Hiển thị các bài đăng có nhãn khủng hoảng thể chế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khủng hoảng thể chế. Hiển thị tất cả bài đăng

Cái chết đến gần của một Quốc gia

Nhà báo Mạnh Kim

https://jbnguyenhuuvinh1962.files.wordpress.com/2019/10/dianh2.jpg?resize=438%2C438

Mỗi ngày tin tức một loang ra, con em người Việt càng thấy lòng đau nghẹn.

Những tưởng nỗi nhục này sẽ ném lên đầu con sói họ Tập, nào ngờ lại rơi trúng mặt kẻ đồng cấp "môi răng" của Việt Nam.

Cứ tha hồ ăn tiêu xả láng đi! Đưa cho nhiều con cháu vào ngồi trong công sở để tháng tháng lĩnh tiền mà chẳng có việc gì làm ngoài xây tượng đài khủng để thờ lãnh tụ; xây chùa chiền tâm linh to vật để các ngài đến cầu cúng cho chiếc ghế không lung lay; phong đủ loại tướng tá để hộ vệ bộ máy, nhưng hễ nghe tin tàu địch trâng tráo xâm phạm vùng biển chủ quyền là... cụp mặt xuống, hoặc gân cổ lên cãi người khác một cách hùng hồn: Bộ chính trị đã quyết không kiện ra quốc tế làm tình hình thêm phức tạp, quyết thế là bài bản lắm, là sáng suốt lắm trong đường đi nước bước cũng như trong đối sách “ba không!

Ừ thì cứ thế mà làm! Rồi cuối nhiệm kỳ ta lại vác rá đi vay, có ngượng một chút chứ có sao đâu.

Nhưng núi nợ khoác lên cổ dân thì mỗi năm một phình lên, làm lún sụt cả đất nước và đè người dân xuống đáy vực.

Thế thì dám chắc sẽ còn đoàn đoàn lũ lũ bỏ nước ra đi bằng mọi cách, từ mọi nẻo đường khác nhau, kể cả những người trẻ tuổi, xinh đẹp, là tương lai của đất nước trong mơ ước của tất cả cộng đồng, như cô gái trong tấm hình trên đây.

Và nhất định là sẽ lại có những containers chở đầy xác người Việt khiến cả thế giới kinh hoàng, không còn biết ăn nói ra sao với cái thể chế XHCN đang "tiến nhanh tiến mạnh", GDP “hứa hẹn” tăng đến 7 – 8% này nữa.

Than ôi! CNCS đến lúc tàn sao mà thê thảm làm vậy!

Bauxite Việt Nam

“Có chết cũng đi!” đã trở thành một lời nguyền kinh khủng ám ảnh gần như tất cả người Việt. Vì sao không nội chiến tang thương, không cuộc khủng hoảng lương thực trầm trọng nào khiến cả nước bị đói, không bị đe dọa thường trực bởi khủng bố…, vậy mà người ta phải đi, “chết cũng đi”? Đằng sau hình ảnh đất nước “yên bình” này đang nổi lên một nỗi bất an kinh khủng. Nó đến từ nhiều nguyên nhân và điểm quy chiếu cuối cùng, khi xét đến hậu quả, có lẽ chẳng gì khác hơn là sự thất bại toàn diện của một nhà nước!

Ở thời mà đất nước chứng kiến giai đoạn “bình yên” có thể nói là lâu dài nhất kể từ thế kỷ 20 đến nay, những giọt nước mắt ly hương vẫn chưa cạn. Nếu không kể những người giàu có đi “tỵ nạn” để mong tương lai con cái tốt hơn, và thành phần quan chức tham nhũng cuốn gói trốn chạy, thì nhóm đối tượng với tỷ lệ đáng kể tìm mọi cách để đi khỏi quê hương lại chính là những người nghèo hoặc cực nghèo. Vừa nghèo vừa ít học. Nhiều trường hợp được khảo sát chi tiết cho thấy họ không còn bất kỳ chọn lựa nào khác là phải đi. Đi với hy vọng đổi đời, qua con đường buôn lậu người, với cái giá không hề rẻ.

Chưa có thống kê chính xác số người Việt bị đẩy vào các đường dây buôn người trên con đường di trú bất hợp pháp nhưng ghi nhận mới của Salvation Army, nơi tiếp xúc trực tiếp các nạn nhân, cho thấy rằng, tỷ lệ người Việt được nhắc đến đối với Salvation Army từ tháng 7-2018 đến tháng 7-2019 là nhiều hơn bất kỳ quốc tịch nào khác. Trong thời gian nói trên, Salvation Army đã làm việc với 209 người đến từ Việt Nam, tăng 248% so với số nạn nhân trước đó 5 năm. Tổ chức từ thiện ECPAT (End Child Prostitution and Trafficking) cũng cho biết có một sự tăng vọt số nạn nhân người Việt, từ 135 người năm 2012 lên 704 người năm 2018 (The Guardian 25-10-2019).

Việt Nam cũng “duy trì” “vị trí” như một trong những “quốc gia nguồn” về nạn nô lệ thời hiện đại tại Anh. Ít nhất 3.187 nạn nhân Việt Nam đã được ghi nhận tại Anh kể từ năm 2009 đến nay. Khoảng 362 nạn nhân trẻ em Việt Nam (được đưa đến bằng đường dây buôn lậu người) đã được phát hiện tại Anh năm 2017, tăng hơn 1/3 so với năm 2016 (Reuters 6-3-2019). “Nạn nhân trẻ em” – chi tiết này cho thấy có không ít người hoặc đã mang theo cả con mình trên con đường di trú lậu hoặc chấp nhận để con mình ra đi không chỉ để cứu chính nó mà còn mang lại sự sống cho những người còn ở lại quê nhà.

Có thực là đang “nghiêm chỉnh thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” không?

Tương Lai

Người ta đang rầm rộ khua chiêng gióng trống để “nghiêm chỉnh” thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với phong trào “học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh”. Rầm rộ vì đây là dịp kỷ niệm 50 năm ngày công bố toàn văn Di chúc. Nhưng oái oăm thay, thời điểm rầm rộ nhắc lại “Di chúc” cũng đúng là lúc bọn Trung Quốc xâm lược đang hung hăng và ngang ngược gây hấn trên Bãi Tư Chính nhằm nắn gân những người cầm đầu trong bộ máy toàn trị “cùng chung ý thức hệ XHCN” với chúng.

Tín hiệu phát ra của Bắc Kinh quá trắng trợn nhằm đánh đòn cân não, giáng đúng vào cái não trạng đã nhão nhoét một mớ tín điều “ý thức hệ” ôi thiu của Nguyễn Phú Trọng khi nghe nói là Trọng đang xoay bản lề để có chuyến “công du Mỹ Quốc” mà hình như Nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 20. 8.2019 đã đề cập đến.

Điều này càng đặt “Tổng Chủ” vào thế “tiến thoái lưỡng nan” trước thế nước chênh vênh. Trọng lại càng lúng túng như gà mắc tóc, trước đòn Tàu quá hiểm, mà làn sóng phẫn nộ của dân thì lại đang như nước triều dâng! Thế cuộc đang đặt Trọng đối diện với một cuộc “khủng hoảng kép” về đối ngoại lẫn đối nội! Bãi Tư Chính không chỉ hệ trọng về vị trí chiến lược, mà còn có ý nghĩa sống còn về chính trị, vì để mất Bãỉ Tư Chính là mất hết. Nếu điều ấy xảy ra thì tính chính danh của Trọng không thể vớt vát được trước công luận quốc tế. Nhưng đáng sợ hơn với Trọng còn là cái biển oán giận ngày càng tràn đầy trong lòng dân khi bộ mặt hèn nhát cam chịu phận chư hầu ngày càng rõ trong thủ đoạn đu dây lươn lẹo với xu hướng “nhất biên đảo” bởi sự ràng buộc quá hiểm của Tập Cận Bình.

Vì vậy, sợ giặc cướp nước một thì Trọng lại sợ dân mười. Tại sao? Vì giặc xâm lược, tên cướp biển đang được trang bị những vũ khí hiện đại để uy hiếp chủ quyền lãnh thổ lãnh hải trên Biển Đông với cái “đường lưỡi bò” ngang ngược kia đâu phải từ bây giờ, mà đã từ rất lâu của thời “Mạnh mượt răng chắc” rồi đến “Trọng lú” trong những chuyến triều kiến “thiên triều” vẫn chỉ một mực tung hô “lý tưởng tương thông, vận mệnh tương quan” và xem 16 chữ vàng như là bùa hộ mạng để chúng giữ được cái ghế quyền lực. Với chúng, dù nước có bị uy hiếp nhưng “còn đảng là còn mình”, cái ngai vàng của “Tổng” rồi “Tổng Chủ” vẫn còn kéo dài cho dù sự sụp đổ chỉ là sớm muộn! Vì thế mà khi giặc cướp đang hoành hành, trong những lần xuất hiện đúng vào lúc lòng dân đang sôi sục, Trọng vẫn im thin thít không dám hé răng. Định học chiêu nếm phân của Câu Tiễn để lo “đại cục” chăng? Nhưng cái “cục lớn” đã thối hoăng ra rồi đâu cần phải nếm!

Tiếng cười tiễn biệt thời Cộng sản

Phạm Đình Trọng

K. Marx, cụ tổ của chủ nghĩa cộng sản có phát hiện rất tinh tường và xác đáng rằng loài người từ biệt quá khứ, từ biệt hình thái xã hội cũ để bước sang hình thái xã hội mới đều với nụ cười vui vẻ, trào lộng. Tiếng cười vui nhộn, tếu táo giã từ cái cũ già cỗi để đón nhận cái mới tươi vui đã được những nghệ sĩ nhân dân, những tài năng xuất chúng trong dân phát hiện và điển hình hóa trong những tác phẩm văn chương bất hủ.

Tiểu thuyết Don Quixote của nhà văn Tây Ban Nha Miguel de Cervantes là tiếng cười châm biếm, hài hước của loài người khi từ biệt xã hội Trung cổ, hiệp sĩ để bước vào thời Phục hưng, buổi bình minh rạng rỡ của xã hội tư bản công nghiệp.

Tiếng cười vui vẻ, sảng khoái về những tình huống, những tính cách hài hước của Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, cụ Cố Hồng, cô Tuyết, me xừ Min Đơ, me xừ Min Toa… trong tiểu thuyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng là tiếng cười của xã hội Việt Nam khi từ biệt văn minh làng xã để bước vào văn minh đô thị.

Văn minh công nghiệp, văn minh đô thị đã nhìn nhận và khẳng định vai trò của cá nhân trong xã hội, Con người đi từ bầy đàn đến những cá nhân tách ra khỏi bầy đàn, lừng lững hiển hiện giữa cuộc đời là một bước tiến trọng đại, lớn lao của lịch sử loài người.

Không có ai tẻ nhạt ở trên đời

Mỗi số phận chứa một điều bí ẩn

(Thơ Evgeny Evtusenki, nhà thơ Nga)

Oái oăm thay khi loài người vừa bước vào văn minh công nghiệp cũng là khi chủ nghĩa cộng sản phản con người, phản tiến hóa xuất hiện và một phần nhân loại đã phải sống trong xã hội cộng sản Trung cổ man rợ, trái tự nhiên, kìm hãm sự phát triển.

Dù xã hội cộng sản có đưa được con người lên vũ trụ, có điện khí hóa toàn quốc, có tên lửa mang đầu đạn hạt nhân vươn xa hàng vạn dặm thì xã hội cộng sản thực chất vẫn chỉ là xã hội phong kiến Trung cổ, không có cá nhân, không có tính người. Trong xã hội đó chỉ có cá nhân của lãnh chúa cộng sản. Người dân không còn cá nhân, không còn quyền con người. Người dân chỉ còn là đám đông, là bầy đàn, chỉ là “quần chúng cách mạng” hoặc là “thế lực thù địch”. Đó là bước thụt lùi đau đớn, là bi kịch khủng khiếp của lịch sử loài người.

Bạo phát, bạo tàn. Sau thời kì bùng phát mạnh mẽ bằng máu của hàng trăm triệu người dân, chủ nghĩa cộng sản mau lẹ đi đến suy tàn với sự sụp đổ của nhà nước Xô Viết khổng lồ và sự nối nhau tan rã của khối nhà nước cộng sản Đông Âu.

Độc tài giữa kỉ nguyên dân chủ, nhỏ bé và lạc lõng giữa thế giới văn minh, nhà nước độc tài cộng sản Việt Nam cũng đang thoi thóp những ngày tàn tạ cuối cùng. Sự hấp hối tàn tạ đó không phải chỉ hiển hiện ở nền độc lập của đất nước, đất đai gấm vóc của tổ tiên đang bị nhà cầm quyền cộng sản dâng cho Tàu Cộng để đổi lấy sự bảo kê của cộng sản Đại Hán mong kéo dài sự hấp hối. Không phải chỉ hiển hiện ở sự lụn bại, thua lỗ của nền kinh tế, làm đâu thua lỗ đấy, phải tăng thuế, tăng phí, móc túi dân, bóc lột dân bù đắp cho sự kém cỏi tồi tệ của đám quan chức ngu dốt và tham lam nắm giữ trọng trách quản trị, điều hành đất nước. Sự hấp hối, cáo chung của nhà nước cộng sản Việt Nam còn hiển hiện ở năng lực và nhân cách thảm hại đến hài hước của đám quan chức trong bộ máy nhà nước cộng sản.

Quan chức nhà nước cộng sản từ cao đến thấp đều là cướp quyền dân, cầm quyền không chính danh, trái tự nhiên, là sự giễu cợt của lịch sử, đều là những nhân vật hài hước hề chèo với nhân dân. Hài hước từ ông đảng trưởng đầy đạo mạo quyền uy.

Ông cử nhân văn chương là đảng trưởng đảng cộng sản cầm quyền đã phóng bút vịnh thơ tán tụng tập đoàn cá mập nhà đất và khách sạn Mường Thanh:

Lần này lại đến Phương Đông

Tình xưa nghĩa cũ mặn nồng Mường Thanh

Cố lên các chị, các anh

Quê hương vẫy gọi, sử xanh lưu truyền

Mấy câu có vần tán tụng Mường Thanh của ông đảng trưởng cộng sản làm cho những ai đã được cười thích thú khi đọc tiểu thuyết Số đỏ của nhà văn tài dầy mà phận mỏng Vũ Trọng Phụng đều phải nhớ đến bài văn vần bán thuốc nhức đầu giải cảm của Xuân Tóc Đỏ:

Từ ‘đồng cam cộng khổ’ đến ‘hốt cú chót’ đường sắt cao tốc $58 tỷ

Phạm Chí Dũng

Có thể tìm không mấy khó khăn những hình ảnh sinh động về rất nhiều những chàng, không phải là Donkixot mà là Xuân Tóc Đỏ của thời đại này, nhằm minh họa cho tiếng cười tiễn đưa quá khứ trong bài viết của nhà văn Phạm Đình Trọng đăng tiếp ngay trên bài này. Nhưng thôi, hãy chỉ lấy một ví dụ cũng đủ. Mà hình ảnh trong bài viết của Phạm Chí Dũng dưới đây đem ra để minh hoạ xem ra lại rất có ý vị, ở chỗ đằng sau sự chua xót của tiếng cười rổn rảng cất lên từ các nhà cầm quyền chóp bu Việt Nam là một bức tranh ghê sợ của sự vỡ nợ và xiết nợ hẳn không lâu nữa sẽ hiện ra, trong khi Quốc hội của Đảng Cộng sản Việt Nam lại đang sắp diễn một màn kịch vô cùng náo nức của việc bỏ phiếu cho đường sắt cao tốc Bắc Nam, mà phía ngoài Biển Đông kia, nơi bãi Tư Chính thì tàu Trung Cộng lại cũng đang múa lượn những điệu khiêu vũ oái oăm khiến rất nhiều người Việt chân chính phải cay nơi mắt. Đúng là cả một tấn bi hài kịch tổng hợp đang phô trương sôi nổi trên khắp mọi phía mọi nơi của cái giang sơn con Lạc cháu Hồng này.

Bauxite Việt Nam

Má»™t phần đồ họa dá»± án cao tốc Bắc-Nam. (Ảnh chụp màn hình Người Lao Động)  

Một phần đồ họa dự án cao tốc Bắc-Nam. (Ảnh chụp màn hình Người Lao Động)

Hơn một chục năm sau thời điểm khởi động âm mưu “hốt đậm” với dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam - khi đó tổng kinh phí xây dựng dự kiến ‘chỉ’ khoảng 30-40 tỷ USD, nhóm cá mập về giao thông ở Việt Nam vẫn cắm mặt lao theo dự án có triển vọng ăn uống đến tàn mạt Tổ quốc, nhưng giờ đây đã chuyển sang tư duy “hốt cú chót” với tổng kinh phí vọt đến hơn 58 tỷ USD - gần bằng toàn bộ số thu ngân sách của năm 2018 tróc nã trên đầu nhiều chục triệu người dân Việt.

Còn quan chức Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vẫn tiếp tục nghiêng ngoẹo hô hào ‘đồng cam công khổ’ để cùng trả nợ công.

Trong não trạng của Phúc và giới quan chức được đúc cùng khuôn, xương máu nhân dân phải chăng luôn là vật hy sinh đầu tiên và cuối cùng phải trả nợ cho các tập đoàn thiêu thân tham nhũng vào buổi tối trời ập lên đầu chế độ cầm quyền?

Đất nước “lệ tuôn hình chữ S’

Bộ Giao thông Vận Tải - cơ quan mà gần đây đã hiện hình từ ‘bốt’ (BOT) không chỉ bóp họng lái xe và doanh nghiệp bằng những loại phí ăn cướp, mà còn cấu kết với một số công an để thẳng tay đàn áp những tiếng nói phản đối - đã nhân danh ngụy ngôn “Chúng ta nợ nhân dân đường sắt cao tốc Bắc - Nam” của Bộ trưởng bộ này là Đinh La Thăng vào năm 2015 để biến thành “lũ người quỷ ám” (tên một tác phẩm của văn hào Nga Dostoievsky), đang âm mưu ‘lobby’ Quốc hội thông qua dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam để có cơ sở câu kéo thêm nguồn ODA từ nước ngoài, chồng thêm một núi nợ trên cái núi 431 tỷ USD nợ công đã vượt trên cả đỉnh Himalaya mà chỉ còn chờ ngày đổ sập xuống số phận của toàn bộ dân chúng còm cõi ở đất nước “lệ tuôn hình chữ S”.

Âm mưu ấy đang hiện hình ngày càng rõ hơn và không hề khoan nhượng với nhân dân, lồng trong bối cảnh Nguyễn Xuân Phúc - quan chức Thủ tướng mà sự bất nhất trong phát ngôn và não trạng có vẻ đã trở thành bản chất - cùng các cơ quan kinh tế của Chính phủ vẫn cố tình biến đổi bản chất của nợ công.

Đất nước này không phải của riêng ai

Tô Văn Trường

Đất nước này không phải của riêng ai. Đã đến lúc Đảng CSVN cần mạnh dạn đổi mới thể chế theo kinh nghiệm thành công của đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay: xóa bỏ cơ chế độc quyền, thực hiện dân chủ hóa để phát huy khả năng đóng góp của toàn dân.

Trong trường ca "Mặt đường khát vọng", nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã có những lời da diết về đất nước:

" Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi"

Và một khi đất nước không của riêng ai thì những người có trách nhiệm phải biết lắng nghe và hành động thuận theo lòng dân:

" Hãy yêu Nhân dân và nghe Ngưòi nhắn nhủ

   Hãy tìm sức mạnh mình trên cơ thể Nhân dân"

Chỉ sau Đại hội lần thứ XII của Đảng hơn một năm, hàng loạt cán bộ cao cấp đã bị đưa ra xét xử và bị kết án từ tù nhiều năm đến kỷ luật cách hết chức vụ và khai trừ khỏi Đảng, bao gồm 1 ủy viên Bộ Chính trị đương chức, hàng chục bộ trưởng, tướng lĩnh công an, quân đội đương chức và hưu trí với đủ các tội danh: tham nhũng, hối lộ, lợi dụng chức quyền, kém phẩm chất và năng lực... Đó là chưa kể đến các cấp tỉnh, huyện, xã.

Tại sao hàng loạt cán bộ ngang nhiên vi phạm pháp luật, vi phạm những quy định về tư cách cán bộ, đảng viên nhiều năm trời lại có thể vượt qua vô số mắt lưới của tổ chức để lọt vào được những vị trí quan trọng, rồi chỉ sau một thời gian ngắn bị phát hiện sai phạm và bị cách hết các chức vụ đang hoặc từng nắm giữ, thậm chí bị tống vào tù? Phải chăng điều đó chứng tỏ công tác cán bộ từ lâu đã đi theo một định hướng sai lầm và từ nhiều năm nay đã suy thoái trầm trọng đến mức báo động?

Ngoài cơ chế ra thì những ai phải chịu trách nhiệm về tình trạng này? Ai cũng biết công tác cán bộ là quan trọng vì cán bộ quyết định hết thảy. Vậy có nên tiếp tục giao quyền quyết định về một việc quan trọng đối với đất nước như vậy vào tay một cơ quan, một nhóm người để rồi lúc xảy ra chuyện chỉ có đất nước, nhân dân chịu thiệt, chứ không ai phải chịu trách nhiệm về quyết định của họ?

Đất nước này không phải của riêng ai. Đất nước đang phải lựa chọn đường để phát triển. Nhưng đất nước sẽ phát triển thế nào khi mà cán bộ được lựa chọn như hiện nay?

Ngạn ngữ Việt Nam có câu: “Sẩy một ly đi một dặm”. Quyết sách đúng hay sai ở những thời điểm quan trọng và về những vấn đề quan trọng (như công tác cán bộ) có thể tạo ra hay tiêu diệt một cơ hội cho đất nước. Có thể mượn lời nhân vật Hamlet của Shakespeare: “To be or not to be?” (“Tồn tại hay không tồn tại?”) để mỗi người Việt Nam tự hỏi: “Phát triển hay không phát triển đây?”. Khi cả nhân loại đang tiến nhanh như vũ bão, không phát triển thì khó mà tồn tại.

“Ung thư văn hóa”, “Ung thư nhân cách” ở Việt Nam: Những mảng lở loét đã bắt đầu thối rữa, bong tróc

Quách Hạo Nhiên

“...Xứ sở thật thà

sao lại lắm thứ điếm

Điếm biệt thự, điếm chợ, điếm vườn...

Điếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng

Điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

Vật giá tăng

vì hạ giá linh hồn...!”

(Nguyễn Duy – Nhìn từ xa... Tổ quốc)

Bàn về đất nước và con người Việt Nam hôm nay, ông Nguyễn Phú Trọng - đương kim Tổng Bí thư và Chủ tịch nước - đã không dưới một lần lặp đi lặp lại cái điệp khúc: “chưa bao giờ quê hương ta đẹp và có đời sống văn hóa, kinh tế phát triển, xã hội ổn định như hôm nay; “mặc dù bây giờ ra đường lắm chuyện khó chịu, tham nhũng khắp nơi nhưng nhìn tổng quát lại đất nước ta có bao giờ được thế này không?”. Tương tự như thế là: “giáo dục nước nhà chưa bao giờ được như bây giờ”; hay “cơ đồ dân tộc chưa bao giờ được như hôm nay?”...

Là người làm chính trị lại nắm quyền hành tuyệt đối nên những điều ông Trọng nói ở trên kể ra cũng không có gì lạ. Âu cũng là lẽ tất nhiên vì “miệng nhà quan có gan có thép”. Tuy vậy, trong tư cách một công dân và trên hết là một Con Người, tôi cho rằng mình có đầy đủ quyền và trách nhiệm phải nghĩ khác và nói khác ông Trọng. Trong ý nghĩa này và nhìn ở giác độ văn hóa, với những gì đã và đang xảy ra hiện nay, tôi cho rằng xã hội và con người Việt Nam hôm nay đang bị hoành hành và tàn phá bởi căn bệnh “ung thư văn hóa”, “ung thư nhân cách”. Thời gian gần đây bệnh ngày một nặng hơn vì đã chuyển sang thời kỳ cuối nên bắt đầu di căn ra khắp cơ thể; không khó để mọi người có thể nhận ra những mảng lỡ loét, thối rữa và bong tróc rất đáng sợ này.

1. Nói dối không biết ngượng mồm

Làm người phải biết tôn trọng sự thật, dám nói lên sự thật dù đó là những điều tồi tệ nhất. Người không biết tôn trọng sự thật là người không có lòng tự trọng. Mà tự trọng chính là cái thẻ “căn cước” chứng nhận sự trưởng thành về nhận thức và hoàn thiện về phẩm cách của mỗi cá nhân.

Đáng tiếc thay, người Việt hôm nay đa phần đều nói dối không hề biết chớp mắt. Từ quan cho đến dân, từ trí thức cho đến bình dân, thất học... tất thảy đều nói dối như một thói quen và không còn biết ngượng mồm.

Trong một khảo sát được công bố mới đây của mình, ông Trần Ngọc Thêm cho ràng “bệnh giả dối” đứng hàng đầu trong 34 tật xấu của người Việt, chiếm đến 81%. Còn theo điều tra của Viện nghiên cứu Phát triển Giáo dục thì tỷ lệ nói dối cha mẹ của học sinh tiểu học là 22%, học sinh trung học cơ sở là 50%, học sinh trung học phổ thông là 64% và sinh viên đại học là 80%! [1].

Thực ra, cũng không cần ông Trần Ngọc Thêm và các cộng sự phải dày công khảo sát, nghiên cứu, chỉ cần nhìn sự thối nát, bầy hầy của nền giáo dục (thầy không ra thầy, trò không ra trò, gian lận thi cử, mua bán bằng cấp, học hàm học vị diễn ra khắp nơi nhưng không một kẻ nào đứng ra nhận trách nhiệm và xin lỗi dân chúng) cùng vấn nạn tham nhũng của tầng lớp quan chức trong bộ máy công quyền (dù rằng mỗi ngày đều “học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM...”) sẽ cho thấy sự giả trá, thiếu trung thực của người Việt hôm nay khủng khiếp đến mức nào.

Một đất nước mà tham nhũng trở thành “quốc nạn”, quan tham thì nhung nhúc như giòi bọ (vậy mà lắm kẻ lại nói tiền xây biệt thự, mua xe sang hay đưa con cái đi tị nạn giáo dục và an dưỡng tuổi già ở các nước “tư bản giãy chết” là nhờ bán chổi đót, chạy xe ôm...) thì trên thế giới này có lẽ chỉ có miệng lưỡi của “Đảng ta” mới nói được câu: “tất cả vì hạnh phúc của nhân dân”!?

Chưa hết, một đất nước mà biển đảo thiêng liêng do cha ông bao đời đổ máu xương gìn giữ nhưng cứ mất dần vào tay người “bạn vàng” “4 tốt” thì rõ ràng chỉ có “Đảng ta” mới đủ lập trường và bản lĩnh chính trị vững vàng để thốt ra câu: “chúng ta phải vì đại cục” và “mọi chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo”!?

Chỉ riêng những điều trên thôi đã cho thấy con đường tiến lên CNXH của dân tộc này không thể là con đường nào khác ngoài con đường mang tên lừa mị và hoang tưởng. Và đây cũng chính là sự thật đã kéo dài hơn 40 năm nhưng dĩ nhiên cũng chỉ có “Đảng ta” là đủ dũng khí để thốt lên những lời dối gian trắng trợn: “tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”!?

Chính quyền ở chỗ....TIỀN, thưa Phó Thủ tướng

Nguyễn Đình Ấm  

Thưa PTT, riêng ông cũng như chính phủ không biết thôi chứ dân đều biết: Chính quyền với cát tặc là một! Họ là một nên việc kêu cứu, kiện cáo của dân đều vô hiệu. Không thể kêu ai nên người dân phải tự sắm sửa phương tiện, thuyền bè để ngăn cát lậu, nhiều vụ đã chết người, đổ máu như ở một xứ sở vô chính phủ.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEisy4oUY7kI9MDrf4ylyipv7LQlj7DANV4DNWDp_vrD-Hbn1jriQFBRONb1u0budNSEmVLzHiqZKthIcWtcqmw-AV6DfeQPc4bd_Je2q5VBdWNsgRJ1n_SxRRVmmzUCzgYUh4LFAVLW4bc/s640/Ca%25CC%2581t.jpg

Cảnh khai thác cát lậu trên sông Lô

Hôm 3/4/2019, họp Chính phủ, nói về “cát tặc” lộng hành bao nhiêu năm nay không thể nào dẹp được, người dân phải ra sông suối để chống, Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình hỏi: “Chính quyền ở đâu mà để dân phải chống cát tặc”?

Xem xong bản tin trên TV tôi giật mình với Phó Thủ tướng.

Đến nay PTT Trương Hòa Bình vẫn tin những đoàn tàu, xà lan dài hàng trăm mét nghênh ngang trên những con sông, tiếng máy nổ, máy xàng sỏi đá vang trời nhân dân lo lắng kêu cứu khắp nơi mà chính quyền thôn, xã, huyện, tỉnh không biết?

Thưa PTT, riêng ông cũng như Chính phủ không biết thôi chứ dân đều biết: Chính quyền với cát tặc là một! Họ là một nên việc kêu cứu, kiện cáo của dân đều vô hiệu. Không thể kêu ai nên người dân phải tự sắm sửa phương tiện, thuyền bè để ngăn cát lậu, nhiều vụ đã chết người, đổ máu như ở một xứ xở vô chính phủ.

Không riêng gì lĩnh vực “cát tặc”, ở nhiều lĩnh vực khác chính quyền không đứng về phía dân và Chính phủ nữa mà họ đứng về phía “tặc” bởi một lý đơn giản: Đứng về phía “tặc” thì có lợi còn đứng về phía dân thì chẳng có gì..

Hôm tôi về thăm quê ở ven sông Lô nơi cát tặc hoành hành hàng chục năm nay. Cảnh dòng sông hiền hòa thơ mộng với những nương ngô xanh ngắt soi bóng xuống dòng sông thấp thoáng bóng thuyền khi xưa không còn nữa, nay bờ sông nham nhở, lòng sông lồi lõm rất thảm hại. Do bị cát tặc hoành hành bờ sông sạt lở khủng khiếp đến mức tỉnh nghèo Vĩnh Phúc vừa phải bỏ ra hàng trăm tỷ để kè bờ sông...Ngồi ở quán nước, một ông khách than với bạn:

- Lãnh đạo xã đòi chia mười lăm phần trăm cát múc được thì cao quá!

-  Bảo họ giảm xuống chứ ở sông Gâm (Tuyên Quang) lúc đầu các “bố” cũng đòi mười lăm phần trăm, bọn tôi định nhổ tàu họ phải giảm xuống mười phần trăm...

-Họ nại đủ lý do nào phải chia cho huyện, bên công an, tài nguyên, tài nghiếc gì ấy...

(Sau hỏi lại mọi người tôi mới biết đó là người của đại gia công ty khai thác cát lậu.)

Tính tất yếu của suy thoái kinh tế và sự bắt buộc đổi mới 2.0?

Hoa Nghi

Trung Quốc luôn là hình mẫu để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm, và những vấn đề nội tại trong phát triển kinh tế lẫn cải cách thể chế chính trị nếu có cũng sẽ gợi mở một con đường đi tiếp theo của Việt Nam trong tương lai...

Ông Nguyễn Phú Trọng không quá coi trọng sự tăng trưởng kinh tế? Điều này đúng, khi ông từng khẳng định “suy thoái kinh tế không nguy hiểm bằng chính trị”.

Hướng giải thích về vấn đề này thế nào? Có thể đến từ việc, những chức vụ mà ông Nguyễn Phú Trọng kinh qua hoàn toàn mang tính “chính trị hàn lâm”, là một sinh viên học Văn, được đào tạo tại Liên Xô, làm tại Tạp chí Cộng sản, là Bí thư Thành ủy Hà Nội, và giờ là Tổng Bí thư. Chức Chủ tịch nước đến với Trọng như một chức vụ nghĩa vụ hơn là một vai trò đích thực. Và do đó, kinh tế chưa bao giờ là điểm nghĩ đến đầu tiên (hoặc ưu tiên) của ông Trọng.

Nhưng ông Nguyễn Xuân Phúc thì khác, là người học Trường Kinh tế Quốc dân, phụ trách các mảng hành chính - kinh tế ở địa phương và giờ là người đứng đầu Chính phủ, trách nhiệm và vai trò của ông là làm mọi cách thức để vực dậy hoặc phát triển bằng được nền kinh tế qua con số tăng trưởng. Chính từ ưu tiên kinh tế, nên quá trình điều hành Chính phủ 2 năm qua, giữa ông và Trọng có lẽ tồn tại nhiều yếu tố phi đồng thuận về mặt chủ trương, chính sách.

clip_image002

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Ông Phúc đang hướng xây dựng Chaebol kiểu Hàn Quốc, nhưng khác với Dũng, ông Phúc thận trọng bằng sự động viên, khuyến khích lẫn tạo cơ chế. Ông Phúc thường xuyên trao đổi với các lãnh đạo cao cấp thuộc tập đoàn Samsung như một cách để học hỏi kinh nghiệm, và việc xây dựng “Chaebol made in Vietnam” được tiến hành trên những tập đoàn tư có sẵn - Vingroup là một trong số các tập đoàn đó.

Jackma (Mã Vân) - ông chủ của đế chế công nghệ Alibaba - là đảng viên ĐCSTQ, và chính vì vậy - tập đoàn công nghệ giàu có này được xây dựng và gắn chặt với cơ chế trên cơ sở Đảng. Việt Nam cũng như vậy, không có quá nhiều người biết được, Vingroup có hẳn một Chi bộ Đảng ở bên trong.

Nếu ông Phúc cố gắng hỗ trợ một tập đoàn tư nhân trở thành một tập đoàn chủ lực như Samsung Hàn Quốc, thì sự phát triển nhảy vọt của Vingroup là một cơ sở đáng tin (mặc dù mang tính tạm thời) cho Chính phủ Việt Nam. Đồng nghĩa, về mặt tư duy kinh tế, ông Phúc có hơi hướng giống như ông Đặng Tiểu Bình (Trung Quốc) về xây dựng lực lượng kinh tế tư nhân. Một hình thức tư bản nằm trong lòng cộng sản rất đặc trưng để giữ gìn thể chế chính trị.

Ông Phúc cũng đang cố gắng đẩy nhanh tốc độ thoái vốn (tái cơ cấu) các tập đoàn nhà nước, những tập đoàn vẫn quen lề thói “ăn bám thể chế”. Dù vậy, tốc độ đặt ra trong tái cơ cấu là khá khiêm tốn, và mục tiêu về khối lượng doanh nghiệp nhà nước bị thoái vốn năm 2020 có thể tiếp tục bị gia hạn.

Tại Trung Quốc, Tập Cận Bình đang vừa xây dựng kinh tế tư nhân gắn chặt nhà nước, vừa nỗ lực tư bản hóa doanh nghiệp nhà nước.

Cũng giống như Việt Nam, Nhà nước Trung Quốc sở hữu nhiều doanh nghiệp lớn, và thay vì để “thị trường” quyết định, Nhà nước với cánh tay vô hình sẽ xác định doanh nghiệp nào được trợ cấp, thị trường nào cần được bảo vệ, và khoản vay nào sẽ được đưa ra để hỗ trợ.

Tuy nhiên, trong một bài viết được đăng trên Washington Post, Robert J. Samuelson đã tìm hiểu tại sao Trung Quốc bám vào chủ nghĩa tư bản nhà nước. Đó là vì chính trị, chế độ phải nắm chặt kinh tế. Nhưng Trung Quốc đã phải sớm trả giá cho điều này. Bởi, vì muốn thay “thị trường” để quyết định, Trung Quốc đã tìm cách bảo hộ DNNN, ép buộc các doanh nghiệp nước ngoài phải chuyển giao công nghệ mới hoặc kế hoạch kinh doanh cho các doanh nghiệp Trung Quốc. Và Mỹ thời kỳ Donald Trump hoàn toàn phản đối cách ứng xử này.

Trung Quốc buộc phải từ bỏ các chính sách nêu trên, nhưng điều này đồng nghĩa, Bắc Kinh sẽ “loại bỏ toàn bộ mô hình kinh tế của chính nó”..

Điều khá thú vị là bài viết của Robert J. Samuelson đã dẫn quan điểm của chuyên gia kinh tế Nicholas Lardy thuộc Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, tác giả của cuốn sách “Nhà nước đình công trở lại: Sự kết thúc cải cách ở Trung Quốc”. Ông lập luận rằng, vài năm trước, Trung Quốc dường như đang dần chuyển sang một hệ thống doanh nghiệp tư nhân, với số lượng công ty chiếm khoản 70% GDP.

Tập Cận Bình trong năm 2013, đã chi 57% các khoản vay đã được chuyển đến các công ty tư nhân và 35% cho các công ty do nhà nước kiểm soát. Nhưng đến năm 2016, các công ty nhà nước nhận được 83% các khoản vay, so với 11% cho các công ty tư nhân. Phần lớn khoản cho vay này đến từ các ngân hàng quốc doanh. Lý do cho sự thay đổi này là vì, tăng trưởng GDP của Trung Quốc đang giảm từ 10% mỗi năm (2007 - 2009) xuống còn 6-7%, và tiếp tục giảm 2-4% trong các năm tới. Nhiều quan điểm lý giải điều này xuất phát từ việc Trung Quốc đã khai thác hầu hết các công nghệ hiện có; Trung Quốc có quá nhiều nợ; dân số Trung Quốc đang già đi nhanh chóng, cản trở tăng trưởng lực lượng lao động.

Việt Nam cũng đang trong thực trạng nêu trên (cơ cấu dân số vàng đã qua; nợ quốc tế tiếp tục gia tăng - năm 2018 nợ nước ngoài quốc gia ở mức 49,7% GDP và dự kiến năm 2019 là 49,9% GDP; chưa có cơ sở công nghệ và công nghiệp nào vững chắc).

Nhưng quan điểm khác lại cho rằng, thặng dư thương mại giảm xuất phát từ quyết định sai lầm trong ủng hộ các công ty nhà nước, mà ông coi là kém hiệu quả. Trong khi lợi nhuận của các công ty thuộc khu vực tư nhân cao hơn gấp đôi so với các công ty do nhà nước kiểm soát. Điều này đồng nghĩa, khi Tập Cận Bình còn dựa vào DNNN thì sẽ càng làm suy yếu tăng trưởng kinh tế trong tương lai của Trung Quốc. Và khi GDP giảm, thì tình trạng bất ổn xã hội, thất nghiệp, bất ổn tài chính, sẽ làm suy yếu quyền lực của ĐCS.

Việt Nam có vẻ đang tiệm cận vấn đề liên quan đến DNTN lẫn DNNN nêu trên (thoái vốn ở các DNNN đang cực kỳ khó khăn, trong khi thuế phí tăng làm cho hoạt động sản xuất - kinh doanh ở DNTN lâm vào nhiều khó khăn).

Khi kinh tế không được duy trì, thì Tập Cận Bình sẽ kết thúc số phận chính trị sớm hơn dự kiến được nêu ra trong Hiến Pháp (bỏ nhiệm kỳ Chủ tịch nước khiến Tập Cận Bình có thể nắm quyền đến chết). Nó đồng thời tác động đến Việt Nam, nhưng như đã đề cập trên, nền tảng Việt Nam về kinh tế vừa thiếu và yếu hơn so với Trung Quốc, nếu cải cách kinh tế theo hướng gia tăng hỗ trợ tư nhân, thoái vốn liên tục ở DNNN không diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam cũng sẽ sớm đối diện với khủng hoảng.

Đoàn người mất mát hay cơ chế nó là thế!

Ánh Liên

Bà Lê Thị Nga uất ức: ‘Nếu tôi tố cáo sai, cứ đem tôi bắn bỏ. Tại sao không có quyết định mà lại đập phá nhà tôi? Tại sao lại phải phun thuốc vào nhà khiến chồng tôi nhập viện liên tục mấy năm nay? Tài sản của gia đình tôi bị mang đi hiện nay đang ở đâu?’.

Một đoạn trích dẫn trong bài viết mang tên ‘Thủ Thiêm - Một tương lai của hai thế hệ bị bỏ lỡ’ được đăng trên trang tin Viettimes.

Những người dân oan Thủ Thiêm có cả bộ đội, những người từng hy sinh xương máu, tuổi thanh xuân để gây dựng nên thể chế hiện nay.

Dân oan Thủ Thiêm bị tàn phá 20 năm đằng đẵng vì các quyết định lợi ích nhóm, còn những kẻ lợi ích nhóm thì ăn chơi phè phỡn và chờ đợi một cú hích mang tên: hạ cánh an toàn.

https://4.bp.blogspot.com/-8yBWfTrEA3M/XDX7bV_r3_I/AAAAAAAAAVE/w3ABdOmF8LMISy9I2lgn6OChT0sObMbeQCLcBGAs/s640/vt_phodongsg2_hvzu.jpg

Thủ Thiêm với những lợi ích nhóm chằng chịt đã cướp đạt thời gian của 2 thế hệ người dân ở đây.

Tất Thành Cang, hay những lãnh đạo Quận 2 được người dân tế sống bằng liễng hoa tang. Nhưng đối với những lãnh đạo ‘vô thần’ và vô liêm sỉ, thì ‘tang sống’ cũng không là điều gì đó khiến họ bận tâm.

Khi Tất Thành Cang bị kỷ luật, nhiều quan điểm hồ hở cho rằng, Tất Thành Cang hiện nay bị như vậy là ‘quả báo’. Nhưng thứ ‘quả báo’ này lại đến quá muộn, và thực sự là ‘quả báo hời’ cho đội ngũ quan chức quan liêu, tham nhũng.

Thủ Thiêm vẫn ngổn ngang sau cơn cuồng nộ của dư luận xã hội, nhưng trật tự bên trong bộ máy chính quyền lại đang nhộn nhịp sắp xếp lại cho ‘phù hợp với tình hình mới’. Một cách đối phó tạm thời với dư luận, và khi Tất Thành Cang bị kỷ luật, cũng chỉ là cách xoa dịu cảm xúc dư luận ở một điểm nào đó.

Biệt thự, tài sản ngầm, những tháng ngày phè phỡn trên xương máu và sự nhọc nhằn của dân Thủ Thiêm vẫn sẽ tồn tại và mãi sẽ tồn tại.

Nhiều người bảo: ấy, cơ chế nó là thế.

Cộng sản hiện tại không thể sánh bằng tư bản hoang dã

Đỗ Ngà

Âu Châu đi trước phần còn lại thế giới về sự phát triển. Ở thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, người ta đặt lợi nhuận lên hàng đầu và khai thác mọi thứ đến cạn kiệt. Về xã hội, họ vắt kiệt sức lao động của công nhân và nông dân. Về tự nhiên, họ khai thác sạch sẽ những hầm mỏ bất chấp môi trường, rừng họ khai thác cạn kiệt bất chấp hệ quả của nó. Thế là sau thời gian khai thác, hậu quả bắt đầu đổ xuống đầu dân, và ngược lại, dân sẽ bùng lên sức phản kháng, và tất nhiên, những phản kháng ấy gây áp lực lên chính quyền.

Công nhân bị bóc lột đến kiệt sức thì họ biểu tình, họ bãi công, hoặc thậm chí bạo động đòi yêu sách. Môi trường bị ô nhiễm dân sống không nổi thì họ cũng xuống đường phản đối. Rừng trọc, thời tiết thay đổi làm thiên tai và nhân họa ập đến thì người dân trút giận nơi đâu? Tất nhiên là trút giận vào chính quyền. Như vậy, sự phát triển bất chấp, cuối cùng đều áp lực ấy cũng đổ vào hệ thống chính trị. Rất may, Tây Âu có hệ thống chính trị mở, nắm bắt các cơ hội đó, các đảng đối lập vận động lá phiếu dân bằng những cam kết cải thiện. Thế là các đảng phái cứ thay nhau cầm quyền hiệu chỉnh chính sách, sửa luật, cải cách bộ máy công quyền để giải quyết những vấn đề nan giải ấy. Chính vì thế, ngày nay các nước Tây Âu đã xây dựng chế độ an sinh xã hội hoàn hảo. Hiện nay, vấn đề quyền lợi người lao động được pháp luật đảm bảo. Môi trường được bảo vệ một cách bài bản, rừng được phục hồi và mảng xanh được che phủ trở lại.

Tính từ ngày Anh Quốc chuyển từ Quân Chủ Chuyên Chế sang Quân Chủ Lập Hiến nay đã gần 400 năm, các nước châu Âu khác cũng đã trải qua vài trăm năm dân chủ, và đến nay họ đã 73 năm không còn chiến tranh, Âu châu đã phục hồi tất cả và phát triển bền vững. Tư bản thời sơ khai nhờ dân chủ mà xã hội đã được điều chỉnh ngày một hoàn thiện. Vì sao người ta lại cho rằng, CSVN đang ở “thời kì tư bản hoàng dã”? Bởi vì người ta căn cứ vào hiện tượng, cũng khai thác sức lao động của tầng lớp lao động đến cạn kiệt, không có chế độ lao động cho công nhân, không có an sinh để hỗ trợ họ. Về thiên nhiên thì cũng tàn phá khủng khiếp và hậu quả đó đang đổ lên đầu tất cả mọi người dân. Chính vì thế mọi người cho rằng CS hôm nay tựa tư bản hoang dã Tây Âu.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn