Viện trưởng Viện Triết Học Mác Lê và là nạn nhân nổi tiếng nhất của vụ án mà đảng Cộng Sản gọi là “Vụ Xét Lại Chống Đảng.”  Ông Chính cho biết, hôm Mùng Bẩy, tức là ba ngày sau khi ông Trần Độ bị khai trừ, ông có đến gặp ông Độ. Ông Chính nói: “Tôi thấy anh ấy thanh thản, và hình như anh ấy thấy đã được giải phóng khỏi cái vòng kim cô. Nếu như tôi không lầm thì anh ấy thanh thoát và quyết tâm vững vàng để phục vụ tổ quốc và nhân dân.”

    Tôi hỏi ông Chính là số người đồng ý với những bài viết đòi tự do dân chủ của ông Độ có đông không, ông Chính nói, nhiều cán bộ cấp thứ trưởng nghỉ hưu, nhiều người còn tại chức mang cấp vụ trưởng, các sĩ quan cấp tá, thậm chí cấp tướng nữa, cũng đồng tình với những điều triệt để do ông Độ nêu ra. Thế còn giới lãnh đạo đảng thì sao, tôi hỏi ông Chính, ông bảo, lãnh đạo của đảng bị ở thế giữa ngã ba đường. Nếu không phê phán bài của ông Trần Độ thì không được. Mà phê phán thì 30, 40 bài chỉ trích ông Độ đăng trên báo Nhân Dân bị người ta chê là dưới tầm, nội dung yếu. Mà quan điểm của ông Trần Độ đề ra là những vấn đề lớn nhất của đất nước khiến lãnh đạo cao nhất của đảng phải suy ngẫm. Thế nên lãnh đạo mới lo. Lo mà để yên thì sẽ có các bài khác ủng hộ ông Trần Độ, mà đã có một loạt bài rồi. Vì thế nên mới ngăn chặn, rồi dẫn đến khai trừ ông Độ.

    Tiến sĩ Địa Vật Lý Nguyễn Thanh Giang cũng cho tôi nhiều nhận định lý thú về ông Độ. Cùng ngày nói chuyện với ông Hoàng Minh Chính, tôi được ông Giang cho biết qua điện thoại, là ông đã đến thăm và nói với ông Độ rằng, ông Độ nên xem việc bị khai trừ là bình thường, và “ông Trần Độ thế nào thì cứ là ông Trần Độ như thế thì ông Độ sẽ đi vào lịch sử.” Ông Giang còn cho biết là ông đã nói cho giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam biết là họ đừng làm thế (khai trừ ông Độ), chẳng có lợi gì cho họ, vì chỉ gây nhiều buồn phiền cho những người có thiện tâm, những người sống có tình có nghĩa vì ai cũng đều thấy việc ông Trần Độ lên tiếng cho tự do dân chủ là xứng đáng làm. Ông Giang bảo, chẳng riêng ông Phạm Quế Dương trả thẻ đảng, mà còn có đảng viên khác đã tỏ sự ủng hộ ông Trần Độ, nhưng ông Giang không quan tâm lắm đến vấn đề này, vì trong đất nước ta hiện nay còn có nhiều vấn đề khác đáng lo hơn nhiều, ông Trần Độ chỉ là một trong những vấn đề nổi cộm trong nhiều vấn đề khác phải lo lắng. Đó là các vấn đề ai cũng biết rồi. Vụ Thái Bình, Uy Nỗ, những thứ ấy đều là vấn đề cả chứ. Tôi hỏi ông Giang rằng trong tình huống hiện nay, liệu Việt Nam có yếu tố Gorbachev không, có yếu tố Ceaucescu không, có yếu tố Thiên An Môn không, ông trả lời rằng “chả cái gì rõ cả, nhưng cái gì cũng có, cũng giống như ngành địa chất học, nhiều chỗ tưởng không có mỏ, nhưng nếu huy động đủ trí tuệ thì có khi nó bùng nổ thành cuộc cách mạng đại kỹ nghệ.”  Ông Giang cười sảng khoái nhận định như thế.

    ***

    Bản thân ông Trần Độ, ông nghĩ gì khi bị khai trừ khỏi cái tổ chức mà ông đã dành gần trọn đời người để hy sinh và tận tụy với nó?

    Lá thư phản kháng dài sáu trang đánh máy của ông đề ngày 22 Tháng Bảy, 1999, gởi cho các cấp lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam cho ta thấy phần nào tâm tư của ông. Một đoạn trong thư, ông viết: “Tôi là đảng viên bị khai trừ. Tôi bị khai trừ là phải. Nếu không khai trừ tôi, có lúc tôi phải xin ra khỏi cái đảng này. Tôi không thể chấp nhận và thừa nhận cái đường lối nhiều mâu thuẫn nửa vời, lằng nhằng, nặng chất giáo điều, bảo thủ, khó cho đất nước phát triển. Tôi cũng không thể chấp nhận phương thức lãnh đạo của đảng. Đó là một phương thức độc tôn, toàn trị chuyên chế, phản dân chủ. Còn với chủ nghĩa xã hội, tôi không hề chống. Tôi chỉ không tán thành cái thứ chủ nghĩa xã hội đã thất bại trên thế giới và đã gây nghèo đói ở Việt Nam.”

    Nhưng có lẽ rõ ràng và dứt khoát hơn cả là bốn câu thơ ông Trần Độ viết trong bút ký “Một Cái Nhìn Trở Lại” vào Tháng Chín năm 1988 khi ông vừa tròn 75 tuổi:

    Những mơ xóa ác ở trên đời (lúc bắt đầu)
    Ta phó thân ta với đất trời (dấn thân)
    Ác xóa đi, thay bằng cực thiện (thắng lợi)
    Tháng ngày biến hóa, ác luân hồi (trở lại ác)

    (*ghi chú: những chữ trong ngoặc là của chính ông Trần Độ).

    Đọc bốn câu thơ trên, tôi có cảm tưởng nghe thấy tiếng thở dài, ray rứt của ông Độ.

    Trong bút ký, ông còn nhấn mạnh rằng, “Dân tộc Việt Nam không nên lệ thuộc vào bất cứ chủ nghĩa nào, học thuyết nào. Đảng Cộng Sản có quyền có học thuyết của mình, nhưng không được bắt tất cả mọi người phải theo học thuyết đó. Vì mọi người, nhất là người Việt Nam hiện nay đã đủ trình độ để nhận xét chân lý và đạo lý.”

    Một đoạn khác của cuốn bút ký, ông đã dàn trải rất rõ tâm sự của mình. Ông viết: “Tôi có nhiều cái để chống. Tôi chống năm cái. Đó là thói quan liêu. Tệ tham nhũng. Thói lừa dối mưu mẹo, thủ đoạn để mưu lợi và hại người. Tệ cơ hội, nịnh hót. Bệnh độc đoán, thiếu Dân Chủ. khinh thường nhân dân. Các ông có những cái ấy thì tôi chống. Tôi thấy cái bộ máy cai trị Việt Nam hiện nay là một bộ máy đàn áp, bóp nghẹt, không muốn nghe một tiếng nói nào.”

    ***

    Cuối tháng 11 năm 2000, Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton viếng thăm Việt Nam. Ngày 4 Tháng 12, tôi điện thoại xin phỏng vấn ông Trần Độ. Lần này ông đồng ý cho thâu âm để phát thanh. Cuộc phỏng vấn xoay quanh nhiều vấn đề, nguyên văn một vài đoạn như sau:

    Tổng Thống Bill Clinton vừa viếng thăm Hà Nội và đã trở về Washington. Ông nhận định như thế nào về chuyến công du Việt Nam của nguyên thủ Hoa Kỳ?

    “Tôi đánh giá rất tốt chuyến đi của ông Clinton, vì nó biểu hiện một xu thế chung của thế giới hiện nay là mọi người đều mong muốn hòa bình và hòa giải. Việt Nam với Mỹ trước đây vốn là hai nước đã đối địch với nhau trong một cuộc chiến tranh ác liệt, thì nay lại có sự thăm hỏi bình thường quan hệ với nhau, thế là tốt lắm và đáng mừng lắm. Tôi tin chắc chắn là qua cuộc quan hệ này, qua hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Mỹ, Việt Nam sẽ phát triển tốt hơn. Thế cho nên tôi rất hoan nghênh chuyến viếng thăm của Tổng Thống Clinton.”

    Ngay sau khi Tổng Thống Clinton rời Việt Nam, một vị tướng của Hà Nội là Trung Tướng Lê Văn Dũng, tổng tham mưu trưởng kiêm thứ trưởng quốc phòng đã có một bài xã luận đăng trên báo của đảng, nói rằng bộ đội của đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam quyết tâm đập tan mọi diễn biến hòa bình trước khi chúng trở thành sự thật. Ông có nghĩ rằng lời phát biểu của Tướng Lê Văn Dũng phản ảnh quan điểm của đảng Cộng Sản Việt Nam và khi nói “diễn biến hòa bình” là muốn ám chỉ Hoa Kỳ không ạ?

    Tôi không đọc bài đó. Ít lâu nay tôi cũng không đọc báo Nhân Dân và báo Quân Đội Nhân Dân. Nhưng mà tôi nghe các đài thì có nói đến bài đó và chắc chắn ông Lê Văn Dũng phải nói lên quan điểm của đảng Cộng Sản rồi. Quan điểm của tôi thì khác. Tôi thấy bây giờ không có cái trò diễn biến hòa bình đâu. Chỉ những nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam mới tưởng tượng những cái trò như thế, bày đặt ra như thế để hạn chế dân chủ trong nước, chứ không có diễn biến hòa bình đâu.

    Trong những bài viết gần đây của ông, người đọc nhận thấy rằng, càng ngày ông càng dứt khoát và cả quyết dấn thân cho lý tưởng đấu tranh cho dân chủ-tự do của Việt Nam. Điều này có đúng không ạ?

    Nước Việt Nam mà không dân chủ thì không phát triển được. Và tôi rất muốn đất nước được phát triển tốt đẹp. Vì vậy tôi cho rằng phải có dân chủ mới phát triển được. Còn chế độ hiện nay là một chế độ không dân chủ và phản dân chủ.

    Trả lời một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình CNN, vị nguyên thủ Hoa Kỳ phát biểu rằng, tự do và dân chủ tại Việt Nam là một tiến trình không thể đảo ngược được. Ông nghĩ sao về lời phát biểu này?

    Tôi cũng cho là như thế. Bởi vì càng ngày, nhất là giới trẻ càng cần phải có dân chủ. Và tiến trình dân chủ cứ diễn ra mà không cưỡng lại được.

    Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt cách đây 25 năm và đất nước giờ phút này đang phải gánh chịu tình trạng tụt hậu về mọi lãnh vực, từ tinh thần, vật chất lẫn nhân phẩm của người dân. Ông đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của đảng Cộng Sản, thế thì nếu trong một trường hợp nào đó, ông gặp gỡ một vị sĩ quan mang cùng cấp bậc với ông trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa hoặc là một người sống trong chính thể miền Nam trước năm 1975, ông sẽ nói gì với những người đã từng đối nghịch chiến tuyến với ông?

    ếu tôi có gặp, thì bây giờ tôi sẽ coi họ là một người Việt Nam và nói chuyện bình thường với nhau. Và họ muốn nói chuyện gì tôi cũng sẽ nói chuyện với họ như những người Việt Nam nói chuyện với nhau.

    ***

    Một câu chuyện có liên quan xa gần đến ông Trần Độ: “cành đào” trong Dinh Độc Lập mà một số bài viết, một số người cho rằng chính ông Độ từ bưng biền đem vào biếu Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong dịp Tết năm 1963.

    Một lần, được ngồi hầu chuyện cụ Cao Xuân Vỹ, nguyên Tổng Ủy Viên Thanh Niên Đệ Nhất Cộng Hòa cho đến thời điểm đảo chánh năm 1963, tôi nêu chuyện “cành đào” ra hỏi cụ, cụ nói, chuyện cành đào là có thật và người biết rõ là Giáo sư Tôn Thất Thiện, nguyên Bộ Trưởng Thông Tin thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

    Nhân một lần đi Canada, tôi đến thăm bác Tôn Thất Thiện, tôi hỏi bác chuyện này, bác cho biết, theo lời Cố Vấn Ngô Đình Nhu, thì người đem cành đào vào Dinh Độc Lập là Tướng Trần Độ.

    Tôi gọi điện thoại về Hà Nội hỏi ông Trần Độ, ông trả lời, giọng lạnh tanh, vỏn vẹn chỉ vài chữ: “làm gì có chuyện đó”.

    Tôi gọi hỏi ông Hoàng Minh Chính, ông Chính bảo,”nếu đúng như người ta nói, thì đây là một chuyện liên quan đến tình báo, anh Độ có làm hay không chỉ anh ấy biết.  Vả lại, trong tình thế bị bủa vây như hiện nay, dù có thật là thế thì anh Độ cũng phải trả lời thế.”

    Lời nhắn gửi các ĐV đã im lặng bỏ Đảng và đang muốn ra Đảng

    Nguyễn Đình Cống

    Ngày 25/10 TS Chu Hảo bị đảng luận tội thì ngay sau đó, ngày 26/10 Nguyên Ngọc, Mạc Văn Trang, Trần Nam, Hoàng Tiến Cường, Hà Quang Vinh và cả Chu Hảo  tuyên bố từ bỏ ĐCS để vừa tỏ rõ quan điểm cùng ý chí của mình, vừa để phản đối việc luận tội đó. Tiếp theo còn nhiều người khác. Nguyễn Trung, nguyên cán bộ cao cấp Bộ Ngoại giao, nguyên trợ lý của Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ông Trung đã lặng lẽ từ bỏ đảng bằng cách nghỉ sinh hoạt, không đóng đảng phí từ năm 2006,  ngay sau khi nghỉ hưu. Hồi ấy ông đã biết rõ việc từ bỏ ĐCS là đúng, là cần, nhưng nhận thấy tình thế chưa thuận lợi cho việc công khai nên đành tạm chấp nhận giải pháp lặng lẽ, xem rằng đó chỉ là việc cá nhân. Ngay sau sự việc Chu Hảo, cùng với Nguyên Ngọc và nhiều người khác, Nguyễn Trung công khai việc từ bỏ ĐCS thông qua thư ngỏ gửi các bạn xa gần. Đó là việc được  hoan nghênh.

    Hiện nay có khá nhiều người đã, đang và sẽ từ bỏ ĐCS theo kiểu im lặng, tổ chức đảng và bạn bè không hề biết, có người còn không báo cho cả người nhà. Các vị cho như thế là khôn. Tôi thật lòng thông cảm với các vị, trong đó có người  giới thiệu tôi vào đảng. Lặng lẽ ra đảng là việc làm tốt, nhưng đó là giải pháp tình thế trong lúc chưa có thời cơ công khai. Sẽ là tốt hơn nhiều khi công khai minh bạch. Hiện nay thời thế đã biến chuyển. Người như Chu Hảo nghĩ rằng mặc dầu bất đồng chính kiến nhưng ở lại trong đảng sẽ có được sự đóng góp tích cực và hữu ích; người như Nguyên Ngọc, thấy đảng đã tỏ ra phản nước hại dân, quyết tâm từ bỏ, chỉ cần chọn thời cơ, nay đã  có dịp tốt; người như Nguyễn Trung, tự ra đảng từ lâu, vì tình thế chưa thể công khai, nay đã có thời cơ để minh bạch.

    Sự ra đảng một cách im lặng dù có tốt, nhưng  vẫn thiếu sự minh bạch, thiếu dũng khí, chứa đựng sự sợ hãi. Sợ sẽ làm cho người ta hèn kém. Mà sợ cái gì kia chứ. Phương châm biết sợ để tồn tại đã lỗi thời. Những điều người ta đem ra để hù dọa như sẽ ảnh hưởng xấu đến con cháu chỉ giống như  kiểu dọa có ma. Tôi và nhiều người công khai tuyên bố từ bỏ ĐCS, tuy một vài tháng đầu tiên có gặp phải vài trở ngại, nhưng nhanh chóng qua đi, đặc biệt không ảnh hưởng gì đáng kể đến con cháu. Tôi nghĩ, các vị đang có ý muốn từ bỏ đảng thì dịp này nên mạnh dạn lên, các vị đã im lặng từ bỏ rồi thì tìm cách công khai. Hãy công khai việc làm chính trực cho bạn bè và tổ chức đảng biết. Đó sẽ là một đóng góp quý báu cho công cuộc chống lại độc tài toàn trị nhằm dân chủ hóa đất nước.

    Hãy từ bỏ đảng Cộng sản!

    Phạm Chí Dũng

    image
    Bỏ? Hay không bỏ?

    Trong thực tế, chưa có ai từ bỏ đảng mà bị mất sổ lương hưu, vì nếu chính quyền cắt sổ hưu của người bỏ đảng là vi phạm pháp luật. Từ bỏ ‘phản dân hại nước’!

    Sau tuyên bố từ bỏ đảng Cộng sản Việt Nam rất mạnh mẽ “Từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy Đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, “tự diễn biến” thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước. Tôi không thể còn đứng trong một tổ chức như vậy” của nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Chu Hảo - đương sự chính đang bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương của đảng đe dọa kỷ luật vì tội ‘suy thoái tư tưởng’ và ‘tự diễn biến’, đã thực sự làm một cuộc cách mạng đối với bản thân ông: “Càng ngày tôi càng nhận thức rõ hơn rằng tổ chức chính trị mà mình tham gia đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại” - tuyên bố từ bỏ đảng Cộng sản của Chu Hảo, ký vào ngày 26/10/2018 và được công bố 3 ngày sau đó.

    Rất chia sẻ và xin chúc mừng nhà khoa học Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc và những trí thức khác đã xác quyết từ bỏ 'đường về nô lệ' và ‘phản dân hại nước’.

    Sáng lập:

    Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

    Điều hành:

    Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

    Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

    boxitvn.online

    boxitvn.blogspot.com

    FB Bauxite Việt Nam


    Bài đã đăng

    Được tạo bởi Blogger.

    Nhãn