Hiển thị các bài đăng có nhãn Công pháp quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công pháp quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Có phải luật quốc tế suy tàn, hay là cơ hội tái sinh tốt đẹp hơn?

Linda Kinstler The Guardian ngày 26 tháng 6 năm 2025

Lê Bá Nhật Thắng biên dịch

Bình luận của Phạm Thanh Vân | Dự án Đại Sự Ký Biển Đông

Những trang sử của một đất nước từng bị tấn công bởi những cường quốc là thành viên Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc đã khiến một bộ phận có tác động đến chính sách, cũng như nhiều giới và công chúng ở Việt Nam không có nhiều niềm tin vào luật quốc tế và các thiết chế quốc tế. Bài báo trên The Guardian, “Chúng ta có đang chứng kiến sự suy tàn của luật pháp quốc tế?” dường như tiếp tục củng cố định kiến này.

Tuy nhiên, việc dịch bài viết sang tiếng Việt không nhằm để hạ thấp vai trò của luật quốc tế mà trái lại, là một nỗ lực chia sẻ và thấu hiểu những trở ngại và thách thức ở cấp độ toàn cầu mà nhà nước Việt Nam đang phải đối mặt khi giải quyết tranh chấp Biển Đông, và xa hơn, khi Việt Nam đang cố gắng hoà nhập vào các giá trị văn minh của nhân loại. Báo cáo năm 2024 của Amnesty International cảnh báo về “sự sụp đổ gần như hoàn toàn của luật quốc tế” và “sự vi phạm trắng trợn các quy tắc quốc tế”. Trong thời đại của công nghệ và AI, luật quốc tế sẽ còn tiếp tục đối mặt với thách thức chưa từng có.

Dù vậy, định hướng của Việt Nam hội nhập quốc tế và coi trọng luật quốc tế là đúng đắn, và Việt Nam đã bắt đầu có đủ tiềm năng và năng lực chuyên môn để hoà nhập vào các giá trị quan trọng đối với sự phát triển vững bền. Đóng góp quan trọng của Việt Nam trong tiến trình và nội dung Tư vấn pháp lý của Toà án Công lý Quốc tế về nghĩa vụ của các quốc gia đối với biến đổi khí hậu là ví dụ mới nhất về năng lực chuyên môn pháp lý của các nhà luật quốc tế Việt Nam, mà chúng tôi sẽ có một phân tích riêng rẽ.

Như một chuyên gia được trích dẫn trong bài báo của The Guardian nhận định, khủng hoảng có thể là cơ hội hồi sinh luật quốc tế, bắt đầu từ lĩnh vực biến đổi khí hậu đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các quốc gia. Người bình luận cho rằng khủng hoảng còn là cơ hội cho những nhà nghiên cứu luật quốc tế của Việt Nam phát triển một cách tiếp cận mới đối với luật quốc tế một cách toàn diện hơn.

Như một ví dụ, luật pháp quốc tế không chỉ được duy trì nhờ các thể chế hay thiện chí ở cấp độ quốc gia, mà còn phụ thuộc sâu sắc vào giá trị đạo đức và hành vi cá nhân của những chủ thể hành nghề pháp lý – mà tiêu biểu là thẩm phán và học giả, những người nắm sứ mệnh đưa ra những diễn giải pháp lý khách quan, công bằng, không để ảnh hưởng bởi lợi ích chính trị hay lợi ích riêng. Một khảo sát của người viết (sẽ được công bố riêng rẽ) cho thấy mối quan hệ chưa được nghiên cứu đầy đủ giữa liêm chính cá nhân và tính tin cậy và sự bền vững lâu dài của hệ thống pháp luật quốc tế. Sự thất bại về tính liêm chính ở cấp độ vi mô có thể tạo hiệu ứng thác nước và cuối cùng đe doạ tính bền vững ở cấp độ hệ thống, làm suy giảm niềm tin của công chúng đối với luật quốc tế. Tương lai của luật quốc tế không chỉ phụ thuộc vào thương lượng giữa các quốc gia, năng lực chuyên môn, mà còn bị tác động bởi những lựa chọn đạo đức hằng ngày của những người hành nghề luật. Khi các cá nhân này hành xử liêm chính, công bằng – đặc biệt với người yếu thế – họ góp phần quan trọng củng cố tính bền vững và tính tin cậy của luật quốc tế, đưa luật quốc tế không còn là công cụ của lợi ích mà trở thành một nền tảng triết lý của thuyết chung sống hoà bình. Việt Nam có thể đóng vai trò lãnh đạo định hình luật quốc tế một cách thuyết phục khi làm gương ngay trên chính đất nước mình (lead by example), với những nhà nghiên cứu và luật gia chính trực, lấy công lý là nền tảng cho mọi đức tính, ứng xử công bằng với người yếu thế. Lên tiếng cho những người Palestine ở xa hay những vấn đề toàn cầu thì dễ, ứng xử đúng đắn với những người gần mình mới là thử thách về thực hành, thay vì chỉ để những giá trị nền tảng về công lý và hoà bình của luật quốc tế dừng ở kiến thức lý thuyết.

Biên niên sử bỏ túi về xung đột Israel – Palestine: Từ góc nhìn công pháp quốc tế

Nguyễn Quốc Tấn Trung

Cuộc tranh chấp điển hình nhất, dai dẳng nhất về chủ quyền lãnh thổ.

Bản đồ khu vực Israel - Palestine hiện nay. Ảnh: sbs.com.au.

Lịch sử xung đột giữa người Israel và người Palestine có lẽ là một câu chuyện có nhiều góc nhìn phân cực còn hơn cả chiến tranh Việt Nam, theo nhận định riêng của người viết. Cách một người hiểu về xung đột này hoàn toàn lệ thuộc vào việc người đó có cảm tình với người Do Thái hay với thế giới Arab.

Tranh chấp Israel – Palestine được xem là cuộc tranh chấp điển hình nhất, nhưng dai dẳng nhất liên quan đến chủ quyền quốc gia, biên giới, xung đột vũ trang và phi thực dân hóa… trong quan hệ quốc tế. Trong bài viết này, người viết hy vọng cung cấp được một lượng thông tin vừa phải, được trung tính hóa qua lăng kính pháp luật quốc tế, nhằm góp phần giúp các cuộc thảo luận tại Việt Nam về chủ đề này mang tính xây dựng hơn.

Người viết nhận thức được rằng các yếu tố đồng minh và địa chính trị, như việc Israel là bạn “vào sinh ra tử” của Hoa Kỳ tại Trung Đông, và việc Palestine là anh em “giọt máu đào” của cả Liên Hiệp Arab (Arab League) lẫn Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (Islamic Cooperation Organization – ICO) hùng mạnh là lý do quan trọng khiến cho xung đột giữa hai thực thể kéo dài đến tận ngày nay.

Tuy nhiên, chỉ biết cúi đầu chấp nhận trước tư duy “cá lớn nuốt cá bé” chưa bao giờ là cách mà lịch sử, pháp luật và sự tiến bộ của nhân loại chuyển động, tiến hóa. Có hiểu biết và có nhìn nhận sâu sắc về sự kiện này thông qua lăng kính pháp lý mới có thể giúp người Việt Nam nhìn nhận nghiêm túc hơn về công lý quốc tế và một trật tự pháp lý quốc tế bình đẳng.

1. Israel và Palestine có danh nghĩa gì trong pháp luật quốc tế?

Có thể sẽ có học giả mang hai học thuyết là thuyết cấu thành (constitutive theory) và thuyết tuyên bố (declaratory theory) để bàn về tính chính danh và sự tồn tại của một quốc gia.

Thuyết cấu thành cho rằng một thực thể chính trị chỉ có thể được xem là một quốc gia nếu nó được các quốc gia khác công nhận. Tuy nhiên, thuyết này đã quá lỗi thời và thậm chí có tính phản động, vì nó từng tạo ra sân chơi độc quyền giữa các quốc gia tự nhận mình là văn minh. Họ thường xem các quốc gia khác là chưa đủ phát triển để có thể tự quyết định vận mệnh của mình, từ đó tạo nên nền tảng của chủ nghĩa thực dân.

Thuyết tuyên bố lại cho rằng một thực thể chính trị đương nhiên phải được công nhận là một quốc gia nếu nó đã đạt đủ các quy chuẩn khách quan theo pháp luật quốc tế. Đây là học thuyết đã và đang được đại đa số học giả quốc tế ủng hộ.

Vậy tiêu chuẩn khách quan đó là gì?

Đại dịch Vũ Hán: Đảng CSTQ và nhu cầu cải tổ công pháp quốc tế (武汉病毒大流行期间中共在国际舞台上的话语和行为以及迫切需要改革国际法)

Luật sư Đào Tăng Dực (Danlambao)

Nhân loại đương đại đã trải qua nhiều thảm họa lớn lao. Hai cuộc Thế chiến thứ Nhất (1914-1918) và thứ Hai (1939-1945), cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (1929-1933), các tội khủng bố và diệt chủng của Hitler và Đức Quốc Xã, các tội khủng bố, chống nhân loại và diệt chủng của Stalin, Mao Trạch Đông và Polpot...

Đại dịch Vi Khuẩn Vũ Hán là một trong những thảm họa lớn lao của nhân loại.

Số người nhiễm bệnh lên đến hàng trăm ngàn và nhanh chóng đến hàng triệu. Số người tử vong hàng chục ngàn và trên đà nhanh chóng lên đến hàng trăm ngàn hoặc hàng triệu. Vi khuẩn Vũ Hán có tiềm năng gieo rắc tang thương cho nhân loại vượt ra ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Vi khuẩn này tàn độc vì không những nó giết con người, mà còn giết cả nền tảng kinh tế của nhân loại.

Tại Úc Đại Lợi, một trong những quốc gia trù phú nhất thế giới, tình trạng kinh tế trở nên vô cùng tệ hại. Chính phủ chi ra hàng trăm tỷ để cứu vãn nền kinh tế quốc gia, kể cả trợ cấp 70% lương bổng của mỗi công nhân (1500 Úc Kim mỗi 2 tuần) hầu họ giữ được việc làm. Tại Hoa Kỳ và các quốc gia phát triển khác, đều có những biện pháp tương tự.

Tại các quốc gia nghèo hơn như Ấn Độ, tình trạng bi thảm hơn nhiều. Hàng ngàn người tử vong và triệu người trên thế giới thất nghiệp rơi vào cảnh thiếu ăn và màn trời chiếu đất.

Trên nguyên tắc, các cá nhân (Tập Cận Bình và đồng lõa) và tập thể (Đảng CSTQ và chính quyền Trung Quốc) có thể phải chịu trách nhiệm về đại họa này vì họ đã cấu tạo đủ các yếu tố vi phạm các tội hình luật nghiêm trọng sau đây:

  1. Tội khủng bố (terrorism): được định nghĩa như sử dụng bạo lực và sự đe dọa phi pháp, nhất là chống lại thường dân, hầu đạt đến những mục tiêu chính trị.

  1. Tội nhà nước khủng bố (state terrorism):được định nghĩa như hành động khủng bố của một quốc gia đối với một quốc gia khác hoặc đối với chính những công dân của mình.

  1. Tội ác chống nhân loại (crime against humanity):được định nghĩa như hành động cố tình nhằm tấn công một cách rộng rãi và có hệ thống chống lại bất cứ cá nhân dân sự hoặc một thành phần có thể nhận diện của quần chúng dân sự. Tội này bao gồm tội diệt chủng (genocide) được định nghĩa như giết hàng loạt một nhóm người chẳng hạn thuộc một dân tộc hay chủng tộc.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn