Hiển thị các bài đăng có nhãn phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng

Phần lớn châu Á đang già đi trước khi giàu có

Cù Tuấn biên dịch phân tích xã hội, kinh tế của The Economist

Tóm tắt: Ngay cả các nước nghèo cũng phải bắt đầu lập kế hoạch cho dân số già.

Sự gia tăng dân số trong độ tuổi lao động của một quốc gia là một điều may mắn. Rất nhiều người lao động sẽ phải hỗ trợ tương đối ít trẻ em và người về hưu. Chừng nào thị trường lao động còn có thể hấp thụ làn sóng người tìm việc tăng vọt thì sản lượng bình quân đầu người sẽ tăng. Việc này có thể thúc đẩy tiết kiệm và đầu tư, dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao hơn, tăng năng suất cao hơn và thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, đối với những quốc gia không nắm bắt được cơ hội này, kết quả có thể rất tồi tệ, như nhiều nước đang phát triển có thể sắp nhận ra.

Nobel và ô tô

Thái Hạo

Hôm qua, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, có tus đặt câu hỏi: “Nhà văn Việt Nam nào sẽ trở thành ứng cử viên giải Nobel?”, nhằm thăm dò sự đề cử của độc giả. Tôi có lội vô đọc comment, thấy đa số bạn đọc hăng hái đề cử nhà văn A, nhà thơ B... Rồi sau lại thấy nhiều người lên bài, bàn luận không ngớt về một giải Nobel cho Việt Nam. Tôi đọc, chợt nhớ đến chuyện chiếc ô tô.

Thế giới đã thay đổi, Việt Nam phải thay đổi

GS.TSKH Nguyễn Mại

Dịch bệnh COVID-19 đã làm thay đổi cách vận hành của thế giới. Thế giới đã thay đổi, Việt Nam cũng phải thay đổi để thích ứng với bối cảnh mới, hướng đến mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế xanh, ít phát thải nhà kính, biến khát vọng thịnh vượng của dân tộc nhanh chóng trở thành hiện thực.

Ảnh minh hoạ: Trọng Hiếu.

Chỉ trong một thời gian ngắn, con virus có đường kính một phần mười nghìn milimét đã làm biến đổi tình hình kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới; nhiều nhà máy, cửa hàng, quán ăn bị đóng cửa, hết điều cấm kỵ này đến những hạn chế khác đối với sinh hoạt bình thường của người dân.

Khi đại dịch về cơ bản đã được kiểm soát, thì vấn đề nổi lên hàng đầu là khôi phục và phát triển kinh tế đồng thời bảo đảm an toàn cho người dân trong trạng thái bình thường mới.

Vài suy nghĩ khi đọc sách “Tại sao các quốc gia thất bại”

Nguyễn Đình Cống

Sách kết luận rằng: Các quốc gia thất bại do THỂ CHẾ.

Thể chế do con người tạo ra, mà trong phần lớn trường hợp (nếu không phải là tất cả) chỉ do một người đề xuất đầu tiên, rồi những người khác phụ họa theo. Không những thể chế mà mọi phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, đường lối, chính sách, luật pháp v.v… đều như thế cả.

Nhưng cũng sẽ có người chống lại đề xuất đó, vì nó mang lại lợi ích cho số này, đồng thời sẽ làm hại hoặc gây ảnh hưởng xấu đến số khác. Bên nào sẽ thắng? Vấn đề là tương quan giữa hai lực lượng, bên có sức mạnh tổng hợp lớn hơn sẽ thắng. Bên nào ở đây có thể là cá nhân, tổ chức hoặc Quốc gia. Sức mạnh tổng hợp là sự kết hợp từ nhiều nguồn: Quyền lực, Uy tín, Tập hợp, Vũ khí, Vật chất, Trí tuệ, Thủ đoạn, Chính nghĩa, Lòng tin, Thời cơ v.v…

Đọc sách TSCQGTB, tôi liên hệ đến tình hình Việt Nam. Trong sách chỉ nhắc đến Việt Nam trong vài chỗ, một cách sơ lược, như là dẫn chứng cho một dạng nào đó của thể chế chiếm đoạt. Nhưng khi liên hệ kỹ mới thấy ở Việt Nam có gần như đầy đủ mọi hiện tượng chiếm đoạt, áp bức, bóc lột, độc ác, đểu giả v.v…đã từng xẩy ra tại các vùng miền trên thế giới dưới các thể chế độc quyền khác nhau. Mà có lẽ vài loại hình lạ lùng chỉ mới xẩy ra ở VN, ví như vụ cấm Kim Ngọc khoán chui, vụ án Trịnh Vĩnh Bình, vụ Formosa v.v…. So với các thể chế chính trị chiếm đoạt trên thế giới thì ở VN có sự nổi bật về mức độ dối trá. Cách đây trên 40 năm tôi đồng tình khi nghe nói đến phát biểu của nhà toán học Phan Đình Diệu đại ý như sau: “Xã hội VN có sự dối trá của lãnh đạo nhà nước từ cấp cao nhất đến mọi cấp”. Ông Diệu là Đại biểu Quốc hội khóa 5 và 6, đang được đề cao, và sau đó ông bị loại ngay. Bây giờ thì sự dối trá đã phơi bày khắp nơi, nhưng cách đây trên 40 năm mà nói được như ông Diệu thì phải có trí tuệ lớn và dũng khí cao. Dối trá là một đặc điểm của thể chế chính trị chiếm đoạt theo đường lối Mác Lê. Lãnh đạo dối trá để lừa dân, để củng cố sự thống trị. Dân phải dối trá để lách qua các khe hẹp, để tồn tại.

Trong lịch sử thế giới, từ khi có chính quyền thì thể chế chính trị chủ yếu là dung hợp. Rồi dần dần thể chế chiếm đoạt phát sinh và mở rộng. Từ thế kỷ 17, với Cách mạng Vinh quang ở nước Anh, thể chế dung hợp được nâng lên tầm cao mới và lan ra các nước khác. Đầu thế kỷ 20, cùng với cách mạng vô sản, thể chế chiếm đoạt của phong trào cộng sản lại phủ bóng đen lên một số nước. Rồi nó sụp đổ ở Đông Âu. Một số nước, khi còn bị thực dân đô hộ, chịu cai trị bởi thể chế chiếm đoạt, sau khi dành độc lập, tưởng rằng sẽ có được thể chế dung hợp, nhưng không ngờ lại rơi vào thể chế chiếm đoạt cao hơn, tàn ác hơn. Dân Việt Nam hình như chưa bao giờ được sống dưới thể chế chính trị dung hợp, đại đa số người dân và một phần của tầng lớp elite (tinh hoa) chưa biết rõ về tự do, dân chủ, nhân quyền.

Thể chế chính trị và thể chế kinh tế tuy có phần độc lập, nhưng cơ bản vẫn liên quan với nhau. Trong đa số trường hợp thể chế chính trị chi phối thể chế kinh tế. Khi chính trị là dung hợp thì nó sẽ khuyến khích, sẽ tạo ra kinh tế dung hợp, nhà nước sẽ làm và thi hành luật pháp bảo vệ kinh tế dung hợp, hạn chế hoặc loại bỏ kinh tế chiếm đoạt. Dưới thể chế chính trị dung hợp việc tồn tại một bộ phận kinh tế chiếm đoạt chỉ là trường hợp cá biệt. Chính trị dung hợp, kinh tế dung hợp mới bảo đảm cho sự phát triển bền vững lâu dài.

Thể chế chính trị độc tài thích hợp với kinh tế chiếm đoạt. Nó làm và thi hành luật pháp nhằm bảo vệ kinh tế chiếm đoạt. Lúc này nó tạo ra vòng luẩn quẩn, trong khi đem lại giàu có cho bọn độc tài, cho các nhóm lợi ích thì nó dẫn dân tộc vào ngõ cụt, dìm đất nước trong tăm tối. Sự cấu kết, sự móc ngoặc giữa bọn có quyền về chính trị và bọn nắm được kinh tế mang lại cho chúng lợi lộc vô biên và đẩy nhân dân vào thảm cảnh bần hàn, nô lệ. Nhưng trong một số trường hợp, bọn cầm quyền trong thể chế chiếm đoạt hiểu được rằng, nếu để kéo dài sự bần cùng của dân thì chế độ có nguy cơ bị sụp đổ, do đó buộc chúng phải tìm cách nới lỏng mức độ chiếm đoạt, lo phát triển kinh tế, lo củng cố quốc phòng, vừa để tăng sức mạnh của chế độ, vừa để lừa dối người dân. Việc làm này có tác dụng nhất thời, không thể kéo dài mãi.

Thể chế chính trị có vai trò chủ đạo và quyết định đến sự thành bại của quốc gia. Vậy động lực nào, nguyên nhân nào tạo ra nó? Khi một quốc gia đang mắc kẹt dưới thể chế chiếm đoạt thì làm sao thoát ra được để kiến tạo thể chế dung hợp. Đó mới là câu hỏi thiết thực và cấp bách.

Sự thay đổi thể chế chính trị thường xẩy ra tại một bước ngoặt của lịch sử, đầu tiên do một người (hoặc một nhóm nhỏ người) đề xướng ý tưởng, được nhiều người ủng hộ. Ý tưởng chỉ giành được thắng lợi, được thi hành chỉ khi nó hội được sức mạnh tổng hợp, đủ để thắng được lực lượng chống đối. Trong lịch sử cũng như trong thực tế hiện tại có thể dẫn ra rất nhiều hiện tượng về bước ngoặt, về con người với các ý tưởng ở trung tâm các bước ngoặt đó. Nhưng quan trọng là từ đâu sinh ra bước ngoặt, ở đâu sinh ra con người có ý tưởng, làm sao để có được sức mạnh tổng hợp.

Ở thế kỷ 20, bước ngoặt lớn của Việt Nam vào năm 1945. Sau 80 năm bị nô lệ mọi người hân hoan như được sống lại vì Độc lập, nhiều người sẵn sàng hy sinh vì Độc lập. Chính vì lợi dụng được tâm lý này, cộng sản đã dương cao ngọn cờ độc lập để lôi kéo được đông đảo người dân theo mình, rồi dẫn họ chui vào thể chế chiếm đoạt. Người nào đã ở trung tâm bước ngoặt và đưa ra ý tưởng. Trở về trước, năm 1920, Nguyễn Ái Quốc có được Luận cương của Lê nin, cho rằng đã tìm thấy con đường cứu nước. Năm 1930, thành lập ĐCS với lãnh tụ NAQ được tô vẽ thành nhà cách mạng thiên tài, là lãnh tụ kiệt xuất đã hấp dẫn nhiều người. Năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, Hồ Chí Minh được tôn lên như vị thánh, thành cha già dân tộc, đã lôi kéo nhiều người, đặc biệt là giới trẻ đi vào con đường cách mạng vô sản, càng ngày càng chui sâu vào thể chế chiếm đoạt. Thể chế đó được củng cố đến mức lãnh đạo nhà nước xem những biểu hiện, những yêu cầu của thể chế dung hợp là thù địch, phải triệt hạ bằng mọi cách, dù có phải dùng thủ đoạn dã man, đểu cáng.

Về phong trào cộng sản, từ 1848 (năm công bố Tuyên ngôn Cộng sản) trên thế giới đã có nhiều người chống lại, nó đã bị thất bại ở nhiều nước, nhưng rồi đã thắng lợi ở Nga. Tại đây vào năm 1917 lực lượng tổng hợp của CS đã mạnh hơn bên chống đối. Tại VN, trước và sau 1930, đã có một số người thấy được độc hại mà CS có thế gây ra, đã chống lại. Số người chống lại càng ngày càng tăng, nhưng rồi năm 1975 CS đã thắng trên toàn quốc, nhờ vào sức mạnh tổng hợp lớn hơn.

Từ 1975 đến 1986, thể chế chiếm đoạt về chính trị và kinh tế đã đẩy đất nước vào tình trạng kiệt quệ, khả năng chịu đựng của dân đã đến giới hạn, nếu không thoát ra được thì sự sụp đổ là khó tránh. Tình thế đã tạo ra một bước ngoặt nhỏ “Đổi mới về kinh tế” với con người ở trung tâm là Trường Chinh, sau là Võ Văn Kiệt. Nói là Đổi mới, thực chất là Sửa sai. Sự sửa sai này chỉ làm cho nền kinh tế giảm bớt mức độ chiếm đoạt chứ chưa thế tạo nên thế chế kinh tế dung hợp, chưa đạt được những sự phá hủy có tính sáng tạo (là sự phá hủy những thứ đã quá lỗi thời, kìm hãm sự phát triển và sáng tạo ra cái mới, tiến bộ). Đã có nhiều kiến nghị, nhiều đề xuất rằng, để phát triển cần đổi mới thể chế chính trị, làm cho nó trở nên dung hợp. Nhưng rồi ý tưởng đề xuất ấy đang tạm chịu số phận hẩm hiu vì thế lực chống lại nó có lực lượng tổng hợp mạnh hơn. Thế lực đó đang nắm mọi quyền hành, được hưởng lợi, đang lừa bịp nhân dân bằng luận điểm “Nhờ có họ mà đất nước mới có ngày nay, chống lại họ là phản bội cách mạng, là ăn cháo đá bát…”..

Dân Việt đang mất niềm tin vào lãnh đạo, đang mong chờ bước ngoặt, mong chờ sự xuất hiện con người có thể tạo ra thể chế dung hợp.

Bước ngoặt thường xẩy ra sau một sự kiện nào đó. Sự kiện có thể được chuẩn bị, được điều khiển bới một tổ chức, nhưng cũng nhiều khi là tự phát. Dù được điều khiển hay tự phát thì đó cũng là kết quả do tích lũy mâu thuẫn hoặc ý tưởng trong một thời gian trước đó. Thời gian tích lũy có thể từ vài tháng, vài năm đến hàng chục năm hoặc lâu hơn, tùy theo vấn đề và tương quan lực lượng giữa 2 bên tranh chấp. Vào những năm 1970-1985 khi hợp tác xã nông nghiệp và chính sách cấm chợ ngăn đường dồn người dân đến kiệt quệ, đã có nhiều lời oán trách, phê phán nhưng chủ yếu chỉ thì thào trong từng phạm vi hẹp. Một số người cho rằng những tiếng thì thào lẻ tẻ như vậy chẳng có tác dụng gì. Nhưng rồi nhiều làn gió nhẹ đã tích lũy thành bão để có được Nghị quyết Khoán 10 trong nông nghiệp và sự đổi mới, mở cửa.

Còn con người ở vị trí trung tâm của bước ngoặt, con người sẽ có tác dụng lớn trong thay đổi thể chế cũng không phải được sinh ra trong một sớm một chiều. Người đó là kết tinh sự tích lũy những tinh thần, ý chí, nguyện vọng của lực lượng những tinh hoa chống lại bọn thống trị hoặc của lực lượng đối lập với chính quyền hiện tại.

Trong bài “Trao đổi về sách Tại sao các quốc gia thất bại” tôi có đề cập đến khía cạnh Tâm linh và quyển sách Bản thiết kế vĩ đại của Stephen Hawking rồi đặt câu nghi ngờ: “Phải chăng các Thể chế, sự thăng trầm các quốc gia cũng đã có trong Bản Thiết kế đó”. Ở đây xin tạm gác vấn đề này lại và chỉ xem xét dưới góc độ xã hội hiện thực. Xem rằng bước ngoặt và cả con người của bước ngoặt là kết quả của một quá trình tích lũy. Ở đây có phảng phất quy luật Lượng-Chất của phép biện chứng.

Về tình hình của VN hiện tại, nhiều ý kiến cho rằng phải tìm mọi cách để thoát Cộng và thoát Trung, đó là điều kiện cần để đổi mới thể chế, để tạo lập thể chế chính trị dung hợp. Gần đây các bài viết của Hà Sĩ Phu và Lê Xuân Khoa bàn rất hay vấn đề này. Nhưng làm sao thoát được Cộng và Trung khi lãnh đạo ĐCSVN vẫn kiên trì Mác Lê và 4 tốt cùng 16 chữ vàng, làm sao có thể làm theo ý GS Khoa là: “Trí thức và nhân dân trong nước phải tìm cách cho ra đời một tổ chức chính trị đối lập, với thành phần lãnh đạo có khả năng và uy tín trong xã hội” khi mà lực lượng “còn Đảng còn mình” được dàn ra dày đặc khắp nơi và mọi lúc, sẵn sàng triệt hạ mọi tổ chức khi vừa nhen nhóm. Theo Hà Sĩ Phu thì Việt cộng là giặc nội xâm còn Trung cộng là giặc ngoại xâm. “Hai việc chống Nội xâm và chống Ngoại xâm ấy phải làm song song và tăng cường hiệu lực cho nhau. Đồng thời phải giải ảo các thần tượng CS…”.

Vấn đề cơ bản và quan trọng là Bước ngoặt và Con người của nó. Đó là kết quả của sự tích lũy lâu dài. Xin hãy bỏ hẳn Bước ngoặt bằng vũ trang, bằng nội chiến, nó mang lại lợi ít hại nhiều, lợi nhất thời cho thiểu số, hại lâu dài cho toàn dân tộc. Chỉ nên và cần có bước ngoặt trong hòa bình, trong đấu tranh tại Nghị trường, trong phong trào ôn hòa của đông đảo quần chúng nhân dân. Tích lũy cho công việc này cơ bản bằng những hoạt động nâng cao dân trí và dân khí. Lực lượng chủ chốt để làm việc này là tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ. Đối tượng là toàn dân mà chủ yếu là thanh niên, trong đó thanh niên sinh viên và thanh niên trong các lực lượng vũ trang là rất quan trọng.

Khi chưa hình thành được tổ chức chính trị thì rất cần một số người tiên phong, có nhận thức và dám dấn thân, dám hy sinh. Ở đâu sinh ra những người như vậy. Đành tạm công nhận là “Khí thiêng sông núi sinh ra, là Địa linh sinh Nhân kiệt, là vận nước đã đến…”. Trong số họ sẽ không tránh khỏi những người buộc lòng phải “Làm đá lót đường”. Đó là những Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Nguyễn mạnh Tường, Nguyễn Hữu Đang, Trần Độ, Trần Xuân Bách, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyến Ngọc Như Quỳnh và hàng ngàn hàng vạn những người hữu danh, vô danh khác. Nếu Khí thiêng sông núi chưa sinh ra được những người dám hy sinh làm đá lót đường thì hầu như không thể tạo tích lũy để có bước ngoặt và Con người của nó. Nhưng lại hỏi, từ đâu tạo ra Khí thiêng sông núi. Phải chăng là từ tích lũy hàng ngàn năm Truyền thống Dân tộc.

Bước ngoặt nào có thể được tạo ra hoặc chờ đợi. Xin dự báo một số tình huống (TH) sau:

TH 1- Dân chủ hóa từ từ.

Bắt đầu từ những đấu tranh của các tổ chức xã hội dân sự, của nhân dân nhằm bầu ra một Quốc hội đúng bản chất, có năng lực. Quốc hội sẽ dần dần làm đối trọng với Trung ương ĐCS, sẽ ban hành các luật dân chủ, làm cơ sở cho phong trào quần chúng. Bước ngoặt là việc công bố Hiến pháp với chính thể đa nguyên, với sự xuất hiện và hoạt động công khai, hợp hiến của đảng chính trị đối lập.

TH 2- Đảng CS tự diễn biến.

Từ trong nội bộ lãnh đạo ĐCS xuất hiện một số đảng viên cao cấp thức thời. Họ hiểu ra sự thật và có dũng cảm, thấy cần phải thay đổi từ đảng lãnh đạo cách mạng thành đảng chính trị cầm quyền, từ đó đổi mới tổ chức và đường lối, loại bỏ chủ nghĩa Mác Lê. Làm được như thế họ vừa cứu Đảng vừa cứu nước. Nếu không làm được việc đó thì họ đấu tranh để tách ra, lập một đảng mới, đi theo con đường dân chủ để tập hợp lực lượng tranh đấu.

TH 3-Thời cơ từ Trung cộng.

Chế độ cộng sản Trung quốc lâm vào rối loạn, tan rã. Cơ hội cho những người yêu nước VN vùng dậy thoát Trung và đồng thời thoát cộng. Với hoạt động chống Trung và chống cộng tích cực của Trump nhằm hỗ trợ cho các phong trào trong nội bộ TQ thì xác suất xấy ra điều trên không phải là quá bé.

TH 4- Theo kiểu Đông Âu.

Khi ĐCS lâm vào tình trạng suy sụp, bế tắc, gây ra một sự cố nào đó, là châm ngòi cho phong trào nhân dân nổi lên. Lúc đó lực lượng “còn Đảng còn mình” bị phân hóa, đa số quân đội đứng về phía nhân dân, một đảng chính trị sẽ nhanh chóng được thành lập. Sự đổ máu do CS gây ra có thể không tránh khỏi, nhưng chỉ lẻ tẻ ở vài nơi, sự rối loạn tạm thời có thể xẩy ra, nhưng rồi mọi việc sẽ nhanh chóng ổn định.

Dù TH nào thì cũng phải có sự tích lũy dần bằng việc nâng cao dân trí trong các lĩnh vực sau: Về Nhân quyền và Dân quyền, về Dân chủ, Tự do, về các Thể chế chính trị, về độc hại của chủ nghĩa Mác Lê, về bành trướng Tàu cộng và bọn Việt gian ôm chân chúng nó, về thói hư tật xấu trong truyền thống v.v… Hoạt động để nâng cao dân trí hoàn toàn không dễ dàng, không thuận lợi vì rằng ĐCS đang chụp Vòng Kim Cô lên nền giáo dục, lên các tổ chức đoàn thể quần chúng, lên mọi cấp chính quyền. Trong thời gian khá dài ĐCS đã kip nhồi sọ, tẩy não cho một số khá đông, biến họ thành những kẻ ngu trung và cuồng tín. Khá đông trong số này là ông bà, cha mẹ trong các gia tộc, họ gieo rắc ngu trung và cuồng tín cho một số con cháu. Ngoài xã hội thì công an chìm nổi rình rập khắp nơi để bắt bớ, khủng bố những người hoạt động nâng cao dân trí với vu cáo là tuyên truyền chống phá nhà nước và ĐCS, là thế lực thù địch.

Trong phong trào vì dân chủ, nhiều người đồng lòng loại bỏ Mác Lê và độc tài toàn trị của ĐCS, nhưng còn 1 vấn đề gay cấn khó đi tới thống nhất, đó là vai trò Hồ Chí Minh, là giải ảo thần tượng. Theo Hà Sĩ Phu thì: “Phải giải ảo các thần tượng CS còn được dùng như những tấm khiên bảo vệ ngai vàng cho các vua tập thể và che đậy cho âm mưu Hán hóa thôn tính Việt Nam.Vô hiệu hóa thần tượng không phải mục đích, cũng không phải xúc phạm điều thiêng liêng gì mà chỉ là vô hiệu hóa một công cụ mà những kẻ Nội xâm và Ngoại xâm cùng sử dụng để ngăn chặn làn sóng Thoát Trung và Thoát Cộng đó thôi”.

Dân ta, do truyền thống lâu đời, có thói quen thờ cúng các bậc Thần, Thánh, Thành hoàng, xem là biểu tượng cao cả, là vô cùng thiêng liêng. Từ 1930 và đặc biệt từ 1945 ĐCS đã lợi dụng thói quen đó để dựng lên, để tuyên truyền về lãnh tụ kiệt xuất, về cha già dân tộc, về công ơn trời biển, về đạo đức tuyệt trần, về sự hy sinh cao cả của Hồ Chí Minh. Người ta tuyên truyền, giáo dục từ đứa trẻ mới học nói cho đến khi già, sắp chết, phải nhớ kỹ công ơn của lãnh tụ. Nhiều người bị giết oan trong cải cách ruộng đất, trước lúc chết vẫn cố hô “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Trong tình trạng như vậy mà giải ảo được về lãnh tụ là quá khó.

Trao đổi về sách “Tại sao các quốc gia thất bại”

Nguyễn Đình Cống

Sách Tại Sao Các Quốc Gia Thất Bại (TSCQGTB) là một công trình nghiên cứu rất có giá trị của hai nhà khoa học danh tiếng người Mỹ: Daron Acemoglu và Jame A. Robinson. Các ông đã nghiên cứu 15 năm, khảo sát gần một trăm quốc gia với lịch sử phát triển trong vòng trên dưới 200 năm, trong đó có vài quốc gia được khảo sát với lịch sử trên 500 năm. Số liệu rất phong phú và đáng tin cậy. TSCQGTB nhằm trả lời câu hỏi: Nguyên nhân chủ yếu nào làm cho một số QG giàu có và nhiều QG nghèo đói, tạo nên sự bất bình đẳng giữa các nước. Phụ đề của tên sách là: Nguồn gốc của quyền lực, sự thịnh vượng, và nghèo khó.

Trước đây, về nguyên nhân giàu nghèo của các QG đã có một số giả thuyết (GT) như GT về địa lý, GT về văn hóa, GT về sự ngu dốt.

Các GT đó đã bị tác giả TSCQGTB bác bỏ. Bằng những luận cứ và luận chứng khá thuyết phục các tác giả đi đến kết luận: Nguyên nhân cơ bản của thành công hoặc thất bại của các QG là do Thể chế (institution). Có Thể chế chính trị và Thể chế kinh tế. Mỗi thể chế trải ra trong phạm vi rộng, có thể quy về 2 đặc trưng: Chiếm đoạt (Extractive) và Dung hợp (Inclusion). Khi thể chế chính trị và kinh tế đều dung hợp, chúng tạo nên VÒNG THIỆN, làm cho QG giàu có, ổn định và phát triển đi lên. Khi các thể chế đều chiếm đoạt, chúng tạo nên VÒNG LUẨN QUẨN, làm giàu cho một số ít người, còn QG và dân tộc bị nghèo khổ, rối loạn.

Công trình TSCQGTB thuộc dạng nghiên cứu “Tìm nguyên nhân khi đã biết kết quả”. Phương pháp nghiên cứu là Đề ra Giả thuyết rồi tìm cách chứng minh. Khi chứng minh là khá đầy đủ, khá chặt chẽ, GT được công nhận, được xem là kết luận. Khi không thể chứng minh hoặc chứng minh bị bác bỏ, GT chưa được công nhận (giống như việc tác giả TSCQGTB bác bỏ các GT về địa lý, về văn hóa, về sự ngu dốt).

Nguyên nhân (Nhân) và Kết quả (Quả) là một cặp phạm trù của triết học. Nhân có trước Quả. Một Nhân có thể gây ra nhiều Quả. Một Quả có thể do nhiều Nhân cùng tạo nên. Quả của một quá trình trước là Nhân của các quá trình tiếp theo. Các quá trình Nhân-Quả diễn ra không ngừng. Với một Quả có các loại Nhân như chính, phụ, gần, xa, trực tiếp, gián tiếp, là cơ bản, gốc rễ hay chỉ là cành ngọn. Khi chỉ nhằm giải thích hiện tượng người ta thường chỉ cần dừng lại ở nguyên nhân trực tiếp, gần, ít khi cần tìm nguyên nhân gốc rễ. Khi nghiên cứu không những để giải thích mà còn tìm cách xử lý thì rất cần tìm nguyên nhân cơ bản, gốc rễ. Cách tìm là truy ngược về quá khứ. Thí dụ có kết quả K, Nguyên nhân gần, trực tiếp gây ra K là H1; H2. Các Hi thường chưa phải là nguyên nhân gốc. Truy tiếp, nguyên nhân gây ra H là các Gi. Nguyên nhân gây ra G là các Ei; Nguyên nhân gây ra E là các Di… Nếu cứ truy mãi thì cuối cùng quy về “tại Trời sinh ra thế”. Vậy không thể truy cho tới cùng mà buộc phải dừng lại ở một mức nào đó được xem là gốc gác, là cơ bản, để từ đó có thể lựa chọn sự phản ứng thích hợp và hiệu quả.

Các tác giả của TSCQGTB đã truy ngược và dừng lại ở nguyên nhân Thể chế. Ý kiến trao đổi của tôi là xem như vậy đã thỏa đáng chưa. Liệu có cần và có thể truy ngược thêm chút nữa để tìm ra nguyên nhân cơ bản hơn hay không, và trong quá trình chứng minh Giả thuyết liệu các tác giả có bỏ sót một vài luận cứ nào quan trọng hay không?

Nâng cao dân trí - Giới thiệu tóm tắt sách “Tại sao các quốc gia thất bại” (đoạn 1)

Nguyễn Đình Cống

Lý thuyết do hai kinh tế gia hàng đầu Daron Acemoglu và Jemes A. Robinson đề xuất trong cuốn sách nổi tiếng Tại sao các quốc gia thất bại (Why Nations Fail) (hai bản dịch khác nhau của Nguyễn Quang A – trên mạng – và Nguyễn Thị Kim Chi – NXB Trẻ) tưởng chừng như đơn giản so với bộ sách Tư bản của K. Marx giải thích mọi biến động kinh tế trong xã hội bằng đấu tranh giai cấp. Nhưng đó là một lý thuyết cực kỳ thông thái, kết quả của một quá trình nghiên cứu ròng rã trong 15 năm, áp dụng chuẩn xác cho mọi hình thái kinh tế xã hội của loại người từ viễn cổ đến tận ngày nay.
Thoạt đọc vào ta tưởng hai tác giả hình dung sự vận động của nhân loại trên con đường hàng vạn năm là những ván bài súc sắc ở bất kỳ nơi đâu trên địa cầu, trong đó có 4 quân bài chủ yếu: 1. Quân bài thể chế chính trị chiếm đoạt; 2 Quân bài thể chế chính trị dung hợp; 3. Quân bài thể chế kinh tế chiếm đoạt; 4. Quân bài thể chế kinh tế dung hợp. Và các giống người khác nhau được phân bố trên bề mặt trái đất trong trường kỳ lịch sử cứ thế đem cả 4 quân bài đó bỏ vào một cái hộp rồi lắc đi lắc lại nhiều lần. Kết quả, mở hộp ra xem sự kết hợp giữa 4 quân bài là như thế nào. Nếu quân bài 2 kết hợp với quân bài 4 thì giống người ở tại vùng đất đang xóc bài sẽ may mắn hưởng thụ một nền kinh tế cực kỳ phát triển và một thể chế văn minh, nền chính trị pháp quyền sớm ra đời và công nghiệp hóa nhanh chóng phát triển. Còn nếu gặp phải những sự kết hợp khác, các dân tộc chơi bài sẽ chịu đựng một tình trạng kém may mắn. Tuy vậy, trong những kết hợp khác nhau mà các giống người nhận được khi chơi bài, vẫn có những kết hợp kiểu này khả dĩ hơn kết hợp kiểu kia, có chút hứa hẹn cải thiện kinh tế đất nước nhanh hơn hay cải thiện chính trị thông thoáng hơn. Còn như chẳng may rơi vào sự kết hợp giữa quân bài 1 và quân bài 3 thì hoàn toàn kẹt cứng, hoặc giả trong ngắn hạn tưởng như có những thời đoạn có phát triển bùng nổ ghê gớm, nhưng rồi thực tế đều nhanh chóng sụp đổ không cách nào cưỡng nổi. Đó chính là tình trạng của loài người suốt “đêm dài” Trung cổ. Và đó cũng là tình trạng mà các quốc gia trong thế kỷ 20, bị ám vào học thuyết của ông Marx, nổi lên làm cuộc cách mạng vô sản chuyên chính trời long đất lở, xây dựng một thể chế chính trị chiếm đoạt kết hợp chặt chẽ với một thể chế kinh tế tập trung (một cách gọi khác của hai chữ ”chiếm đoạt”), đẩy gần một nửa dân số nhân loại vào những thảm họa khôn lường. Liên Xô là nhà nước đi đầu, cướp chính quyền bằng bạo lực từ năm 1917 nhưng đến 1991 thì… phải giải thể. Các nước CS còn lại nhận ra lập tức nguyên nhân của khủng hoảng là sự kết hợp bất lợi 13 mà họ đã mất nhiều thập niên nhắm mắt theo đuổi, vội vàng tìm cách xóc lại hộp súc sắc để tạo ra một sự kết hợp mới. Lõi đời nhất là tay chơi Đặng Tiểu Bình, đã nhanh chóng chuyển dịch từ kết hợp 13 sang 14 (tất nhiên 4 đây không phải là 4 đúng nghĩa mà cũng chỉ là 3 có cải tiến ít nhiều). Thế là mô hình CS Trung Quốc bỗng nhiên vù vù phất lên. Đến mức kẻ tiếp nối cơ ngơi họ Đặng – Tập Cận Bình – nhảy tót lên ngai, một mặt biết rõ chỗ yếu chết người của cái mô hình cải lương rởm của đất nước y, lo xua đội quân chuyên gia đi sang các nước kinh tế hàng đầu giở trò ăn cắp công nghệ, mặt khác huênh hoang tuyên bố chỉ vài ba mươi năm nữa Trung Quốc sẽ là bá chủ thế giới. Nhưng y là kẻ không biết phận nên đã gặp phải một tay chơi khác của cái xứ sở vốn rất thạo chơi là Huê Kỳ, ngài donald Trump, đã vỗ cho y một cái, vạch vôi vào trán, chỉ ra rằng sự kết hợp 14 (giả tạo) của mô hình đất nước mày trước sau cũng sẽ chết thôi. Ngón giả dối ấy ông còn rành hơn mày nhiều. Hệt như thuở xưa một ông hàng thịt cho anh chàng hám danh một cái tát được kể trong sách Nho lâm ngoại sử, Bình có vẻ choáng váng, có vẻ đã hơi tỉnh ra…
Vậy đấy thưa các bạn. Hai tác giả đã chỉ ra rất xác đáng không phải những phân bố về mặt tài nguyên, sông ngòi, rừng vàng bể bạc, nghĩa là về mặt địa lý dành cho loài người những số phận may mắn hoặc hẩm hiu trên mặt đất khác nhau, cũng không phải quá trình tiến triển về văn hóa của mỗi sắc tộc vốn không đồng nhất, càng không phải sự thông thái hay dốt nát của những chủng người đa dạng sinh ra trên trái đất này, quyết định các quốc gia đã và đang tồn tại là thất bại hay thành công. Trong thực tiễn hoạt động của xã hội con người từ xa xưa cho đến hôm nay trên mọi vùng đất, những nhân tố bề ngoài có vẻ rất quan trọng đó kỳ thực đều vô nghĩa. Trước sau chỉ có sự kết hợp của 4 quân bài mà ta đã nói ở trên là quyết định mà thôi. Nếu sự kết hợp đúng đắn theo dạng thức 2 & 4 thì quốc gia ấy có tương lai, còn nếu kết hợp sai, theo các dạng thức còn lại thì tùy theo dạng thức nào mà quốc gia đó nhất định sẽ đứng ở vạch mốc nào.
Đất nước chúng ta không may chịu số phận làm cái đuôi của một hệ thống ngỡ rằng sẽ cầm cờ đỏ giải phóng nhân loại, sẽ đem hạnh phúc đến cho tất cả mọi giống người, ngờ đâu đó chỉ là ảo tưởng nó đẩy dân tộc lao vào chém giết và cứ ngủ mê trong chém giết đã hơn 70 năm. Nay nếu những kẻ cầm chịch không sớm tỉnh ra để điều chỉnh lại sự kết hợp của “hai quân súc sắc” cho đúng với quy luật kết hợp của một phần nhân loại văn minh đã vượt lên rất xa, thì sẽ cam phận khốn khổ cả một đời hoặc nhiều đời là diều không cần bàn cãi.
Xin giới thiệu cùng các bạn bản tóm tắt các phần cuốn sách Tại sao các quốc gia thất bại (Why Nations Fail) của GS Nguyễn Đình Cống, một sự tóm tắt công phu, giản dị, dể hiểu, với ước vọng góp phần nâng cao dân trí cho đất nước chúng ta.
Bauxite Việt Nam

Mở đầu bản tóm tắt

Tóm tắt này dựa vào bản dịch của TS Nguyễn Quang A, công bố trên mạng và bản dịch của Nguyễn Thị Kim Chi được NXB Trẻ  phát hành sách giấy (2017).

Thất bại và Thành công là 2 mặt của 1 vấn đề. Biết được nguyên nhân cơ bản  của thất bại thì đồng thời cũng làm rõ cái đó của thành công. Tìm đúng nguyên nhân cơ bản sự thành bại của các quốc gia là không hề dễ. Các định kiến về học thuyết, về chủ nghĩa và phẩm chất tầm thường của người nghiên cứu làm che khuất, hạn chế tầm nhìn và suy nghĩ của họ,  làm cho họ khi phân tích sự thất bại chỉ tim được vài nguyên nhân trực tiếp, vụn vặt rồi đổ lỗi cho thế lực thù địch và khách quan mà không thể tìm đến nguyên nhân cơ bản.

Xã hội Việt Nam đã trải qua một số thành công và thất bại. Mỗi lần  đại hội Đảng đều có đánh giá và chỉ ra nguyên nhân của mọi tai họa là sự thoái hóa, biến chất, sự tự diễn biến, tự chuyển hóa của một số đông cán bộ các cấp các ngành. Đánh giá như vậy là không thấy nguyên nhân cơ bản, hay có thấy mà cố tình che khuất, cố tình không dám nói ra.

Sách “Tại sao các quốc gia thất bại” (Why Nations Fail) được xuất bản năm 2012 tại Mỹ, đã tạo nên tiếng vang lớn trên toàn thế giới. Tiêu đề phụ của cuốn sách là: “Nguồn gốc của quyền lực, sự thịnh vượng, và nghèo khó”. Đó là kết quả nghiên cứu trên 15 năm của hai nhà khoa học lớn về kinh tế: Daron Acemoglu và Jemes A. Robinson. Sách được nhiều học giả, nhiều bạn đọc đánh giá rất cao. Nó cung cấp nhiều thông tin, nhiều phân tích và so sánh, làm phong phú nhận thức, làm cho suy nghĩ thêm sâu sắc và có những chuyển biến tích cực. Tuy biết sách quý, số đông rất muốn đọc, nhưng  không dễ gì tìm được sách, tìm được rồi cũng không có nhiều thời gian hoặc thiếu kiên nhẫn để đọc hết (vì dài quá). Tôi xin tóm tắt hỗ trợ các vị. Riêng với các nhà nghiên cứu, các học giả, cần và đã đọc toàn bộ, không chỉ một mà nhiều lần, tôi sẽ vô cũng biết ơn khi được các vị phản biện bản tóm tắt này.

Sách “Tại sao các quốc gia thất bại” gồm “Lời nói đầu” và 15 chương. Tôi tiếp cận được 2 bản tiếng Việt. Đó là  bản dịch của Nguyễn Quang A và của Nguyễn Thị Kim Chi. Sau 2 nguồn trên đã có khá nhiều bài viết và thuyết trình về vấn đề cuốn sách bàn đến. Cũng đã có một vài bản tóm tắt và giới thiệu nội dung. Như vậy tôi không phải là người đầu tiên tóm tắt và giới thiệu, chỉ là tôi làm theo cách của mình. Tóm tắt bằng cách trình bày ngắn gọn nội dung từng chương, chép lại một số câu được lựa chọn, ngoài ra có thể thêm vài lời dẫn giải.

Mục lục các chương

1- Gần thế mà vẫn rất khác nhau

2-  Các lý thuyết không hoạt động

3- Tạo ra thịnh vượng và nghèo khó

4- Những khác biệt nhỏ và bước ngoặt

5- Tôi đã thấy tương lai và nó hoạt động

6- Trôi dạt ra xa

7- Điểm ngoặt

8- Không trên lãnh thổ của chúng tôi

9- Sự phát triển đảo ngược

10- Sự truyền bá thịnh vượng

11- Vòng thiện

12-  Vòng đảo ngược

13- Vì sao các quốc gia thất bại ngày nay

14- Phá vỡ khuôn đúc

15- Hiểu sự thịnh vượng và nghèo khó

Bản tóm tắt 15 chương được chia đăng thành 8 đoạn. Mỗi ngày đăng một đoạn. Cuối cùng tôi có bài Phản biện, nêu ra một vài bất đồng ý kiến với nghiên cứu và kết luận của Daron Acemoglu và Jemes A. Robinson.

Lời giới thiệu

Cuốn sách tìm câu trả lời cho một câu hỏi đơn giản nhưng đã làm cho nhiều học giả đau đầu trong nhiều thế kỷ qua: vì sao một số quốc gia giàu và nhiều quốc gia nghèo?

Ðã có nhiều lý thuyết (giả thuyết) tìm cách giải đáp cho câu hỏi này hay giải thích hiện tượng bất bình đẳng thế giới nhức nhối đó. Có các giả thuyết về địa lý, văn hóa, sự thiếu hiểu biết của các nhà lãnh đạo quốc gia, nhưng các lý thuyết này đều không trả lời được một cách thỏa đáng cho câu hỏi đơn giản nêu trên.

Acemoglu và Robinson đưa ra giả thuyết về các thể chế (Institution) là cái quyết định chứ không phải địa lý, văn hóa, hay sự thiếu hiểu biết. Theo các ông, có 2 loại thể chế (TC) quan trọng là TC chính trị và TC kinh tế. Mỗi TC có 2 trạng thái cơ bản là: Inclusion (dung hợp, bao gồm hoặc bao dung)  và Extractive (chiếm đoạt, khai thác hoặc bòn rút).

TC chính trị dung hợp thể hiện bởi nhà nước pháp trị, chính thể dân chủ với đa nguyên và tam quyền phân lập. TC chính trị chiếm đoạt là kiểu toàn trị độc tài, quan liêu, thống trị  của cá nhân hoặc của một đảng duy nhất.

TC kinh tế dung hợp, mọi thành phần trong xã hội tham gia vào các hoạt động kinh tế, có cơ hội phát huy khả năng và cống hiến, quyền lực được chia sẻ rộng rãi. TC kinh tế chiếm đoạt tập trung quyền lực vào một số ít người hoặc nhóm lợi ích. Các nhóm này nắm phần lớn tài sản QG và khai thác tài nguyên của đất nước (Bản dịch của NQA dùng TC  Bao gồm và TC Khai thác )

Các trạng thái kết hợp thành 4 dạng. Dạng 1 gồm các QG có chính trị dung hợp, kinh tế chiếm đoạt. Dạng 2 có chính trị chiếm đoạt, kinh tế chiếm đoạt. Dạng 3 có chính tri chiếm đoạt, kinh tế dung hợp. Dạng 4 - chính trị dung hợp, kinh tế dung hợp.

Dạng 4 gồm các QG thành công, phát triển theo vòng xoáy ốc đi lên. Dạng 2 - các QG  luẩn quẩn trong đói nghèo, lạc hậu. Dạng 1 và 3 thường biến động, có khả năng vươn lên 4 hoặc rớt về 2.

Phần tiếp theo của lý thuyết là động học của sự thay đổi thể chế. Các tác giả nhấn mạnh đến tầm quan trọng của: các xung đột (conflict) luôn xảy ra trong xã hội. Các xung đột dẫn đến sự trôi dạt thể chế, tại các bước ngoặt do những khác biệt nhỏ và sự tùy thuộc ngẫu nhiên chúng rẽ nhánh theo những con đường rất khác nhau và tạo ra sự phân kỳ thể chế.

Muốn cho quốc gia không thất bại và giàu có thì phải tìm mọi cách để xây dựng các thể chế chính trị dung hợp. Không có công thức sẵn có cho việc này. Tuy vậy có nhiều việc có thể tạo thuận lợi, có thể thúc đẩy cho việc hình thành các thể chế chính trị như vậy. Trao quyền (empowerment) cho nhân dân, hay cho các mảng rộng của xã hội là hết sức quan trọng để cho một quá trình như vậy có thể hình thành hay mang lại kết quả. Xây dựng nền pháp trị thực sự, với những ràng buộc lên các chính trị gia, buộc họ phải có trách nhiệm giải trình và khó lạm dụng quyền lực. Người dân biết quyền của mình và đòi một cách tích cực các quyền hiến định đó và tham gia vào các tổ chức chính trị. Cần một nền báo chí tự do và quyền tự do ngôn luận. Và như thế cần có một xã hội dân sự lành mạnh và sự tham dự tích cực của các công dân. Ðấy là cách làm giàu bền vững nhất không chỉ cho chính mình mà cho cả con cháu nhiều đời sau.

Lời nói ðầu

Cuốn sách này là về những khác biệt khổng lồ về thu nhập và mức sống mà tách biệt các nước giàu trên thế giới, như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, và Ðức, khỏi các nước nghèo, như các nước ở châu Phi hạ-Sahara, Trung Mỹ và Nam Á. Gốc rễ của sự bất mãn tại một số nước là ở sự nghèo khó của chúng.

Vì sao Ai Cập nghèo hơn Hoa Kỳ nhiều đến vậy? Những ràng buộc nào kéo những người Ai Cập khỏi việc trở nên phát đạt hơn? Sự nghèo của Ai Cập có là bất biến, hay có thể được xóa bỏ? Ðối với những người Ai Cập, những cái, mà đã néo giữ họ lại, bao gồm một nhà nước không hiệu quả và thối nát và một xã hội nơi họ không thể sử dụng tài năng, khát vọng và sự khéo léo của mình và sự giáo dục mà họ có thể có được. Nhưng họ cũng nhận ra gốc rễ của các vấn đề này là có nguồn gốc chính trị. Tất cả những cản trở kinh tế mà họ đối mặt bắt nguồn từ cách mà quyền lực chính trị được sử dụng và bị độc chiếm bởi một elite hẹp. Ðấy, họ hiểu, là cái đầu tiên phải thay đổi.

Chúng ta sẽ chứng tỏ rằng các nước nghèo là vì chính xác cùng lý do mà Ai Cập nghèo. Trong cuốn sách này chúng ta sẽ nghiên cứu các hình mẫu tái tạo ra sao theo thời gian và vì sao đôi khi chúng thay đổi như chúng đã thay đổi ở Anh năm 1688 và ở Pháp với cách mạng 1789. Việc này sẽ giúp chúng ta hiểu liệu tình hình ở Ai Cập đã thay đổi hiện nay và liệu cuộc cách mạng đã lật đổ Mubarak sẽ có dẫn đến một tập mới của các thể chế có khả năng mang lại sự thịnh vượng cho những người Ai Cập bình thường hay không. Chúng ta sẽ thấy rằng một phong trào đấu tranh rộng rãi trong xã hội đã là một phần then chốt của cái đã xảy ra trong những biến đổi chính trị khác này. Nếu chúng ta hiểu khi nào và vì sao những sự chuyển đổi như thế xảy ra, chúng ta sẽ ở vị thế tốt hơn để đánh giá khi nào các phong trào như vậy thất bại (như chúng đã thường thất bại trong quá khứ) và khi nào có thể hy vọng rằng chúng sẽ thành công và cải thiện cuộc sống của hàng triệu người.

Chương 1 - GẦN THẾ VÀ VẪN RẤT KHÁC NHAU

Nền kinh tế của Rio Grande

Thành phố Nogales bị cắt đôi bởi một hàng rào. Phía Bắc là Arizona (thuộc Mỹ). Thu nhập của hộ gia đình trung bình khoảng 30.000 USD một năm. Phía Nam là Sonora (thuộc Mexico), chỉ cách vài mét, là khá khác, thu nhập của hộ gia đình trung bình ở đó bằng khoảng một phần ba ở Arizona.

Làm sao mà hai nửa của cùng một thành phố lại khác nhau đến vậy? Không có sự khác biệt nào về địa lý, khí hậu. Nguồn gốc của người dân ở cả hai bên biên giới là khá giống nhau. Khác nhau chỉ vì thể chế.

Sự thành lập Buenos Aires

Năm 1516, người Tây Ban Nha đã vào phía Ðông của Nam Mỹ. Vùng này nguyên chỉ trồng sắn và ngô. Người Tây Ban Nha đã chinh phục người bản địa, xây dựng nên Buenos Aires, “Paris của Nam Mỹ”.

Từ Cajamarca

Việc chinh phục những người da đỏ Aztec bằng quân sự đã hoàn tất vào năm 1521. Chiến lược thực dân hóa của Tây Ban Nha đã rất hiệu quả. Chiến lược và các thể chế chinh phục được hoàn thiện ở Mexico đã được chấp nhận một cách háo hức ở những nơi khác trong Ðế chế Tây Ban Nha

Khắp thế giới thuộc địa Tây Ban Nha ở châu Mỹ, các thể chế và các cấu trúc xã hội tương tự đã nổi lên. Sau giai đoạn ban đầu của sự cướp bóc, và sự thèm khát vàng bạc, những người Tây Ban Nha đã tạo ra một mạng lưới các thể chế được trù tính để khai thác người dân bản địa.

Ðến Jamestown.

Người Anh đến Tân thế giới chậm hơn. Họ đã chọn Bắc Mỹ không phải vì nó hấp dẫn, mà bởi vì đó là tất cả cái sẵn có còn lại. Các phần “đáng mong muốn” của châu Mỹ, nơi dồi dào những người bản địa để khai thác và nơi có các mỏ vàng và bạc, đã bị chiếm mất rồi. Người Anh đã nhận các phần còn thừa, họ lập nên các thuộc địa.

Vào các năm 1720, tất cả mười ba thuộc địa của cái sẽ trở thành Hoa Kỳ đã có các cấu trúc chính phủ giống nhau. Trong mọi trường hợp đã có một Thống đốc, và một Hội đồng dựa vào quyền bầu cử của những người đàn ông chủ tài sản. Chúng chưa phải là các nền dân chủ, nhưng các quyền chính trị đã là rất rộng so với các xã hội đương thời ở nơi khác. Chính các hội đồng này và các nhà lãnh đạo của chúng là cái đã hợp lại để hình thành Quốc hội Lục địa Ðầu tiên (First Continental Congress) vào năm 1774, khúc dạo đầu cho sự độc lập của Hoa Kỳ. Các Hội đồng đã tin họ có quyền để quyết định cả tư cách thành viên riêng của họ lẫn quyền đánh thuế. Ðiều này, như chúng ta biết, gây ra các vấn đề đối vớiCchính phủ thuộc địa Anh.

Câu chuyện về hai Hiến pháp.

Không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà Hoa Kỳ, chứ không phải Mexico, đã thông qua và thực thi một Hiến pháp tán thành các nguyên tắc dân chủ, tạo ra các hạn chế về việc sử dụng quyền lực chính trị, và phân phối quyền lực đó một cách rộng rãi trong xã hội. Văn kiện mà các đại biểu đã ngồi xuống để viết ở Philadelphia năm 1787 đã là kết quả của một quá trình dài được khởi đầu bằng sự hình thành của Ðại Hội đồng ở Jamestown năm 1619.

Sự tương phản giữa quá trình lập hiến xảy ra vào thời độc lập của Hoa Kỳ và quá trình xảy ra sau đó một chút ở Mexico lộ rõ hẳn ra. Sự sụp đổ của nhà nước Tây Ban Nha với sự xâm lược của Napoleon đã tạo ra một khủng hoảng Hiến pháp trên khắp Mỹ Latin thuộc địa. Hệ quả là, elite Mexico đã xem xét Hiến pháp Cádiz, đã mở đường cho sự tham gia của nhân dân. Năm 1815, khi đế chế Âu châu của Napoleon sụp đổ, Vua Ferdinand VII quay lại nắm quyền và Hiến pháp Cádiz đã bị bãi bỏ.

Có một ý tưởng, khởi động một hãng và nhận được một khoản vay

Cách mạng Công nghiệp đã bắt đầu ở nước Anh, lớn mạnh ở Mỹ nhờ các ý tưởng sáng chế. Ðiều nổi bật ở Hoa Kỳ là, những người được cấp bằng sáng chế đến từ mọi loại xuất thân. Nhiều người đã kiếm được bộn tiền hay trở nên giàu có dựa vào các bằng sáng chế của mình. Có thể bán sáng chế hoặc lập công ty để thực hiện nó. Ngân hàng sẽ tiếp sức bằng nguồn vốn cho vay. Mục đích của ngân hàng là lợi nhuận. Ở Mexico và ở Hoa Kỳ các ngân hàng theo các thể chế khác nhau. Ở hoa Kỳ cạnh tranh công khai và khốc liệt làm cho kinh tế phát triển nhanh chóng. Ở Mexico, không có cạnh tranh giữa các ngân hàng, họ cấp tín dụng cho người có đặc quyền và người đã giàu rồi, những người sẽ sử dụng sự tiếp cận của họ để tăng sự kìm kẹp đối với các khu vực khác nhau của nền kinh tế. Hình thức, mà ngành ngân hàng Mexico đã lấy trong các thế kỷ mười chín và hai mươi, đã là kết quả trực tiếp của các thể chế chính trị sau độc lập của nước này.

Không giống ở Mexico, ở Hoa Kỳ các công dân đã có thể kìm hãm và giải thoát khỏi các chính trị gia, những người lạm dụng chức vụ của mình để làm giàu cho mình hay tạo ra các độc quyền cho các cánh hẩu của mình. Kết quả là, các độc quyền ngân hàng đã sụp đổ. Sự phân bố rộng các quyền chính trị ở Hoa Kỳ, đặc biệt khi so sánh với Mexico, đã đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng đến tài chính và các khoản vay. Ðiều này, đến lượt nó, lại đảm bảo rằng những người có các ý tưởng và các sáng chế có thể được hưởng lợi từ chúng.

Sự thay đổi phụ thuộc vào con đường

Thế giới đã thay đổi trong các năm 1870 và 1880. Mỹ Latin đã không là ngoại lệ

Sự dai dẳng kéo dài vào thế kỷ hai mươi của một hình mẫu thể chế đặc thù không thân thiện với tăng trưởng ở Mexico và Mỹ Latin được minh họa rõ bởi sự thực rằng, hệt như trong thế kỷ mười chín, hình mẫu đã gây ra trì trệ kinh tế và bất ổn chính trị, các cuộc nội chiến và đảo chính, khi các phe nhóm tranh giành nhau vì các lợi ích quyền lực. Cuộc Cách mạng Mexic được tiếp theo bởi các cuộc cách mạng khác ở Bolivia năm 1952, ở Cuba năm 1959, và Nicaragua năm 1979. Trong lúc đó, các cuộc nội chiến kéo dài đã nổ ra ở Columbia, El Salvador, Guatemala, và Peru. Sự chiếm đoạt hay sự đe dọa chiếm đoạt tài sản vẫn tiếp tục mau lẹ, với các cuộc cải cách nông nghiệp hàng loạt (hay các cuộc cải cách được thử) ở Bolivia, Brazil, Chile, Columbia, Guatemala, Peru, và Venezuela. Các cuộc cách mạng, những sự chiếm đoạt và bất ổn chính trị đã đến cùng với các chính phủ quân sự và các chế độ độc tài thuộc nhiều loại. Tuy cũng đã có một sự trôi dạt từ từ hướng về các quyền chính trị rộng lớn hơn, nhưng chỉ đến các năm 1990 thì hầu hết các nước Mỹ Latin mới trở thành các nền dân chủ, và thậm chí khi đó chúng vẫn sa lầy trong bất ổn.

Kiếm một hay hai tỷ

Những hệ lụy kéo dài của tổ chức xã hội thuộc địa, và của các di sản của các xã hội đó, định hình những sự khác biệt hiện đại giữa Mỹ và Mexico. Sự tương phản giữa Bill Gates (Mỹ) và Carlos Slim (Mexico) đã trở thành hai người giàu nhất thế giới thế nào –Sự thăng tiến của Bill Gates ai cũng biết, nhưng địa vị của Gates với tư cách người giàu nhất thế giới và nhà sáng lập của một trong những công ty đối mới sáng tạo nhất về mặt công nghệ đã không ngăn cản Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đệ trình các vụ kiện dân sự chống lại Công ty Microsoft ngày 8-5-1998, cho rằng Microsoft đã lạm dụng sức mạnh độc quyền.

Ở Mexico, Carlos Slim đã không kiếm tiền bằng đổi mới sáng tạo. Lúc đầu ông ta đã trội hơn về các giao dịch chứng khoán, và về mua và tân trang các hãng không có lời. Phi vụ lớn nhất của ông ta đã là việc thôn tính Telmex, công ty viễn thông độc quyền của Mexico được tư nhân hóa năm 1990. Cho dù Carlos Slim đã không đặt giá cao nhất, ông đã thắng thầu. Thay cho việc trả tiền ngay cho các cố phiếu, Salim đã dàn xếp được việc thanh toán chậm, sử dụng cổ tức của bản thân Telmex để trả cho cổ phiếu. Cái từng là độc quyền nhà nước nay đã trở thành độc quyền của Salim, và nó đã sinh lợi khổng lồ.

Các thể chế kinh tế, mà đã biến Carlos Slim thành người [giàu bậc nhất] là ông ta, là rất khác với các thể chế ở Hoa Kỳ. Nếu bạn là một doanh nhân khởi nghiệp ở Mexico, các rào cản gia nhập đóng một vai trò quyết định tại mọi giai đoạn của sự nghiệp của bạn. Các rào cản này bao gồm các giấy phép đắt tiền mà bạn phải kiếm được, tệ quan liêu mà bạn phải vượt qua, các chính trị gia và những người đang ở trong ngành đứng cản đường bạn, và sự khó khăn để kiếm được tài trợ từ một khu vực tài chính mà thường móc ngoặc với những người đang trong ngành mà bạn thử cạnh tranh với. Các rào cản này hoặc có thể là không thể vượt qua được, ngăn không cho bạn vào các lĩnh vực sinh lợi, hay là chiến hữu lớn nhất của bạn, giữ không cho các đối thủ cạnh tranh của bạn đến gần. Sự khác biệt giữa hai kịch bản, tất nhiên, là, bạn biết ai và có thể ảnh hưởng đến ai – và phải, bạn có thể đút lót ai. Carlos Slim, một người có tài, có tham vọng, từ một nền tảng tương đối khiêm tốn của những người nhập cư Liban, đã là một bậc thầy về nhận được các hợp đồng độc quyền; ông đã tìm được cách để độc chiếm thị trường viễn thông béo bở ở Mexico, và sau đó mở rộng tầm với của ông ra phần còn lại của Mỹ Latin.

Salim đã kiếm được tiền trong nền kinh tế Mexic phần nhiều nhờ các mối quan hệ chính trị của ông. Khi đánh bạo sang Hoa Kỳ kinh doanh, ông đã không thành công. Khi Salim phải chịu các thể chế của Hoa Kỳ, các chiến thuật thông dụng của ông để kiếm tiền đã không có kết quả.

Hướng tới một lý thuyết về bất bình đẳng thế giới

Chúng ta sống trong một thế giới bất bình đẳng. Những sự khác biệt giữa các quốc gia là gống như những khác biệt giữa hai phần của Nogales (Arizona-Bắc và Sonora-Nam, cách nhau một hàng rào), và chỉ trên quy mô lớn hơn. Tính bất bình đẳng này không chỉ có các hậu quả đối với cuộc sống của từng con người trong các nước nghèo; nó cũng gây ra nỗi bất bình và oán giận với những hậu quả chính trị khổng lồ ở Hoa Kỳ và những nơi khác. Hiểu vì sao những khác biệt này tồn tại và cái gì gây ra chúng là tiêu điểm của chúng ta trong cuốn sách này.

Nâng cao dân trí - Giới thiệu sách “Tại sao các quốc gia thất bại” (đoạn 2)

Nguyễn Đình Cống

Lý thuyết do hai kinh tế gia hàng đầu Daron Acemoglu và Jemes A. Robinson đề xuất trong cuốn sách nổi tiếng Tại sao các quốc gia thất bại (Why Nations Fail) (hai bản dịch khác nhau của Nguyễn Quang A – trên mạng – và Nguyễn Thị Kim Chi – NXB Trẻ) tưởng chừng như đơn giản so với bộ sách Tư bản của K. Marx giải thích mọi biến động kinh tế trong xã hội bằng đấu tranh giai cấp. Nhưng đó là một lý thuyết cực kỳ thông thái, kết quả của một quá trình nghiên cứu ròng rã trong 15 năm, áp dụng chuẩn xác cho mọi hình thái kinh tế xã hội của loại người từ viễn cổ đến tận ngày nay.
Thoạt đọc vào ta tưởng hai tác giả hình dung sự vận động của nhân loại trên con đường hàng vạn năm là những ván bài súc sắc ở bất kỳ nơi đâu trên địa cầu, trong đó có 4 quân bài chủ yếu: 1. Quân bài thể chế chính trị chiếm đoạt; 2 Quân bài thể chế chính trị dung hợp; 3. Quân bài thể chế kinh tế chiếm đoạt; 4. Quân bài thể chế kinh tế dung hợp. Và các giống người khác nhau được phân bố trên bề mặt trái đất trong trường kỳ lịch sử cứ thế đem cả 4 quân bài đó bỏ vào một cái hộp rồi lắc đi lắc lại nhiều lần. Kết quả, mở hộp ra xem sự kết hợp giữa 4 quân bài là như thế nào. Nếu quân bài 2 kết hợp với quân bài 4 thì giống người ở tại vùng đất đang xóc bài sẽ may mắn hưởng thụ một nền kinh tế cực kỳ phát triển và một thể chế văn minh, nền chính trị pháp quyền sớm ra đời và công nghiệp hóa nhanh chóng phát triển. Còn nếu gặp phải những sự kết hợp khác, các dân tộc chơi bài sẽ chịu đựng một tình trạng kém may mắn. Tuy vậy, trong những kết hợp khác nhau mà các giống người nhận được khi chơi bài, vẫn có những kết hợp kiểu này khả dĩ hơn kết hợp kiểu kia, có chút hứa hẹn cải thiện kinh tế đất nước nhanh hơn hay cải thiện chính trị thông thoáng hơn. Còn như chẳng may rơi vào sự kết hợp giữa quân bài 1 và quân bài 3 thì hoàn toàn kẹt cứng, hoặc giả trong ngắn hạn tưởng như có những thời đoạn có phát triển bùng nổ ghê gớm, nhưng rồi thực tế đều nhanh chóng sụp đổ không cách nào cưỡng nổi. Đó chính là tình trạng của loài người suốt “đêm dài” Trung cổ. Và đó cũng là tình trạng mà các quốc gia trong thế kỷ 20, bị ám vào học thuyết của ông Marx, nổi lên làm cuộc cách mạng vô sản chuyên chính trời long đất lở, xây dựng một thể chế chính trị chiếm đoạt kết hợp chặt chẽ với một thể chế kinh tế tập trung (một cách gọi khác của hai chữ ”chiếm đoạt”), đẩy gần một nửa dân số nhân loại vào những thảm họa khôn lường. Liên Xô là nhà nước đi đầu, cướp chính quyền bằng bạo lực từ năm 1917 nhưng đến 1991 thì… phải giải thể. Các nước CS còn lại nhận ra lập tức nguyên nhân của khủng hoảng là sự kết hợp bất lợi 13 mà họ đã mất nhiều thập niên nhắm mắt theo đuổi, vội vàng tìm cách xóc lại hộp súc sắc để tạo ra một sự kết hợp mới. Lõi đời nhất là tay chơi Đặng Tiểu Bình, đã nhanh chóng chuyển dịch từ kết hợp 13 sang 14 (tất nhiên 4 đây không phải là 4 đúng nghĩa mà cũng chỉ là 3 có cải tiến ít nhiều). Thế là mô hình CS Trung Quốc bỗng nhiên vù vù phất lên. Đến mức kẻ tiếp nối cơ ngơi họ Đặng – Tập Cận Bình – nhảy tót lên ngai, một mặt biết rõ chỗ yếu chết người của cái mô hình cải lương rởm của đất nước y, lo xua đội quân chuyên gia đi sang các nước kinh tế hàng đầu giở trò ăn cắp công nghệ, mặt khác huênh hoang tuyên bố chỉ vài ba mươi năm nữa Trung Quốc sẽ là bá chủ thế giới. Nhưng y là kẻ không biết phận nên đã gặp phải một tay chơi khác của cái xứ sở vốn rất thạo chơi là Huê Kỳ, ngài donald Trump, đã vỗ cho y một cái, vạch vôi vào trán, chỉ ra rằng sự kết hợp 14 (giả tạo) của mô hình đất nước mày trước sau cũng sẽ chết thôi. Ngón giả dối ấy ông còn rành hơn mày nhiều. Hệt như thuở xưa một ông hàng thịt cho anh chàng hám danh một cái tát được kể trong sách Nho lâm ngoại sử, Bình có vẻ choáng váng, có vẻ đã hơi tỉnh ra…
Vậy đấy thưa các bạn. Hai tác giả đã chỉ ra rất xác đáng không phải những phân bố về mặt tài nguyên, sông ngòi, rừng vàng bể bạc, nghĩa là về mặt địa lý dành cho loài người những số phận may mắn hoặc hẩm hiu trên mặt đất khác nhau, cũng không phải quá trình tiến triển về văn hóa của mỗi sắc tộc vốn không đồng nhất, càng không phải sự thông thái hay dốt nát của những chủng người đa dạng sinh ra trên trái đất này, quyết định các quốc gia đã và đang tồn tại là thất bại hay thành công. Trong thực tiễn hoạt động của xã hội con người từ xa xưa cho đến hôm nay trên mọi vùng đất, những nhân tố bề ngoài có vẻ rất quan trọng đó kỳ thực đều vô nghĩa. Trước sau chỉ có sự kết hợp của 4 quân bài mà ta đã nói ở trên là quyết định mà thôi. Nếu sự kết hợp đúng đắn theo dạng thức 2 & 4 thì quốc gia ấy có tương lai, còn nếu kết hợp sai, theo các dạng thức còn lại thì tùy theo dạng thức nào mà quốc gia đó nhất định sẽ đứng ở vạch mốc nào.
Đất nước chúng ta không may chịu số phận làm cái đuôi của một hệ thống ngỡ rằng sẽ cầm cờ đỏ giải phóng nhân loại, sẽ đem hạnh phúc đến cho tất cả mọi giống người, ngờ đâu đó chỉ là ảo tưởng nó đẩy dân tộc lao vào chém giết và cứ ngủ mê trong chém giết đã hơn 70 năm. Nay nếu những kẻ cầm chịch không sớm tỉnh ra để điều chỉnh lại sự kết hợp của “hai quân súc sắc” cho đúng với quy luật kết hợp của một phần nhân loại văn minh đã vượt lên rất xa, thì sẽ cam phận khốn khổ cả một đời hoặc nhiều đời là diều không cần bàn cãi.
Xin giới thiệu tiếp cùng các bạn bản tóm tắt các phần cuốn sách Tại sao các quốc gia thất bại (Why Nations Fail) của GS Nguyễn Đình Cống, một sự tóm tắt công phu, giản dị, dể hiểu, với ước vọng góp phần nâng cao dân trí cho đất nước chúng ta.
Bauxite Việt Nam

Các thể chế chính trị và kinh tế, có thể là dung hợp, nó khuyến khích sự tăng trưởng kinh tế. Hoặc có thể là chiếm đoạt, nó trở thành những vật cản trở sự tăng trưởng kinh tế. Các quốc gia thất bại khi chúng có các thể chế kinh tế chiếm đoạt, được ủng hộ bởi các thể chế chính trị  chiếm đoạt, chúng cản trở và thậm chí chặn sự tăng trưởng kinh tế.

Có vẻ hiển nhiên rằng mọi người đều có lợi ích trong việc tạo ra loại thể chế kinh tế mang lại thịnh vượng. Chẳng phải mọi công dân, mọi chính trị gia, và thậm chí một nhà độc tài cướp bóc  đều muốn làm cho nước mình càng giàu càng tốt? Không đâu! Tăng trưởng kinh tế, do các thể chế có thể mang lại, tạo ra cả những người thắng và những kẻ thua, có thể đồng thời tái phân phối thu nhập và quyền lực theo một cách mà kẻ độc tài cướp bóc và những kẻ khác có quyền lực chính trị có thể trở nên tệ hơn, chứ không phải khá hơn. Ðiều này đã là rõ trong Cách mạng Công nghiệp ở nước Anh,

Như thế sự tăng trưởng tiến lên chỉ đạt được nếu không bị chặn bởi những kẻ thua kinh tế  hoặc thua chính trị. Thua kinh tế đối với người lường trước rằng các đặc quyền kinh tế của họ sẽ bị mất , thua chính trị đối với những người sợ rằng quyền lực chính trị của họ bị xói mòn.

Trong một chính thể chuyên chế, một số elite có thể sử dụng quyền lực để dựng lên các thể chế kinh tế họ ưa thích. Cách duy nhất để làm thay đổi các thể chế chính trị chuyên chế này là phải buộc elite tạo ra các thể chế đa nguyên hơn.

Chương 2 - CÁC LÝ THUYẾT KHÔNG HOẠT ÐỘNG

Địa hình địa vật

TIÊU ÐIỂM của cuốn sách là giải thích sự bất bình đẳng thế giới và cả một vài hình mẫu rộng có thể nhìn thấy dễ dàng ẩn núp bên trong nó. Nơi đầu tiên trải qua sự tăng trưởng kinh tế bền vững là nước Anh. Vào đầu thế kỷ 21, các nước giàu nhất có thu nhập bình quân đầu người trên 20.000 đô la/năm. Các nước nghèo nhất, dưới 2000.

Tác giả dẫn ra các nước giàu và nghèo trong khoảng gần 2 thế kỷ vừa qua. Ở châu Mỹ, nước giàu là Hoa Kỳ, Canada, theo sau là Chile, Argentina, Brazil, Mexico; nước nghèo như Bolivia, Guatemala, và Paraguay. Châu Phi có nhiều nước nghèo ở vùng Hạ Sahara. Châu Á có các nước giàu như Nhật, Đài loan, Hàn quốc, Singapore, các nước nghèo như Afghanistan, Haiti và các phần của Ðông Nam Á (thí dụ, Campuchia và Lào), Bắc Triều Tiên.

Cái gì giải thích những sự khác biệt lớn này về nghèo khó và thịnh vượng và các hình mẫu tăng trưởng? Vì sao các quốc gia Tây Âu và các nhánh thuộc địa của chúng đầy người định cư Âu châu bắt đầu tăng trưởng trong thế kỷ mười chín, hầu như không nhìn lại? Cái gì giải thích sự xếp hạng dai dẳng về bất bình đẳng ở bên trong châu Mỹ? Vì sao các quốc gia Phi châu hạ-Sahara và Trung Ðông đã không đạt kiểu tăng trưởng được thấy ở Tây Âu, trong khi phần lớn Ðông Á đã trải nghiệm tốc độ tăng trưởng kinh tế quá nhanh dễ gây tai nạn?

Người ta có thể nghĩ là, sự thực rằng sự bất bình đẳng thế giới là hết sức lớn và hợp logic và có các hình mẫu được vẽ sắc nét như vậy, thì có nghĩa rằng nó có một sự giải thích được chấp nhận rộng rãi. Không phải vậy. Hầu hết các giả thuyết mà các nhà khoa học xã hội đã đề xuất cho nguồn gốc của sự nghèo khó và thịnh vượng đơn giản không hoạt động và không giải thích được tình hình một cách thuyết phục.

Giả thuyết địa lý

Một lý thuyết được chấp nhận rộng rãi về các nguyên nhân của sự bất bình đẳng thế giới là giả thuyết địa lý, cho rằng sự cách biệt [divide] lớn giữa các nước giàu và nghèo được tạo ra bởi những khác biệt địa lý. Sự bất bình đẳng thế giới, tuy vậy, không thể được giải thích bằng khí hậu hay bệnh tật, hay bất cứ phiên bản nào của giả thuyết địa lý. Hãy chỉ nghĩ về Nogales. Cái tách hai phần ra không phải là khí hậu, địa lý, hay môi trường bệnh tật, mà là biên giới Hoa Kỳ-Mexico.

Nếu giả thuyết địa lý không thể giải thích nổi những khác biệt giữa Bắc và Nam Nogales, hay Bắc và Nam Hàn, hay Ðông và Tây Ðức trước khi bức Tường Berlin sụp đổ, liệu nó vẫn có thể là một lý thuyết hữu ích cho việc giải thích những khác biệt giữa Bắc và Nam Mỹ? Giữa châu Âu và châu Phi.

Một phiên bản khác có ảnh hưởng của giả thuyết địa lý đã được thúc đẩy bởi nhà sinh thái học và sinh học tiến hóa Jared Diamond. Ông cho rằng những nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa các lục địa vào lúc đầu của thời kỳ hiện đại, năm trăm năm trước, đã dựa vào các nguồn lực lịch sử khác nhau về các loài thực vật và động vật, mà sau đó đã ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp. Lập luận của Diamond cũng đã bị thực tế bác bỏ.

Giả thuyết địa lý không chỉ không hữu ích cho việc giải thích nguồn gốc của sự thịnh vượng suốt lịch sử, và đa phần là sai trong sự nhấn mạnh của nó, mà cũng không có khả năng giải thích thế đất (tình hình đặc trưng) mà chúng ta đã bắt đầu chương này

Cuối cùng, các yếu tố địa lý là không hữu ích cho việc giải thích không chỉ những khác biệt mà chúng ta thấy khắp các phần khác nhau của thế giới, mà cũng chẳng giúp ích cho việc giải thích vì sao các quốc gia như Nhật Bản hay Trung Quốc lại trì trệ trong các thời kỳ dài và rồi bắt đầu một quá trình tăng trưởng nhanh. Chúng ta cần một lý thuyết khác, tốt hơn.

Giả thuyết văn hóa

Lý thuyết được chấp nhận rộng rãi thứ hai, giả thuyết văn hóa, liên kết thịnh vượng với văn hóa.  Giả thuyết văn hóa không chỉ dựa vào tôn giáo, mà nhấn mạnh cả các loại khác của niềm tin, giá trị, và đạo đức.

Nhiều người vẫn cho rằng những người châu Phi nghèo bởi vì họ thiếu một đạo lý làm việc tốt, vẫn tin vào phù thủy và ma thuật, rằng Mỹ Latin sẽ chẳng bao giờ giàu bởi vì người dân của nó hoang toàng và túng quẫn, Tất nhiên, nhiều người một thời đã tin rằng văn hóa Trung Quốc hay các giá trị Khổng giáo là không thân thiện với tăng trưởng kinh tế, mặc dù ngày nay người ta om sòm nói về tầm quan trọng của văn hóa làm việc Trung Hoa như động cơ tăng trưởng ở Trung Quốc, Hồng Kông, và Singapore.

Giả thuyết văn hóa có hữu ích cho việc hiểu sự bất bình đẳng thế giới? Có và không. Có, theo nghĩa rằng các chuẩn mực xã hội có liên quan đến văn hóa, là có ý nghĩa và khó thay đổi, Nhưng thường là không, bởi vì các khía cạnh đó của văn hóa không quan trọng cho việc hiểu về làm thế nào chúng ta lại tới đây và vì sao sự bất bình đẳng thế giới lại dai dẳng. Các khía cạnh khác, thí dụ như mức độ mà người dân tin cậy lẫn nhau hoặc có khả năng hợp tác, là quan trọng nhưng chủ yếu chúng là kết quả của các thể chế, chứ không phải là nguyên nhân độc lập.

Trung Quốc, bất chấp nhiều thiếu sót trong hệ thống kinh tế và chính trị của nó, đã là quốc gia tăng trưởng nhanh nhất của ba thập kỷ vừa qua. Sự nghèo khó của Trung Quốc cho đến cái chết của Mao Trạch Ðông đã chẳng liên quan gì đến văn hóa Trung Hoa.

Giả thuyết văn hóa cũng vô ích cho sự giải thích các khía cạnh khác của địa hình địa thế [tình hình] xung quanh chúng ta ngày nay. Tất nhiên, có những khác biệt về lòng tin, thái độ văn hóa, và các giá trị giữa Hoa Kỳ và Mỹ Latin, nhưng hệt như những khác biệt giữa Arizona, và Sonora, hoặc giữa Bắc và Nam Hàn, những khác biệt này là hệ quả của các thể chế và lịch sử thể chế khác nhau của hai nơi. Cuối cùng, các thái độ văn hóa, mà nói chung là chậm để thay đổi, bản thân chúng không chắc giải thích được sự tăng trưởng kỳ diệu ở Ðông Á và Trung Quốc. Mặc dù các thể chế tồn tại dai dẳng, trong những hoàn cảnh nhất định chúng cũng thay đổi nhanh chóng, như chúng ta sẽ thấy.

Giả thuyết dốt nát

Lý thuyết được ưa chuộng cuối cùng về giàu nghèo là giả thuyết dốt nát. Nó khẳng định rằng sự bất bình đẳng thế giới tồn tại bởi vì chúng ta hay những kẻ cai trị chúng ta không biết làm thế nào để biến các nước nghèo thành giàu.

Mặc dù giả thuyết dốt nát vẫn ngự trị cao nhất giữa hầu hết các nhà kinh tế học và trong giới làm chính sách phương Tây, nhưng nó không giải thích được các nguồn gốc của thịnh vượng quanh thế giới và cũng chẳng giải thích được tình hình (thế đất) quanh chúng ta – thí dụ, vì sao một số quốc gia, chẳng hạn Mexico và Peru, chứ không phải Hoa Kỳ hay Anh, đã chấp nhận các thể chế và các chính sách bần cùng hóa đa số công dân của họ, hay vì sao hầu như toàn bộ châu Phi hạ-Sahara và hầu hết Trung Mỹ lại nghèo hơn Tây Âu hay Ðông Á rất nhiều.

Chúng ta sẽ chứng tỏ rằng việc đạt sự thịnh vượng phụ thuộc vào việc giải [quyết] một số vấn đề chính trị cơ bản. Chính xác bởi vì kinh tế học đã giả thiết rằng các vấn đề chính trị đã được giải mà nó đã không có khả năng tìm ra một lời giải thích thuyết phục cho sự bất bình đẳng thế giới. Việc giải thích sự bất bình đẳng thế giới vẫn cần đến kinh tế học để hiểu các loại khác nhau của các chính sách và những dàn xếp xã hội ảnh hưởng thế nào đến các khuyến khích và hành vi kinh tế. Nhưng nó cũng cần chính trị học.

Chương 3 - TẠO RA THỊNH VƯỢNG VÀ NGHÈO KHÓ

Kinh tế học vĩ tuyến 38

Vĩ tuyến 38 phân cách Triều Tiên (Bắc) và Nam Hàn từ 1945. Các chính phủ ở Bắc và Nam đã chọn  những cách khác nhau để tổ chức nền kinh tế của họ. Nam Hàn đã không là một nền dân chủ. Cả Lý Thừa Vãn và Păc Chung Hy, đã đảm bảo các vị trí của họ trong lịch sử như các tổng thống chuyên quyền. Nhưng cả hai đã cai trị một nền kinh tế thị trường nơi quyền tài sản tư nhân được công nhận, và sau 1961 Pắc đã thực sự dùng sức mạnh và ảnh hưởng của nhà nước để ủng hộ sự tăng trưởng nhanh, hướng tín dụng và các khoản trợ cấp cho các hãng thành công.

Tình hình ở phía bắc đã khác. Kim Nhật Thành, một nhà lãnh đạo của những người du kích cộng sản, đã xác lập mình như nhà độc tài vào năm 1947 và, với sự giúp đỡ của Liên Xô, đã đưa vào một dạng cứng nhắc của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung như một phần của cái gọi là hệ thống Tự lực, chẳng bao lâu đã chứng tỏ là một thảm họa. Trong khi đó, ở miền Nam, các thể chế kinh tế khích lệ đầu tư và thương mại. Nam Hàn mau chóng trở thành một trong những “Nền kinh tế Thần kỳ” của Ðông Á, một trong những quốc gia tăng trưởng nhanh nhất thế giới.

Không phải văn hóa, chẳng phải địa lý, cũng chẳng phải sự dốt nát có thể giải thích các con đường rẽ theo các hướng hoàn toàn khác nhau của Triều Tiên và Nam Hàn. Chúng ta phải ngó tới các thể chế để có một câu trả lời.

Các thể chê kih tế : dung hợp và chiếm đoạt 

Các nước khác nhau về thành công kinh tế của họ bởi vì các thể chế khác nhau của họ, các quy tắc ảnh hưởng đến nền kinh tế hoạt động như thế nào, và các khuyến khích làm động cơ thúc đẩy người dân.

Sự tương phản của Nam và Bắc Triều Tiên, của Hoa Kỳ và Mỹ Latin, minh họa một nguyên lý chung. Các thể chế kinh tế dung hợp (inclusive) như ở Hoa kỳ và Nam Hàn khuyến khích hoạt động kinh tế, sự tăng năng suất, và sự thịnh vượng kinh tế. Các quyền tài sản tư nhân an toàn là chính yếu, bởi vì chỉ những người với các quyền như vậy mới sẽ sẵn sàng đầu tư và tăng năng suất.

Các thể chế kinh tế của Bắc Triều Tiên hay của Mỹ Latin thuộc địa không có các tính chất này. Quyền tài sản tư nhân không tồn tại ở Bắc Triều Tiên. Ở Mỹ Latin thuộc địa, đã có tài sản tư nhân cho người Tây Ban Nha, nhưng tài sản của người bản địa đã rất không an toàn. Chúng ta gọi các thể chế như vậy là các thể chế kinh tế chiếm đoạt (extractive) bởi vì các thể chế ấy được thiết kể để vắt, chiết, khai thác thu nhập và của cải từ tập hợp của xã hội để cho một tập đoàn con khác chiếm đoạt.

Các động cơ của sự thịnh vượng

Các thể chế kinh tế dung hợp tạo ra các thị trường không chỉ trao cho người dân quyền tự do để theo đuổi nghề nghiệp phù hợp nhất với tài năng của họ trong cuộc sống mà cũng tạo ra một sân chơi bằng phẳng tạo cho họ cơ hội để làm. Những người có các ý tưởng hay sẽ có khả năng khởi tạo các doanh nghiệp, những người lao động có xu hướng đi làm các công việc nơi năng suất của họ lớn hơn, và các hãng kém hiệu quả có thể được thay bằng các hãng hiệu quả hơn. Thể chế này cũng mở đường cho hai động cơ khác của sự thịnh vượng: công nghệ và giáo dục.

Khả năng của các thể chế kinh tế để khai thác tiềm năng của các thị trườngdung hợp, khuyến khích đổi mới công nghệ, đầu tư vào con người, và động viên tài năng và kỹ năng của số đông cá nhân là cốt yếu cho tăng trưởng kinh tế. Giải thích vì sao rất nhiều thể chế kinh tế không thỏa mãn các mục tiêu đơn giản này là chủ đề trung tâm của cuốn sách này.

Các thể chế chính trị dung hợp và chiếm đoạt

Chính trị là một quá trình, theo đó một xã hội chọn ra các quy tắc mà sẽ chi phối nó. Trong khi các thể chế dung hợp có thể là tốt cho sự thịnh vượng của một quốc gia, thì một số người hay nhóm, sẽ khấm khá hơn rất nhiều bằng cách dựng lên các thể chế chiếm đoạt (thí dụ lãnh đạo của các chính quyền độc tài, toàn trị). Khi có sự xung đột về các thể chế, cái gì xảy ra sẽ phụ thuộc vào những người nào hay các nhóm nào chiến thắng trong trò chơi chính trị – ai có thể kiếm được nhiều sự ủng hộ, nhận được các nguồn lực thêm, và tạo được các liên minh hữu hiệu hơn. Tóm lại, ai thắng phụ thuộc vào phân bố quyền lực chính trị trong xã hội.

Các thể chế chính trị xác định ai có quyền lực trong xã hội và quyền lực đó có thể được sử dụng cho các mục đích nào. Nếu sự phân bố quyền lực là hẹp và không bị ràng buộc, thì các thể chế chính trị là chuyên chế (absolutist), như được minh họa bởi các các nền quân chủ chuyên chế trị vì trên khắp thế giới trong phần lớn lịch sử. Dưới các thể chế chính trị chuyên chế như ở Bắc Triều Tiên và Mỹ Latin thuộc địa, những người có thể nắm quyền lực này sẽ có khả năng đặt ra các thể chế kinh tế để làm giàu cho chính họ và làm tăng quyền lực của họ gây phí tổn cho xã hội.

Ngược lại, các thể chế chính trị mà phân phối quyền lực rộng rãi trong xã hội và bắt nó phải chịu các ràng buộc, là các thể chế đa nguyên. Thay cho việc được trao cho một cá nhân duy nhất hay một nhóm hẹp, quyền lực chính trị thuộc về một liên minh rộng hay một đa số của các nhóm.

Max Weber đã có định nghĩa nổi tiếng về nhà nước, đồng nhất nó với “độc quyền về bạo lực hợp pháp” trong xã hội. Không có sự độc quyền như vậy và một mức độ tập trung hóa mà nó cần phải có, nhà nước không thể đóng vai trò của nó với tư cách người thực thi pháp luật và trật tự, chưa kể đến cung cấp các dịch vụ công và cổ vũ và điều tiết hoạt động kinh tế. Khi nhà nước không đạt hầu như bất cứ sự tập trung hóa chính trị nào, thì xã hội sớm muộn sẽ sa đọa vào hỗn loạn.

Có sự đồng vận [synergy] mạnh giữa các thể chế kinh tế và chính trị. Các thể chế chính trị chiếm đoạt tập trung quyền lực vào tay một elite hẹp và đặt ít ràng buộc lên việc sử dụng quyền lực này. Các thể chế chính trị dung hợp trao quyền lực một cách rộng rãi, sẽ có xu hướng nhổ bật rễ các thể chế kinh tế tước đoạt nguồn lực của nhiều người, dựng các rào cản gia nhập, và ngăn hoạt động của các thị trường sao cho chỉ một số ít được hưởng lợi.

Các thể chế kinh tế dung hợp sẽ không được ủng hộ và cũng đã chẳng được ủng hộ bởi các thể chế chính trị chiếm đoạt. Hoặc chúng sẽ biến thành các thể chế kinh tế chiếm đoạt làm lợi cho các nhóm lợi ích hẹp nắm quyền, hoặc động học kinh tế mà chúng tạo ra sẽ gây bất ổn cho các thể chế chính trị chiếm đoạt, mở đường cho sự nổi lên của các thể chế chính trị dung hợp. Các thể chế kinh tế dung hợp cũng có xu hướng làm giảm các lợi ích mà elite có thể hưởng bằng thống trị các thể chế chính trị chiếm đoạt, vì các thể chế đó đối mặt với cạnh tranh trên thương trường và bị ràng buộc bởi các hợp đồng và các quyền tài sản của phần còn lại của xã hội.

Vì sao không luôn luôn chọn sự thịnh vượng

Các thể chế chính trị và kinh tế, có thể là dung hợp, nó khuyến khích sự tăng trưởng kinh tế. Hoặc có thể là chiếm đoạt, nó trở thành những vật cản trở sự tăng trưởng kinh tế. Các quốc gia thất bại khi chúng có các thể chế kinh tế chiếm đoạt, được ủng hộ bởi các thể chế chính trị  chiếm đoạt, chúng cản trở và thậm chí chặn sự tăng trưởng kinh tế.

Có vẻ hiển nhiên rằng mọi người đều có lợi ích trong việc tạo ra loại thể chế kinh tế mang lại thịnh vượng. Chẳng phải mọi công dân, mọi chính trị gia, và thậm chí một nhà độc tài cướp bóc  đều muốn làm cho nước mình càng giàu càng tốt? Không đâu! Tăng trưởng kinh tế, do các thể chế có thể mang lại, tạo ra cả những người thắng và những kẻ thua, có thể đồng thời tái phân phối thu nhập và quyền lực theo một cách mà kẻ độc tài cướp bóc và những kẻ khác có quyền lực chính trị có thể trở nên tệ hơn, chứ không phải khá hơn. Ðiều này đã là rõ trong Cách mạng Công nghiệp ở nước Anh,

Như thế sự tăng trưởng tiến lên chỉ đạt được nếu không bị chặn bởi những kẻ thua kinh tế  hoặc thua chính trị. Thua kinh tế đối với người lường trước rằng các đặc quyền kinh tế của họ sẽ bị mất , thua chính trị đối với những người sợ rằng quyền lực chính trị của họ bị xói mòn.

Trong một chính thể chuyên chế, một số elite có thể sử dụng quyền lực để dựng lên các thể chế kinh tế họ ưa thích. Cách duy nhất để làm thay đổi các thể chế chính trị chuyên chế này là phải buộc elite tạo ra các thể chế đa nguyên hơn.

Sự thống khổ đằng đẵng của Congo

Congo là một quốc gia nghèo khổ ở Châu Phi trong suốt chiều dài lịch sử.

Trước đây Vương quốc Congo  được cai trị bởi nhà vua. Các vùng xa thủ đô được cai trị bởi một elite, đóng các trò Thống đốc của các phần khác nhau của vương quốc. Sự giàu có của tầng lớp elite này dựa trên các đồn điền nô lệ và việc khai thác thuế. Các loại thuế rất tùy tiện; một loại thuế thậm chí đã được thu mỗi khi mũ của vua rơi xuống. Ðể trở nên thịnh vượng hơn, người dân Congo lẽ ra đã phải tiết kiệm và đầu tư. Nhưng đã không bõ công, vì mọi sản lượng tăng thêm mà họ sản xuất ra với công nghệ tốt hơn đều sẽ bị vua và elite của ông ta tước đoạt.

Sau nhiều năm là thuộc địa, Congo độc lập vào năm 1960, Các thể chế kinh tế chiếm đoạt của Congo lại được ủng hộ bởi các thể chế chính trị chiếm đoạt cao độ. Tổng thống Mobutu đã sử dụng nhà nước để làm giàu cho mình và cho các cánh hẩu của ông.

Lịch sử của Vương quốc, và gần đây hơn của Congo, minh họa một cách sinh động cho việc các thể chế chính trị xác định các thể chế kinh tế ra sao và, thông qua các thể chế này, xác định các khuyến khích kinh tế và quy mô cho tăng trưởng kinh tế như thế nào. Nó cũng minh họa mối quan hệ cộng sinh giữa chủ nghĩa chuyên chế chính trị và các thể chế kinh tế trao quyền và làm giàu cho số ít gây thiệt hại cho số đông.

Tăng trưởng dưới các thể chế chiếm đoạt

Congo ngày nay là một thí dụ cực đoan, với sự vô luật pháp và các quyền tài sản rất không an toàn. Tuy vậy, trong hầu hết trường hợp sự cực đoan như vậy không phục vụ cho lợi ích của elite, vì nó sẽ phá hủy tất cả các khuyến khích kinh tế và tạo ra ít nguồn lực để khai thác. Luận đề trung tâm của cuốn sách này là, tăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng gắn với các thể chế kinh tế và chính trị dung hợp, trong khi các thể chế chiếm đoạt dẫn đến sự trì trệ và nghèo khó. Nhưng điều này không ngụ ý rằng các thể chế chiếm đoạt chẳng bao giờ có thể tạo ra tăng trưởng, cũng chẳng ngụ ý rằng tất cả các thể chế chiếm đoạt được tạo ra bằng nhau.

Có hai cách khác biệt nhưng bổ sung cho nhau mà theo đó tăng trưởng có thể nổi lên dưới các thể chế chính trị chiếm đoạt. Thứ nhất, cho dù các thể chế kinh tế là chiếm đoạt, tăng trưởng là có thể khi elite trực tiếp phân bổ các nguồn lực cho các hoạt động có năng suất cao mà bản thân họ kiểm soát..

Một thí dụ là tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa ở Liên Xô từ Kế hoạch Năm Năm lần thứ nhất trong năm 1928 cho đến tận các năm 1970. Các thể chế chính trị và kinh tế đã mang tính chiếm đoạt có thể đạt sự tăng trưởng kinh tế nhanh bởi vì nó đã có thể sử dụng quyền lực của nhà nước để chuyển các nguồn lực từ nông nghiệp, nơi chúng đã được sử dụng rất kém hiệu quả, sang công nghiệp.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn