Hiển thị các bài đăng có nhãn Quốc Tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quốc Tế. Hiển thị tất cả bài đăng

“Chuỗi cung ứng” IPEF: Mỹ và 13 nước hợp tác tránh phụ thuộc Trung Quốc

Trọng Thành

Đại dịch Covid và cuộc xâm lăng Ukraine của Nga đã phơi bày một thực tế: Tính dễ tổn thương của nền kinh tế toàn cầu. Nhiều nền kinh tế lâm vào tình trạng thiếu hụt nặng nề các loại hàng hóa thiết yếu. Một nguyên nhân căn bản được chỉ ra: Phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc.

clip_image002

Bộ trưởng 14 nước tham dự Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (IPEF) chụp ảnh ở Los Angeles, California, ngày 8/9/2022. AFP - FREDERIC J. BROWN

Chủ động về “các chuỗi cung ứng hàng hóa” ngày càng được nhiều quốc gia coi như một vấn đề an ninh quốc gia. Chính quyền Mỹ thời Tổng thống Joe Biden đã xác định từ sớm việc chủ động “các chuỗi cung ứng hàng hóa” là một trụ cột trong chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. “Các chuỗi cung ứng” là một trong nội dung chính của IPEF, còn gọi là “Khung Kinh tế Ấn Độ-Thái Bình Dương vì sự Thịnh vượng (IPEF là tên gọi tắt của Indo-Pacific Economic Framework for Prosperity). Tham gia IPEF có 14 quốc gia đối tác, gồm: Australia, Brunei, Fiji, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, New Zealand, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Hoa Kỳ và Việt Nam. IPEF cũng thường được gọi với tên rút gọn là ''Khung Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương''.

Thế giới 2023: Một năm nhiều lo lắng

Danh Đức

02/01/2023

TTCT - Ở châu Âu, chiến sự vẫn tiếp tục. Ở châu Á, vài nước vẫn cứ đang hầm hè chiến tranh. Ở nhiều nơi, không ít người rơi vào tình trạng túng quẫn. Ở Trung Quốc, đại dịch Covid-19 chưa bớt. Thế giới vẫn sẽ còn nhiều nỗi lo.

clip_image002

Bên trong một bệnh viện dã chiến ở Vũ Hán. Ảnh chụp tháng 2-2020. Ảnh: AP

Chiến cuộc Ukraine - Nga, như mọi cuộc chiến khác, mỗi bên đều ôm chặt lấy tâm lý giành chiến thắng. Mặt khác, do ngày càng thêm tổn thất, nên càng đòi "ăn tươi nuốt sống" đối phương, thế là không những chưa có cửa cho hi vọng hòa bình, mà còn đe dọa đụng độ trực tiếp giữa hai "ông lớn".

Trước thềm năm mới và thời đại mới

Nguyễn Quang Dy

Những đợt rét đậm kéo dài trong mùa giáng sinh (2022) như muốn báo hiệu một năm mới bất thường (2023), và một thời đại mới bất định. Thế giới chưa thoát khỏi đại dịch Corona thì chiến tranh Ukraine đã ập tới. Đến nay, Trung Quốc vẫn chưa thoát khỏi đại dịch vì chính sách “zero Covid”, làm dân chúng “tức nước vỡ bờ”. Dù các nước có thoát khỏi đại dịch thì còn lâu mới thoát khỏi hệ quả nặng nề đối với hệ thống y tế và nền kinh tế.  

Biến số khó lường

Sau hai thập niên khởi đầu thế kỷ 21, loài người đã bị sốc bởi hai sự kiện khó lường. Một là đại dịch Corona đã làm 15 triệu người chết (theo WHO, tính đến tháng 5/2022), làm cho nhiều quốc gia, kể cả siêu cường cũng bị khủng hoảng. Hai là cuộc chiến tranh Nga-Ukraine đã làm cho hàng trăm ngàn lính Nga và Ukraine bị chết (theo các nguồn báo chí), và hàng chục triệu người dân Uktraine phải sơ tán khỏi quê hương (theo UNHCR). 

Cuộc chiến tranh Nga-Ukraine không chỉ làm cho số người chết ngày càng tăng, và nhiều thành phố của Ukraine bị phá hủy (destruction), mà nó còn làm cho nước Nga bị suy sụp từ bên trong (implosion). Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn chưa có hồi kết, không chỉ làm thay đổi vận mệnh của nước Nga và Ukraine, mà còn làm đảo lộn cả trật tự thế giới. Đó không phải là “xung đột giữa các nền văn minh” hay do “ba dòng thác cách mạng”.

Làm thế nào để quản lý rủi ro từ một Trung Quốc suy yếu?

 

Jonathan Tepperman, “China’s Dangerous Decline,” Foreign Affairs, 19/12/2022

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Washington cần có sự điều chỉnh khi những rắc rối của Bắc Kinh ngày một gia tăng.

Hai tháng vừa qua là một trong những thời điểm quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc đương đại. Dấu mốc đầu tiên là Đại hội Đảng lần thứ 20, sự kiện được Chủ tịch Tập Cận Bình sử dụng để loại bỏ những đối thủ duy nhất còn sót lại của mình. Sau đó vài tuần, tại Trung Quốc nổ ra làn sóng biểu tình lan rộng nhất mà nước này từng chứng kiến kể từ các cuộc biểu tình rầm rộ ở Quảng trường Thiên An Môn và nhiều nơi khác vào năm 1989. Thế rồi, chưa đầy một tuần sau, một hồi kết đáng kinh ngạc đã xuất hiện: trong một hành động nhượng bộ hiếm hoi (và không được thừa nhận), Bắc Kinh tuyên bố họ đang nới lỏng một số chính sách “zero COVID” đã khiến rất nhiều người tức giận xuống đường.

Năm 2022 thế giới đang đi về đâu?

Nguyễn Trung

Như tác giả nói, ông viết những điều nhận định dưới đây để cứu Đảng: “Phải cứu Đảng này, phải xây dựng lại nó trở thành lực lượng tinh hoa của dân tộc để cứu nước trong thế giới đa cực hỗn loạn hôm nay”.

Hãy tạm gác sang bên chuyện đó, BVN muốn chia sẻ bài viết này như một góc nhìn sắc sảo về chính trị thế giới của ông, một trí thức có cái nhìn uyên thâm, luôn nặng lòng với đất nước.

Bauxite Việt Nam

Năm 2022 nên được xem như một năm định mệnh của thế kỷ 21.

Ngày 24-02-2022 cuộc chiến tranh huỷ diệt của Nga xâm lược Ukraine bắt đầu – đây là cuộc chiến tranh theo đuổi mục tiêu phục hồi đế chế Nga của khát vọng sa hoàng Putin, đồng thời là “tác phẩm” đầu tiên[1] của hợp tác không giới hạn giữa liên minh Nga-Trung. Quá trình toàn cầu hoá nói chung và thị trường thế giới nói riêng trước đó vốn đã bị đại dịch covid 19 làm tê liệt, nay bị những hệ luỵ của cuộc chiến tranh này làm vỡ tung thành nhiều mảng xung đột nhau. Chiến tranh Lạnh II ngay tức khắc đi vào thời kỳ ác tính, trật tự quốc tế hiện hành bị đảo lộn và đi sâu vào cục diên 3 cực Mỹ, Trung, Nga với những tập hợp lực lượng mới rất phức tạp, nguy cơ chiến tranh lớn cận kề hơn bao giờ hết – Biden gọi đấy là nguy cơ một cuộc chiến của ngày tận thế (an Armageddon).

Xung đột có thể bùng phát ở đâu vào năm 2023?

Cù Tuấn dịch từ The Economist.

Tóm tắt: Hãy để mắt đến Đài Loan và Biển Đông và dãy Hymalaya.

clip_image002

Cuộc tranh luận gần đây về việc liệu một cuộc chiến tranh lạnh mới có đang diễn ra ở châu Á hay không là điều không cần phải bàn tới nữa. Vào năm 2023, những căng thẳng gia tăng sẽ nhấn mạnh rằng, mặc cho tất cả sự lạc quan vào đầu những năm 1990 rằng thế giới đang nghiêng về quan niệm của phương Tây về một trật tự mở, dựa trên luật lệ, thì cuộc chiến tranh lạnh nguyên thủy vẫn chưa bao giờ kết thúc trong khu vực. Giống như cuộc chiến của Nga ở Ukraine đã chứng minh rõ ràng quan điểm đó ở châu Âu vào năm 2022, năm tới sẽ chứng kiến ​​sự lặp lại tiếp theo của cuộc đấu tranh toàn cầu quy mô lớn giữa chủ nghĩa tự do và chế độ chuyên quyền diễn ra ở châu Á.

Đức muốn Việt Nam có “lập trường rõ ràng” về cuộc chiến Ukraine

BBC Tiếng Việt

clip_image002

Thủ tướng Việt Nam tiếp đón Thủ tướng Đức tại Hà Nội trước khi phái đoàn Đức hội đàm với phía Việt Nam tại Văn phòng Chính phủ vào chiều Chủ nhật 13/11.

Thủ tướng Đức vào ngày 13/11 đã tới Việt Nam trong phần đầu của chuyến công du bốn ngày ở châu Á.

Tăng cường hợp tác kinh tế và thương mại là ưu tiên nằm cao trong cuộc hội đàm song phương giữa Thủ tướng Olaf Scholz và Thủ tướng Phạm Minh Chính.

Truyền thông Việt Nam cho biết tại cuộc hội đàm với người tương nhiệm phía Đức, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Quốc hội Đức sớm hoàn tất phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA).

Cuộc chiến của Nga tại Ukraine cũng là chủ đề được nêu trong nghị trình.

Thế giới sẽ ra sao khi một đế chế sụp đổ?

Robert D. Kaplan, “The Downside of Imperial Collapse,” Foreign Affairs, 04/10/2022

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Khi một đế chế hoặc một cường quốc sụp đổ, hỗn loạn và chiến tranh sẽ lên ngôi.

Chiến tranh là “thời khắc bản lề” của lịch sử. Và những cuộc chiến không được chuẩn bị kỹ càng, khi đóng vai trò là điểm khởi đầu cho sự suy tàn của một quốc gia, có thể trở thành một đòn chí mạng. Điều này đặc biệt đúng đối với các đế chế. Nếu không thất bại trong Thế chiến I, Đế chế Habsburg, vốn đã cai trị Trung Âu suốt hàng trăm năm, hẳn đã có thể tiếp tục tồn tại bất chấp nhiều thập niên suy tàn. Có thể kết luận tương tự với Đế chế Ottoman, nơi mà từ giữa thế kỷ 19 đã được ví von là “bệnh nhân của châu Âu.” Đế chế Ottoman, giống như Đế chế Habsburg, có thể đã sống sót thêm hàng chục năm nữa, và thậm chí tái cấu trúc lại, nếu họ không phải là bên thua cuộc trong Thế chiến I.

Putin xù lông để che đậy thế yếu của mình?


Nguồn: Gideon Rachman, “Putin’s threats disguise a weakening position”, Financial Times, 10/01/2022.

Biên dịch: Phan Nguyên

Nước Nga đang bị bao vây. Kẻ thù của Nga đã tiến đến sát biên giới. Liên minh thù địch NATO hiện đang đe dọa kết nạp Ukraine – vốn là một phần về mặt lịch sử và tinh thần của Nga. Giờ đây tất cả phụ thuộc vào Vladimir Putin – với tư cách là người thừa kế của Peter Đại đế, Alexander Đệ Nhất và Joseph Stalin – trong việc lãnh đạo nước Nga từ Điện Kremlin chống lại các mối đe dọa trên.

Nói chung, đây là luận điệu mà chính phủ Nga đang tuyên truyền, tại thời điểm bắt đầu một tuần hội đàm quan trọng với phương Tây. Nga đã tăng cường binh lính ở biên giới với Ukraine, đe dọa xâm lược nước láng giềng phía tây, nhưng tuyên bố đây là một phản ứng phòng thủ trước sự bành trướng của NATO. Dmitri Trenin, giám đốc Trung tâm Carnegie Matxcơva, giải thích rằng đối với Putin “Ukraine là chốt chặn cuối cùng”.

Vũ điệu Rồng Tàu Gấu Nga

Thục Quyên

Sự trỗi dậy của Trung Quốc đang buộc Mỹ phải tập trung vào Đông Nam Á, khiến Mỹ không còn dồi dào nguồn lực để đầu tư vào nền an ninh Âu Châu. Với Mỹ, kịch bản tồi tệ nhất là một cuộc chiến tranh với hai mặt trận cùng lúc với Trung Quốc và Nga, trong khi đó, nền an ninh của Âu Châu thì cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề khi hai cường quốc này xích lại với nhau.(1)

Xu hướng xích lại với nhau của Trung Quốc và Nga càng ngày càng rõ rệt trong những năm gần đây.

Bắc Kinh và Moscow tuy chưa thành lập liên minh nhưng đã hợp tác với nhau trong các vấn đề ngoại giao và an ninh. Lập trường của họ tương tự nhau về nhiều vấn đề quốc tế; họ thường ủng hộ thế đứng của nhau trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Ngoài ra, họ đang mở rộng hợp tác quốc phòng, đánh dấu bằng việc bán vũ khí tối tân của Nga cho Trung Quốc như hệ thống phòng không S-400 và máy bay chiến đấu Su-35. và một loạt các cuộc tập trận chung dồn dập trên bộ cũng như của hải quân và không quân. Với thu nhập từ việc bán vũ khí cho Trung Quốc, Nga tài trợ cho nghiên cứu và phát triển quân sự, từ đó mở rộng sức mạnh kỹ thuật của mình.

Quan hệ đối tác giữa hai cường quốc này làm phức tạp thêm chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ. Mối quan hệ thắt chặt giữa Trung quốc và Nga đưa tới việc ủng hộ chiến lược lẫn nhau và đôi bên đều giảm bớt nỗi lo lắng đối tác có thể quay lưng và ngả sang phe Âu-Mỹ. Điều này tạo ra nhiều cơ hội hơn cho Bắc Kinh và Moscow để rảnh tay củng cố các phạm vi ảnh hưởng trong khu vực của họ: Bắc Kinh tại Hồng Kông, Biển Đông…. và Moscow tại Ukraine, Trung Đông…
Hành động phối hợp của Trung-Nga ở Âu Châu cho tới nay chỉ có thể được quan sát ở một mức độ hạn chế, nhưng mỗi nước này đều đã hành động theo cách của riêng mình để làm suy yếu an ninh khu vực.

Các khiếm khuyết của Mỹ trong chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương*

Henry Storey, The Interpreter 18/10/2021

Đỗ Kim Thêm dịch

Từ khi nhậm chức vào tháng Giêng năm 2021, Tổng thống Mỹ Joe Biden chưa thăm viếng bất cứ nhà lãnh đạo Đông Nam Á nào (White House/Adam Schutz/Flickr)

Khi Washington bắt đầu hình thành chủ trương xoay trục sang châu Á, việc trực tiếp xuất hiện và bắt đầu cuộc nói chuyện sẽ là những yếu tố quyết định thỏa thuận.

Ngoại trừ Ấn Độ, sợi dây chung liên kết chiến lược của Hoa Kỳ về Ấn Độ - Thái Bình Dương và rộng hơn là về Trung Quốc, cho đến nay là sự tập hợp của các đồng minh lâu đời của Hoa Kỳ.

Các cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên của Tổng thống Moon Jae-in với cựu Thủ tướng Yoshihide Suga bắt đầu có kết quả. Hàn Quốc đang bắt đầu tăng cường việc can dự vào khu vực. Nhật Bản ngày càng nghiêm túc hơn trong việc bảo vệ Đài Loan.

Dự đoán của Trung Quốc rằng thỏa thuận trong Bộ Tứ (Quad) giữa Úc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hoa Kỳ sẽ "tan biến như bọt biển" chỉ là ước vọng thôi. Ngay cả hiện nay, khi khía cạnh quân sự của Bộ Tứ còn bị hạn chế, nó vẫn sẽ làm phức tạp đáng kể cho kế hoạch phòng thủ của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Lời tái cam kết quyên tặng một tỷ liều vắc xin COVID-19 cho Đông Nam Á của Bộ Tứ là một ví dụ đáng hoan nghênh Hoa Kỳ trong việc đẩy mạnh cung cấp các mặt hàng có tiện ích công cộng. Nhìn xa hơn, các Hội nghị Thượng đỉnh G7 và NATO trong năm nay là chưa từng xảy ra trước đây, khi hai tổ chức này tập trung cho chuyên đề khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương.

Kênh Israel: Giải pháp thay thế Kênh đào Suez?

Nguyễn Hải Hoành

Tuần san The Arab Weekly ngày 30/3/2021 nói sự kiện tắc nghẽn kênh đào Suez đã làm cho cuộc thảo luận về các giải pháp thay thế kênh Suez – trong đó có dự án kênh đào Ben Gurion của Israel nối liền Biển Đỏ với Địa Trung Hải (còn gọi là kênh đào Israel) – trở nên sôi động. Người Israel coi tuyến đường này là đối thủ cạnh tranh của kênh Suez. Tel Aviv dự kiến biến kênh Israel thành một dự án nhiều mặt, như xây dựng các thị trấn nhỏ, khách sạn, nhà hàng và câu lạc bộ đêm xung quanh con đường thủy này.

Nhân dịp 380 tàu biển bị nằm chờ tại kênh Suez, phía Nga đã tung dự án tuyến hàng hải phương Bắc nói trên ra thị trường và cam kết Nga sẽ bảo đảm an toàn cho tuyến giao thông mới này, cũng như bảo đảm giá thành vận chuyển sẽ rẻ hơn. Tuyến đường biển này rút ngắn được 40% chiều dài tuyến hàng hải đi từ Trung Quốc qua Ai Cập đến châu Âu, thời gian hành trình bớt được 15 ngày.

Hạ tuần tháng 3 năm nay, cả thế giới nín thở theo dõi tiến trình giải quyết vụ khủng hoảng do tàu container khổng lồ Ever Given mắc cạn ở kênh đào Suez gây ra. Con kênh này hàng năm mang lại cho Ai Cập một nguồn thu đáng kể bình quân 6 tỷ USD (năm 2020 là 5,61 tỷ USD). Việc nó dừng hoạt động một tuần đã gây thiệt hại cho Ai Cập cũng như các chủ hàng có tàu nằm chờ qua kênh. Hàng năm có khoảng 19.000 tàu biển chở lượng hàng hoá giá trị tương đương chừng 10% kim ngạch thương mại toàn cầu đi qua con kênh này. Cuộc khủng hoảng Suez đã làm rung chuyển hệ thống thương mại toàn cầu, và cho thấy hệ thống này thật mong manh, dễ gặp trở ngại vào bất cứ lúc nào.

Tại sao chế độ quân chủ đã lỗi thời và cần bị hủy bỏ?

Greg Barns

Phan Nguyên dịch

Trên khắp châu Á, báo chí đang đưa tin rất nhiều về các vị quốc vương. Ở Thái Lan, nhiều người cảm thấy phẫn nộ với Vua Maha Vajiralongkorn, người không chỉ sống phần lớn thời gian ở Đức mà còn bận rộn tìm cách áp đặt chế độ quân chủ mang tính đàn áp lên người dân của mình.


Quốc vương Malaysia, Sultan Abdullah Ri’ayatuddin, đã tăng cường can thiệp vào chính trị, từ chối chấp nhận yêu cầu của lãnh đạo phe đối lập Anwar Ibrahim rằng ông cần được phép thành lập chính phủ khi giờ đây ông nhận được đa số ủng hộ trong quốc hội.

Chiến thắng của Biden mang lại hi vọng lẫn nghi ngờ ở Bắc Kinh

Cheng Li

Nguyễn Thanh Hải dịch


 Việc cài đặt lại quan hệ Mỹ-Trung sẽ không hề dễ dàng.

Chưa bao giờ Bắc Kinh lại quan tâm đặc biệt đến kết quả của một cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ như cuộc bầu cử lần này. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiểu rằng sự cạnh tranh sẽ định hình quan hệ Mỹ-Trung trong tương lai dù cho ai là ông chủ tiếp theo của Nhà Trắng. Tuy vậy, họ cũng tin rằng chiến thắng của cựu Phó Tổng thống Joe Biden trước Tổng thống đương nhiệm Donald Trump sẽ tạo ra cơ hội để tạm ngừng, hoặc ít ra là làm chậm lại, việc tiến đến quan hệ đối đầu đang rất đáng báo động giữa hai nước.

Thắng lợi lớn của TQ, hồi chuông cảnh tỉnh dành cho Mỹ: RCEP là "liều thuốc bổ mà châu Á đang cần"?

Hồng Anh

Ngày 15/11, Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) - thỏa thuận thương mại lớn nhất thế giới - đã được ký kết sau 8 năm đàm phán.

"Thỏa thuận thương mại lớn nhất thế giới"

Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP - Hồng Kông đưa tin, hôm 15/11 vừa qua, Trung Quốc vừa giành được một "thắng lợi" khi 15 quốc gia châu Á - Thái Bình Dương ký kết Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) - thỏa thuận thương mại lớn nhất thế giới không có sự tham gia của Mỹ.

Thỏa thuận RCEP được kí kết sau hành trình 8 năm đàm phán, và trong bối cảnh đang có nhiều câu hỏi đặt ra về những cam kết của Washington trong khu vực - bởi hiện tại Mỹ không tham gia vào 2 trong số các nhóm thương mại quan trọng tại khu vực phát triển nhanh nhất thế giới là RCEP và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Bá quyền kết thúc như thế nào – Sự rã rệu của quyền lực Mỹ

 Alexander CooleyDaniel H. Nexon, Foreign Affairs, tháng Bảy/tháng Tám 2020

Trần Ngọc Cư dịch 

[ALEXANDER COOLEY là Giáo sư Chính trị học Ngạch Claire Tow tại Barnard College và là Giám đốc Viện Nghiên cứu Harriman tại Columbia University.

DANIEL H. NEXON là Phó Giáo sư tại Phân khoa Chính quyền tại Trường Nghiệp vụ Nước ngoài Edmund A. Walsh tại Đại học Georgetown.

Hai ông là tác giả cuốn Exit From Hegemony: The Unraveling of the American Global Order (Chấm dứt bá quyền: Sự rã rệu của trật tự toàn cầu Mỹ).] 

Nhiều dấu hiệu cho thấy một cuộc khủng hoảng đang diễn ra trong trật tự toàn cầu. Phản ứng quốc tế thiếu phối hợp trong việc đối phó đại dịch COVID-19, suy thoái kinh tế tiếp sau đó, sự hồi sinh của chính trị dân tộc chủ nghĩa và chính sách cứng rắn về biên giới quốc gia hình như báo trước sự xuất hiện của một hệ thống quốc tế thiếu hợp tác và mong manh hơn. Theo nhiều nhà quan sát, những phát triển này nêu bật sự nguy hiểm của chính sách “nước Mỹ trước hết” của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và việc ông rút lui khỏi vai trò lãnh đạo toàn cầu. 

Thế kỷ châu Á đang gặp hiểm hoạ

(Mỹ-Trung Quốc và các nguy cơ đối đầu)

Lý Hiển Long, Foreign Affairs, Tháng Bảy/Tháng Tám 2020

Trần Ngọc Cư dịch

clip_image002

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ở Bắc Kinh, tháng 11, 2017

“Trong những năm gần đây, người ta nói rằng thế kỷ tiếp theo sẽ là thế kỷ của châu Á và Thái Bình Dương, như thể đó là điều chắc chắn. Tôi không đồng ý với quan điểm này.” Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã đưa ra lập luận đó với Thủ tướng Ấn Độ Rajiv Gandhi vào năm 1988. Hơn 30 năm sau, Đặng tỏ ra đã biết trước. Sau nhiều thập kỷ thành công về kinh tế, châu Á ngày nay là khu vực phát triển nhanh nhất thế giới. Trong thập kỷ này, các nền kinh tế châu Á sẽ trở nên lớn hơn so với phần còn lại của các nền kinh tế thế giới cộng lại, một điều chưa từng có từ thế kỷ XIX. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, cảnh báo của Đặng vẫn còn giá trị: một thế kỷ châu Á vừa không phải là điều tất yếu vừa không thể định trước được.

Châu Á đã phát triển thịnh vượng nhờ Pax Americana [nền hoà bình do Mỹ thiết lập] tồn tại từ cuối Thế chiến II, đã cung cấp một bối cảnh chiến lược thuận lợi. Nhưng bây giờ, mối quan hệ đầy khó khăn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đặt ra những câu hỏi sâu sắc về tương lai châu Á và hình dạng của một trật tự quốc tế đang xuất hiện. Các quốc gia Đông Nam Á, bao gồm cả Singapore, đặc biệt quan tâm, vì họ sống ở giao điểm lợi ích của nhiều cường quốc khác nhau và phải tránh bị mắc kẹt giữa hoặc bị ép buộc vào những lựa chọn làm mất lòng phe này hoặc phe khác.

Nguyên trạng ở châu Á chắc chắn phải thay đổi. Nhưng liệu cấu hình mới sẽ cho phép khu vực này thành công hơn nữa hoặc mang lại sự mất ổn định nguy hiểm? Điều đó phụ thuộc vào các lựa chọn mà Hoa Kỳ và Trung Quốc đưa ra, riêng biệt và cùng nhau. Hai cường quốc phải xây dựng một thoả ước chung sống hòa bình, modus vivendi, theo đó họ sẽ cạnh tranh trong một số lĩnh vực mà không cho phép sự cạnh tranh này gây độc hại cho sự hợp tác ở các lãnh vực khác.

Những chỉ dấu bất ổn đầu năm mới

Nguyễn Quang Dy

Từ đầu năm 2020, Việt Nam là Chủ tịch ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội Đồng Bảo an LHQ. Đó là tin mừng, nhưng cũng là thách thức. Ngay đầu năm mới đã có những chỉ dấu bất ổn. Trong nước, câu chuyện Đồng Tâm từ đối thoại nay thành đối đầu bạo lực, làm dư luận bất bình về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam. Tại Biển Đông, Trung Quốc lại cho tàu hải cảnh đến phía Nam Bãi Tư Chính quấy rối và bắt nạt Việt Nam, sau khi đã quấy rối và bắt nạt Indoneisa tại vùng biển Natuna. Trong khi Mỹ-Trung dự kiến ký thỏa thuận thương mại giai đoạn một vào giữa tháng giêng, xung đột Mỹ-Iran xô đẩy Trung Đông vào một cuộc khủng hoảng mới, có thể tác động xấu khó lường đến diễn biến tại Biển Đông và Đông Á.  

Câu chuyện Đồng Tâm

Theo dương lịch, Việt Nam đã bước sang năm mới (2020), nhưng theo âm lịch, còn gần hai tuần nữa mới hết năm Kỷ Hợi (2019). Đây là thời điểm gối đầu giữa năm cũ và năm mới, mà theo truyền thống người Việt thường nghỉ Tết để đón năm mới. Ngay trong chiến tranh Việt Nam, hai phe thường hưu chiến vào dịp Tết để đón năm mới. Sự kiện Tết Offenssive (1968) là một ngoại lệ khi Hà Nội đã quyết định bất ngờ tổng tấn công chiến lược.

Nhưng Đồng Tâm không phải là Tết Offenssive, khi hàng ngàn cảnh sát cơ động tấn công vào rạng sáng 9/1/2020. Đó không phải là cuộc chiến sống còn giữa hai phe đối kháng, mà chỉ là tranh chấp ruộng đất (dân sự) đã bị hình sự hóa một cách cực đoan thành xung đột bạo lực giữa chính quyền và nhóm lợi ích thân hữu với người dân bị mất đất. Đồng Tâm cũng như Tiên Lãng, Dương Nội, Thủ Thiêm, khởi đầu bằng sự kiện Thái Bình (1997).

Khi được báo cáo về uẩn khúc tại Thái Bình, ông Đỗ Mười (cựu Tổng Bí Thư) lúc đó đã thốt lên “hóa ra ta đánh ta”. Chính quyền sau đó có “sửa sai” tại Thái Bình, và hy vọng đang tìm cách “sửa sai” tại Thủ Thiêm. Đã có lúc chính quyền chọn đối thoại với Đồng Tâm (4/2017) khi ông Nguyễn Đức Chung (Chủ tịch Hà Nội) cùng ông Dương Trung Quốc và Lưu Bình Nhưỡng (đại biểu Quốc Hội) về Đồng Tâm hòa giải với dân để tránh đổ máu.

Nhưng đáng tiếc là sau đó chính quyền chỉ muốn dùng đối thoại như kế hoãn binh, để “một bước lùi, hai bước tiến”, chứ không thực sự muốn tìm giải pháp ôn hòa để tháo gỡ bế tắc, mà quyết dùng bạo lực để trấn áp. Cách xử lý khủng hoảng Đồng Tâm cực đoan hơn là “Ba Đặc khu” và “Đường Cao tốc Bắc-Nam”, không phản ánh xu thế đối thoại, làm dư luận bất bình. Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội Đảng XIII, có người nghĩ đến “thuyết âm mưu” khi các phe phái tranh giành quyền lực có thể hy sinh Đồng Tâm như thí tốt.

Câu chuyện Đồng Tâm lẽ ra có thể giải quyết ôn hòa, nhưng nay đã biến thành xung đột đổ máu vào đúng lúc người Việt cần đồng thuận dân tộc để đối phó với ngoại xâm và kiến tạo lại đất nước. Trước những thách thức trong một thế giới bất định, Biển Đông đã biến thành một thùng thuốc súng khó lường, vì tranh giành quyền lực Trung-Mỹ và các đồng minh hay đối tác. Trong khi ASEAN bị phân hóa bởi Trung Quốc, Việt Nam muốn phát huy vai trò Chủ tịch ASEAN thì phải giữ được chủ quyền quốc gia và lấy đồng thuận dân tộc làm gốc. 

Trừng phạt quốc tế có hiệu quả hay không?

Đức Tâm

Tổng thống Donald Trump ký quyết định rút Hoa Kỳ ra khỏi hiệp định hạt nhân Iran và tái lập trừng 
phạt đối với Teheran, Nhà Trắng, Washington, ngày 08/05/2018. GETTY IMAGES

Bắc Triều Tiên, Iran, Syria, Venezuela, Nga… Đó là một vài nước nằm trong danh sách các quốc gia bị Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây khác trừng phạt. Tuy kinh tế bị tác động nặng nề, gặp nhiều khó khăn, nhưng các nước bị trừng phạt này dường như vẫn «trơ lỳ», không có những thay đổi chính trị, ngoại giao đáng kể. Vậy các trừng phạt kinh tế để làm gì và có hiệu quả hay không?
Khái niệm trừng phạt bao gồm nhiều biện pháp có bản chất khác nhau như hạn chế trao đổi thương mại, trừng phạt tài chính thông qua việc phong tỏa tài khoản, tài sản, xem xét lại viện trợ cho phát triển, cấm nhập cảnh… Và tùy theo từng trường hợp, đối tượng bị trừng phạt có thể là một nước, một tổ chức, một pháp nhân (như doanh nghiệp, định chế, …) hoặc các cá nhân.
Trong thế kỷ 20, đặc biệt là từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay, các trừng phạt quốc tế ngày càng được sử dụng nhiều. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế Peterson, từ năm 1914 đến 2007, đã có tới 204 biện pháp chế trừng phạt kinh tế được đưa ra. Tuy vậy, khi đề cập đến hiệu quả, giới chuyên gia tỏ ra thận trọng. Trường hợp Zimbabwe (trước kia là Nam Rhodesia) thường được nêu ra nhưng vẫn gây tranh cãi.
Trên đài RFI, ông Bastien Nivet, chuyên gia phân tích chính trị, thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược, Trường Quân sự Pháp, cho biết thêm:
«Trong các ví dụ đôi khi được nêu ra để chứng minh cho hiệu quả của các trừng phạt, người ta thường nói tới trường hợp Iran. Năm 2013, đã có một cuộc thảo luận về việc ông Mahmoud Ahmadinejad đắc cử tổng thống Iran. Nhân vật này được coi là ôn hòa và lúc đó, Iran đang hứng chịu những trừng phạt nặng nề do Hoa Kỳ, châu Âu và nói chung là của cộng đồng quốc tế. Thế là một số người nhất là những người ủng hộ trừng phạt nặng nề, nói ngay: Thấy chưa. Họ cho rằng cấm vận, trừng phạt đã mang lại kết quả và chính vì thế mà Ahmadinejad, trong mắt họ là ôn hòa, đã thắng cử. Họ nhấn mạnh rằng trừng phạt nặng nề sẽ dẫn đến những thay đổi chính trị. Đương nhiên, kết luận này gây nhiều tranh cãi và nghi vấn.
Tôi xin nêu một ví dụ khác, cũng gây nhiều tranh cãi. Đó là thay đổi chế độ tại Nam Phi. Trước đây, nước này theo chế độ phân biệt chủng tộc, appartheid và là đối tượng bị cộng đồng quốc tế trừng phạt một cách nặng nề. Một vài quốc gia cũng tiến hành trừng phạt Nam Phi. Thế là một số người tỏ ra phấn khởi và khẳng định, giai đoạn quá độ chính trị 1990 – 1994 là kết quả, là sự tiếp nối giai đoạn nước này bị trừng phạt và chỉ trích. Thực ra, những thay đổi ở Nam Phi còn do cuộc đấu tranh liên tục dưới sự lãnh đạo của giải Nobel Hòa Bình Nelson Mandela, chứ không thuần túy là nhờ vào các trừng phạt của quốc tế. Như vậy, sở dĩ có các thay đổi là do tác động của nhiều yếu tố quan trọng và trừng phạt chỉ là một trong những yếu tố này mà thôi».

Giải Nobel Hòa bình cho ai?

Việt Nguyên/Người Việt

Cách nay chừng một năm, tôi có dịch một bài của một giáo sư đại học Mỹ và gởi đăng trên BVN cho thấy có khả năng Tập Cận Bình giúp giải quyết  cuộc khủng hoảng vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên để đổi lấy việc độc chiếm Biển Đông. Và như chúng ta đã thấy, Tập đang leo thang quân sự hoá Biển Đông trong khi thiên hạ tập trung sự chú ý vào tình hình Triều Tiên và Trung Đông.

Tự bản chất, Trump có xu hướng độc tài và thích gần gũi những tay độc tài khác, như Putin, Tập, Duarte, và thậm chí cả Kim. Trump coi các định chế dân chủ Mỹ (như Báo chí, Bộ Tư pháp) không ra gì, và ngay cả nhân viên cấp cao của các bộ ngoại giao và tư pháp và cố vấn an ninh quốc gia cũng bị y thay đổi xoành xoạch. Các hiệp ước quốc tế nhanh chóng bị y cho vào sọt rác.

Trần Ngọc Cư

Ngày 12 tháng Sáu tới đây, thế giới trông chờ buổi gặp gỡ lịch sử giữa Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và Chủ tịch Bắc Hàn Kim Jong Un (Kim Chánh Ân). Hai nhà lãnh đạo trong năm 2017 đã cãi nhau như hai cậu học trò trong sân trường, đáng đoạt giải diễn xuất Oscar, khi dọa dùng vũ khí nguyên tử.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn