Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa-chính trị Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa-chính trị Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Địa chính trị Việt Nam nhìn từ đại lục Á Âu: Bài học nào từ chiến tranh Đông Dương lần ba cho hôm nay?

Christopher E. Goscha

Minh Toàn dịch

Chống đối kịch liệt sự can thiệp của Mỹ trong chiến tranh Đông Dương, những người ủng hộ và bảo vệ cho quan điểm này được xem là "phái chính thống" ở Bắc Mỹ. Họ chỉ trích "chính sách bao vây" của Mỹ và "lý thuyết domino" là những điều bào chữa cho việc tham dự của Washington ở Đông Dương từ năm 1950 [2]. Họ thêm rằng, Việt Nam chưa từng có đủ quan trọng về địa chính trị để biện minh cho việc can thiệp rộng lớn của Hoa Kỳ vào Đông Dương. Lấy cảm hứng từ công trình rất có ảnh hưởng của William Appleman Williams, nhất là cuốn The Tragedy of American Diplomacy (Bi kịch của ngoại giao Mỹ), những người phái "chính thống" tập trung phê bình về việc can thiệp của Mỹ ở Việt Nam vào tham vọng kinh tế đế quốc của Hoa Kỳ. Giống như Williams đã chỉ ra làm thế nào mà những chiến lược của Mỹ nhằm thiết lập quyền bá chủ về kinh tế trên thế giới đã gây ra chiến tranh lạnh (chứ không phải Staline gây ra), những người đồng điệu với ông đã cố gắng chứng tỏ như thế nào mà việc bành trướng của Đế quốc Mỹ đã là nguồn gốc của chiến tranh Việt Nam.

Tuy cảm nhận rõ những phê bình này, chúng tôi buộc phải nhận thấy hai vấn đề trong việc đọc của phái chính thống về chiến tranh Đông Dương. Trước tiên, bằng việc nhất nhất dựa trên những phê bình "Đế quốc Mỹ" khi họ đọc về chiến tranh Đông Dương, những người chính thống cung cấp cho chúng ta một phân tích về Việt Nam và về địa chính trị của nó lấy Châu Âu làm trọng tâm. Cách nhìn lạ lùng này, chủ yếu lấy Mỹ làm trung tâm lịch sử, đã giấu đi những kịch bản không phương Tây khác, những nhân tố khác, những cấu trúc giải thích khác cho phép hiểu về địa chính trị Việt Nam trong quá khứ và hiện thời. Điều này đưa chúng ta đến ghi nhận thứ hai: nếu phê bình theo kiểu Williams áp dụng tốt cho hai cuộc chiến Đông Dương đầu (1946-1954; 1954-1975), chiến tranh Đông Dương lần ba (1979-1991) thành ra vấn đề cho những người phái chính thống. Thực ra người Âu-Mỹ vẫn còn ở đó, nhưng họ bị xếp vào vai phụ. Lần này, chính những nước Á Âu cộng sản lần lượt chống đối lẫn nhau. Những người chính thống gặp khó khăn khi giải thích điều gì đã xảy ra. Họ thích làm việc với hai cuộc xung đột trước hơn, chúng dễ định hình hơn theo cách tiếp cận lấy Châu Âu làm trung tâm của Williams và những nguồn tài liệu về chúng dễ tiếp cận hơn.

Theo cách nhìn của chúng tôi, điều có vẻ có vấn đề trong phương pháp của các nhà nghiên cứu chính thống là việc họ không biết những cách tiếp cận mới trong lịch sử toàn cầu đã được bạch hoá từ gần hai mươi năm qua. Và chúng khiến ta cảnh giác với những nguy hiểm về phương pháp và nhất là về khoa học luận chỉ muốn phân tích thế giới theo quan điểm phương Tây [3]. Những chuyên gia về lịch sử toàn cầu cũng mời gọi chúng ta xem xét những cách phân chia niên đại khác và những khuôn khổ không gian khác mà từ đó có thể khám phá những viễn cảnh khác. Chẳng hạn Jack Goody và John Darwin gần đây đã chứng minh rằng khuôn khổ địa lý của Á Âu đúng là có thể cho phép chúng ta giải phóng lịch sử thế giới khỏi cái áo bó buộc của quan điểm lấy Châu Âu làm trung tâm [Goody, 2010 ; Darwin, 2008].

Bài này đề xuất "đưa trở về trung tâm" địa chính trị của Việt Nam trong bối cảnh Á Âu và trong chiến tranh Đông Dương lần ba mà ở đây tôi dùng làm trường hợp nghiên cứu. Trái với những điều phái chính thống đưa ra, Việt Nam đã và vẫn hết sức quan trọng trong địa chính trị thế giới, quan trọng ở vị trí của nó trên lục địa Á Âu cũng như ở chỗ nó mở rộng ra biển Đông. Quả thực, lấy Việt Nam ra khỏi khuôn khổ Pháp-Mỹ làm phức tạp cho việc phân tích. Nhưng chiến tranh Đông Dương lần ba, đặt trong khuôn khổ Á Âu, cung cấp chính xác cho ta một khuôn khổ không gian thay thế để hiểu tốt hơn tại sao đất nước nhỏ bé này cho đến nay thật quan trọng, không chỉ cho Mỹ mà còn cho cả Nga, Trung Quốc, Nhật, thậm chí cho Ấn Độ. Đây là điều mà những người phái chính thống vẫn chưa giải thích được. Vậy hãy chuyển trung tâm cách nhìn của chúng ta.

Sau việc ngược về quá khứ ngắn gọn, tôi sẽ nói đến thời hiện tại để chứng tỏ làm thế nào mà những rạn nứt xảy ra bên trong khối cộng sản Á Âu xuất hiện năm 1950 đã kết hợp nguy hiểm trong những năm 1970. Chúng mở ra hai điểm yếu: rạn nứt thứ nhất giữa Trung Quốc với Liên Xô ở phía tây Á Âu, sứt mẻ thứ hai giữa Khơ-me Đỏ và Việt Nam ở châu thổ sông Mê Kông. Hai rạn nứt này có nguồn gốc do sự bất đồng về việc hiểu về chủ quyền quốc gia của những người chủ chốt trong khuôn khổ được xem là một cộng đồng cộng sản liên quốc gia, trải dài từ Elbe đến tận biển Đông. Những bất hòa này đã kích động những đường lối chủ nghĩa dân tộc và đã kết hợp lại trong bối cảnh địa chính trị Á Âu như thế nào là những câu hỏi nền tảng nếu ngày nay ta muốn hiểu cuộc chiến tranh thứ nhất giữa cộng sản với nhau trong lịch sử thế giới. Đầu tiên ta hãy trở về quá khứ để hiểu cách mà Cộng sản Việt Nam ở Đông Dương đã hóa thành những thùng thuốc súng trong cuộc xung đột cuối cùng, cuộc chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam, và kết thúc chiến tranh lạnh ở phía đông lục địa Á Âu năm 1979, chứ không phải một thập kỷ sau đó ở Berlin. Điều này tiếp theo cho phép ta hiểu theo một cách mới tại sao Việt Nam vẫn rất quan trọng đến tận ngày nay trong địa chính trị thế giới thống trị bởi ba "đế quốc", chứ không phải là một mà thôi...

Bất đồng của Việt Nam ở Đông Dương: Người Khơ-me Đỏ và chủ quyền quốc gia

Giống người Pháp mà họ đấu tranh chống lại, cộng sản Việt Nam suy tính trên bình diện Đông Dương. Hội nghị Genève năm 1954 tỏ rõ giữa thanh thiên bạch nhật những nỗ lực của Việt Cộng để dựng lên các nhà nước anh em có chủ quyền ở Campuchia và ở Lào. Được Mỹ và Anh ủng hộ, người Pháp từ chối công nhận sự có thực của những "chính quyền kháng chiến" hình thành năm 1950 dưới chỉ đạo đích thân của Hồ Chí Minh. Với tán thành của Trung Quốc và Liên Xô, họ đạt được việc loại khỏi bàn đàm phán những chính phủ này, đồng thời đưa ra những nhà nước cộng tác với họ, lãnh đạo bởi Bảo Đại (ở Việt Nam), Norodom Sihanouk (ở Campuchia) và Sisavavong (ở Lào). Ở phạm vi Đông Dương, hai nhà nước cộng tác nổi lên trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, một được điều khiển bởi người Pháp và nhà nước kia bởi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, Pháp và Mỹ không phải là những người duy nhất phản đối việc thành lập nhà nước do VNDCCH theo đuổi tại Campuchia và Lào. Trong những tháng trước hội nghị Genève, Pandit Nehru ở Ấn Độ không ngừng lặp đi lặp lại với lãnh đạo phái đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai rằng những nỗ lực của Việt Nam nhắm tới việc thiết lập các nhà nước cách mạng liên minh, dưới hình thức những phong trào Pathet Lào và Khơ-me Issarak còn lâu mới là những động thái trung lập. Khối cộng sản không nên ủng hộ những "nhà nước cách mạng" ở Lào cũng như ở Campuchia liên kết với VNDCCH này nếu Trung Quốc muốn cải thiện quan hệ ngoại giao với Ấn Độ và với các nước không cộng sản khác mong muốn thiết lập sự chung sống hòa bình nhân dịp chấm dứt tình trạng thuộc địa ở Châu Á (và như thế đồng thời ngăn chặn những mưu toan của Mỹ nhằm kìm hãm Trung Quốc qua trung gian Tổ chức hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) được ký kết năm 1954). Cũng như điều Nehru đã thông báo cho Chu, Đông Dương thuộc Pháp không thể dùng mô hình hậu thuộc địa lâu hơn nữa cho những người cộng sản trong việc thành lập quốc gia. Bản thân đứng đầu một quốc gia Á Âu, Nehru thiết lập cầu nối trực tiếp giữa Đông Dương và Tây Tạng trong những thương lượng với Chu. Khi việc ủng hộ những chính quyền cộng sản cách mạng này trở thành vật cản cho thương lượng ngừng bắn ở Genève, Chu giữ khoảng cách với lập trường của VNDCCH và thuyết phục Hồ từ bỏ những mưu toan cộng sản hóa Đông Dương.

Những hòa ước ngừng bắn được ký kết tháng bảy 1954 gây nên hiệu ứng tồi tệ nhất đối với hợp tác cộng sản giữa Việt Nam và Khơ-me. Việc đình chiến không chỉ đòi hỏi VNDCCH rút các cán bộ chính trị, nhà nước và quân đội của mình ở phía Việt Nam khỏi vĩ tuyến 17, mà nó cũng buộc thực hiện cùng một thủ tục rút lui bên phía Campuchia. Tuy nhiên ở Lào, sự đình chiến cho phép Pathet Lào tập hợp nhân sự trong hai tỉnh biên giới với VNDCCH. Trong khi người Việt rút quân đội, họ liền gửi ngay hàng trăm cố vấn giúp Pathet Lào theo đuổi việc xây dựng nhà nước, quân đội và năm 1955 xây dựng Đảng cộng sản. Đồng thời, họ đưa hàng trăm sinh viên Lào, rồi cả công chức, viên chức và sĩ quan Lào đến Việt Nam để hoàn thiện việc giáo dục. Tóm lại, Hồ giữ nhà nước của mình tồn tại liên kết với Lào bằng cách đào tạo mới một tầng lớp tinh hoa hành chính và quân sự Lào.

Tuy nhiên ở Campuchia, mọi việc chuyển biến theo chiều hướng khác, bằng cách yêu cầu VNDCCH rút khỏi toàn bộ lãnh thổ Campuchia, hòa ước Genève cho phép một nhóm cộng sản Campuchia khác sắp đặt một chính phủ và một quân đội kháng chiến không liên kết và tự do không bị Việt Nam kiểm soát. Nhóm này do một nhân vật tên Saloth Sar lãnh đạo, được biết đến nhiều hơn với tên Pol Pot. Ngoài ra, bằng việc sáng suốt ngả về phía Hà Nội trong suốt chiến tranh Việt Nam (chẳng hạn, cho phép đường mòn Hồ Chí Minh đi qua phía đông Campuchia), Norodom Sihanouk đạt được việc bảo vệ hiệu quả quyền lực của mình, bằng cách ngăn cộng sản Việt Nam lật đổ mình, hoặc không để họ giúp sức cho những người cộng sản chống đối quân chủ, nổi tiếng cách đáng buồn với tên "Khơ-me đỏ" mà Sihanouk đặt. Thực vậy, VNDCCH đã chấm dứt những mưu toan lật đổ hoàng thân trước kia. Cuối cùng, tuy rằng Pol Pot và thân thuộc đã duy trì liên lạc với những người cộng sản Việt Nam mạnh hơn mình, họ không hề có ý định tái lập cấu trúc nhà nước hành chính và quân sự của mình theo kiểu trước năm 1954. Không xem cộng sản Việt Nam là đồng minh cho việc xây dựng nhà nước của mình như Pathet Lào, trái lại Khơ-me đỏ coi các lãnh đạo Việt Nam, những đồng minh Khơ-me và Sihanouk đều chính là những đe dọa đè nặng đến đường lối tốt đẹp của quá trình hình thành nhà nước.

Điều này đặc biệt trở nên rõ ràng hơn năm 1970, khi Sihanouk bị truất ngôi sau cuộc đảo chính quân sự và khi quân đội Mỹ và Nam Việt Nam xâm nhập Campuchia với dự định phá hủy các cơ sở của địch và những đường tiếp tế của đường mòn Hồ Chí Minh. Thay vì hoan nghênh liên minh giữa VNDCCH và Sihanouk, do Trung Quốc thúc đẩy, những người Khơ-me đỏ thực sự nghi ngại khả năng người Việt Nam chỉ đón nhận cách mạng Campuchia tới điểm mà họ đã để lại năm 1954 và rằng họ chỉ khôi phục nhà nước đang xây dựng này theo "kiểu Pathet Lào". Nếu Việt Nam không tự xem mình là người đe dọa, hoặc chưa bao giờ có ý định "đô hộ" Campuchia như Khơ-me đỏ sau này tin như thế, thì họ lại cho rằng thân cận của Pol Pot chia sẻ giấc mơ đánh bại Mỹ của họ, và cả giấc mơ tạo lập các chế độ cộng sản độc lập và đối tác trong toàn bộ Đông Dương với Việt Nam.

Trong trường hợp này, người Việt đã sai lầm nghiêm trọng. Khi Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) tham dự vào Campuchia năm 1970, người Khơ-me đỏ đã làm hết sức mình để đòi lấy chủ quyền quốc gia và nhà nước, không chỉ chống lại quan điểm của Washington và đồng minh Campuchia của Mỹ, mà họ còn chống lại quan điểm của Hà Nội và cộng tác Campuchia của phía này. Những người Khơ-me đỏ nhất quyết đòi VNDCCH tôn trọng nghiêm chỉnh luật pháp của Campuchia quy định trong lãnh thổ của họ. Họ kiểm soát việc vào biên giới, thiết lập thuế và cố gắng, tuy gặp nhiều khó khăn, kiểm soát những phong trào quân sự của QĐNDVN cũng như mối quan hệ của họ với dân trong vùng. Tóm lại, họ nỗ lực thiết lập chủ quyền toàn bộ của mình. Sự trở lại của người Việt, của những công chức và quân nhân Campuchia thuộc thời kỳ trước 1975 không làm yên tâm đầu não lãnh đạo Khơ-me đỏ. Họ càng nghi ngại thêm việc sẽ mất chủ quyền quốc gia, thậm chí một cuộc đảo chính. Điều này giải thích tại sao những việc xô xát quân sự giữa những người cộng sản Việt Nam và Khơ-me nổ ra ngay từ năm 1970 [Chanda, 1986; Rowley, 1984; Goscha, 2006, p. 152-186; Jackson, 1989, p. 37-78].

Ngày 17 tháng Tư 1975, đảng của Pol Pot nắm quyền ở Phnôm Pênh, tự hào là đã "tự mình" đạt được điều này, hơn một tuần trước khi Sài Gòn rơi vào tay QĐNDVN. Vài tháng sau đó, khi những người lãnh đạo Việt Nam thắng cuộc muốn chúc mừng đồng cấp Campuchia về việc thiết lập Campuchia dân chủ mới do Pol Pot lãnh đạo - và nói về một "đoàn kết Đông Dương" thực thi về mọi mặt - những người cộng sản Campuchia liền nhanh chóng phản ứng lại: họ xem điều này là quan hệ "đô hộ" và diễn giải lời nói này như là mưu toan mới của Việt Nam nhằm thiết lập sự kiểm soát của mình, làm tổn hại đến chủ quyền toàn vẹn của Campuchia. Mặc dù lịch sự cám ơn với nụ cười làm yên lòng, Pol Pot tiếp tục coi những người cộng sản Việt Nam là mối đe dọa thường trực đến sự độc lập quốc gia Campuchia. Vậy là nổi lên rạn nứt đầu tiên trong địa chính trị Á Âu.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn