Hiển thị các bài đăng có nhãn Di chúc Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di chúc Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Lừa dối cấp nhà nước

Phạm Đình Trọng

1. Tán phượng vĩ bên ao cá đã lập lòe đỏ lửa. Tháng Năm, tháng có ngày sinh lại đến. Năm sinh nhật có số không (0) ở cuối được coi là năm chẵn, số năm (5) là nửa chẵn. Tháng Năm năm nay, 1965, bước vào tuổi bảy nhăm, sinh nhật nửa chẵn. Cũng là một dấu mốc cuộc đời. Dấu mốc của năm sinh nhật nửa chẵn này sẽ được ghi nhận là năm viết Di chúc.

Tháng Năm, Hà Nội đã vào hè nhưng giữa ngàn xanh Hồ Tây, Bách Thảo, Ba Đình, trong ngôi nhà sàn bốn hướng đều mở đón gió mang hương lúa hương ngô từ bờ bãi sông Hồng, mang hơi nước mát lạnh từ Hồ Tây mênh mang trong lành làm cho gian phòng làm việc trên nhà sàn lúc nào cũng có không khí dịu dàng, mát mẻ của mùa Xuân. Dù bề bộn những nghĩ suy nhưng cõi lòng thật yên tĩnh, sáng ngày 15 tháng Năm năm 1965, Hồ Chí Minh ngồi vào bàn làm việc đặt bút viết chữ đầu tiên bản Di chúc.

Bản Di chúc được khởi viết từ ngày đó đến tận tháng Năm năm 1969, ròng rã bốn năm trời. Giập. Xóa. Chữa đi chữa lại đến nát cả trang viết. Chữ xanh chữ đỏ đè lên nhau. Điều đó xác nhận sự cân nhắc chi li, thận trọng của một người từng trải ở tuổi thừa chín chắn. Mỗi chữ được lựa chọn cuối cùng để được ở lại mãi mãi với bản Di chúc là điều gan ruột của người thầy cộng sản Việt Nam gửi gắm vào lứa học trò nối nghiệp.

Bản thảo Di chúc cho thấy sự đắn đo, thận trọng, kĩ càng của người viết. Câu chữ điềm đạm, bộc bạch của Di chúc cho thấy Hồ Chí Minh chỉ đối mặt, trải lòng với trang Di chúc khi cõi lòng thật thanh thản, được sống thật với mình.

Thanh thản và sống thật với mình, Hồ Chí Minh thú nhận rằng ông chỉ là “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, thể xác ông là người Việt Nam nhưng hồn ông đã thuộc về quốc tế cộng sản khi ông viết: “Tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê-nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột”. Không còn hồn Việt Nam. Không biết đến Vua Hùng dựng nước. Không biết đến những bậc tiên liệt Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung đã viết lên trang sử hào hùng Việt Nam, tạo lên khí phách Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ biết có ông tổ thiết kế ra lí thuyết cộng sản và ông tổ thi công bản vẽ xã hội cộng sản, ông K. Mac và ông Lê nin, hai người đã đẩy loài người vào một thế kỉ đại loạn đấu tranh giai cấp với hơn trăm triệu mạng người bị thí bỏ.

Thú nhận rằng da Việt Nam, hồn quốc tế cộng sản là suy nghĩ tỉnh táo, chín chắn, là lựa chọn khôn ngoan của Hồ Chí Minh. Nếu nhận là dòng giống Lạc Việt, là con cháu Vua Hùng, khi chết đi sẽ về gặp hồn thiêng Nguyễn Trãi, Quang Trung thì Hồ Chí Minh sẽ phải rập đầu nhận tội trước các bậc tiên liệt về tội tày trời mang mớ lí luận cộng sản mất tính người, mang học thuyết bạo lực đấu tranh giai cấp đẫm máu về tàn phá tan hoang đất nước Việt Nam, giết hại giống nòi Việt Nam, chia rẽ, li tán dân tộc Việt Nam. Là người của quốc tế cộng sản, đứng ngoài dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh nhẹ nhõm trách nhiệm với dân Việt Nam, vô can với đau thương của dân Việt Nam, lại là người có công lớn với phong trào cộng sản quốc tế khi ông đã đưa đất nước Việt Nam hiền hòa, bình yên vào lò lửa cách mạng vô sản, vào biến máu đấu tranh giai cấp, đưa dân tộc Việt Nam đùm bọc yêu thương vào hận thù li tán, đưa máu và nước mắt của đấu tranh giai cấp từ trời Âu đến góc khuất châu Á để biến nhà nước Việt Nam nửa phong kiến, nửa thuộc địa thành nhà nước cộng sản đầu tiên ở Đông Nam Á.

2. Thấu hiểu kiếp người. Dù vĩ đại đến đâu, dù lúc sống có làm nghiêng ngả cả thế giới, con người cũng chỉ là sản phẩm của tự nhiên, phải chấp nhận qui luật luân hồi của tự nhiên. Từ tự nhiên, từ cát bụi mà có mặt trong cuộc đời. Khi cuộc đời kết thúc, con người phải được trở về cát bụi, về với tự nhiên. Cọp chết để da. Người chết để tiếng. Chỉ có con vật mới để lại xương, thịt, lông, da cho đời. Con người khác con vật ở chỗ, con vật chỉ tồn tại bằng thể xác. Con người tồn tại bằng sự nghiệp, bằng cái danh. “Đã mang tiếng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ). Dù chọc trời khuấy nước nhưng chết đi phải để lại cái xác, phải để lại xương, thịt, lông, da cho đời thì vẫn chỉ là con vật. Con người phải để lại cái danh. Dù danh lành hay danh dữ, con người phải có danh, phải có sự nghiệp. Thể xác chỉ là con vật. Cái danh mới là con người. Thanh thản chấp nhận sự định danh con người của tự nhiên, Hồ Chí Minh tha thiết đòi hỏi lứa học trò, lứa đồng chí cộng sản kế cận khi ông kết thúc cuộc đời cho ông được trở về tự nhiên, về tro bụi trong vũ trụ:

“Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

Đồng bào mỗi miền nên chọn l quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão”.

Bịp, bịp, bịp đến thế là cùng

Nguyễn Đình Cống

Truyện “Đôi mắt” của Nam Cao kết thúc bởi câu: Tài, tài, tài đến thế là cùng, tiên sư anh Tào Tháo. Tôi xin mượn ý đặt tên cho bài viết. Đó là chuyện khá nhiều người khi nói hoặc viết về Di chúc Hồ Chí Minh đã thêm thắt, bịa đặt ra một số điều không có trong đó. Vạch ra điều này nhằm bảo vệ sự chân thật của Di chúc

Nhân 50 năm Di chúc người ta tổ chức cơ man các hội thảo. Về việc này tôi đã viết bài “Hội thảo về Di chúc”, vạch ra việc một số tác giả trình bày tham luận với những lời hoa mỹ không có thật để gán cho nó. Đồng thời tôi cũng kể ra một số điều để bàn luận.

Có lẽ đỉnh cao của 50 năm Di chúc là cuộc lễ kỉ niệm hoành tráng vào ngày 30 tháng 8, với trên 3500 người dự, gồm từ Chủ tịch nước, các ủy viên Bộ Chính trị ĐCS, các cán bộ cao cấp của Nhà nước cho đến các bạn trẻ. Ở đây người ta lại đưa ý nghĩa của Di chúc lên tận mây xanh. Nào là: Di chúc là văn kiện lịch sử cực kỳ quan trọng, kết tinh tư tưởng, văn hóa, trí tuệ, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một bậc vĩ nhân… Những chỉ dạy của Người vừa là sự tổng kết sâu sắc về lý luận, vừa là vấn đề mang tính nguyên tắc và thời sự để giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và các Đảng viên”, rồi nữa: Di chúc là đuốc soi đường, là lý luận về xây dựng Đảng v.v..

Xem tường thuật buổi lễ trên VTV 1 tôi thấy trong khi diễn giả nhìn vào giấy đọc thao thao bất tuyệt bài diễn văn thì đa số cử tọa tỏ ra thờ ơ. Vì sao vậy? Phải chăng họ đã biết rõ phần lớn nội dung được trình bày là giả dối, họ bị bắt buộc ngồi nghe những điều đã quá quen tai. Người đọc diễn văn, tuy đôi lúc nhấn giọng vào vài chữ, nhưng chắc cũng chưa hiểu một số điều được người khác viết ra. Mà rồi chắc người soạn ra diễn văn cũng không tin vào một số điều mình viết.

Bằng thái độ khoa học nghiêm túc tôi đã nghiên cứu Di chúc và thấy rằng nội dung chủ yếu của nó nói lên tâm nguyện và tình cảm của một lãnh tụ đối với việc Đảng, việc Dân, toát lên tư tưởng trọng dân, thân dân. Tôi chẳng tìm thấy kết tinh tư tưởng ở đâu, không thấy tổng kết sâu sắc về lý luận, không thấy bóng dáng của ngọn đuốc nào.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn