Hiển thị các bài đăng có nhãn Sông Mékong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sông Mékong. Hiển thị tất cả bài đăng

Món quà trên thịt da

Khải Đơn

18 - 8 - 2023

Bà gieo một hạt lịch sử đời sống vào tôi. Chúng tôi trở thành nhân chứng của đời sống đang biến mất và bà là loài hiếm hoi sẽ biến mất khi cù lao của bà tan vào nước. 

Ủy hội sông Mekong hối thúc Trung Quốc chia sẻ dữ liệu

Đông Phong

Trung Quốc không có hiệp ước về chia sẻ nguồn nước với các nước hạ lưu Mekong và chỉ chia sẻ dữ liệu hạn chế về dòng chảy ở thượng lưu con sông trong mùa mưa.

Sông Mekong ở biên giới Thái Lan và Lào. Ảnh: Reuters.

Ủy hội sông Mekong (MRC) hôm 25/8 thúc giục Trung Quốc phối hợp với các chuyên gia của họ để chia sẻ dữ liệu cả năm về tuyến đường thủy huyết mạch, thay vì Bắc Kinh duy trì một nền tảng riêng biệt cùng tổ chức mới mà họ lập ra.

Việc kiểm soát nguồn nước là vấn đề nhạy cảm chính trị, trong khi sinh kế của nhiều nông dân và ngư dân phụ thuộc vào dòng sông. Báo cáo của một công ty nghiên cứu Mỹ năm 2020 đã cáo buộc Trung Quốc giữ lại lượng lớn nước trong đợt hạn hán năm 2019. Bắc Kinh phủ nhận việc này, theo Reuters.

Chiếm biển, đoạt sông, nhân tai và thiên tai

Vũ Kim Hạnh

Tin tức khắp các trang tin quốc tế sáng nay: Nước sông Dương Tử của Trung Quốc và các phụ lưu dâng lên mức nguy hiểm sau nhiều ngày mưa lớn đã dẫn tới kích hoạt cảnh báo động ứng phó khẩn cấp chưa từng có.

Thiên tai khốc liệt...

Tỉnh Tứ Xuyên ở Tây Nam Trung Quốc, lần đầu tiên kích hoạt ứng phó lũ lụt mức cao nhất, khi nước dâng tới các di sản thế giới như Cửu Trại Câu và Lạc Sơn Đại Phật.

Theo Tân Hoa Xã, mưa liên tục đã khiến 22 con sông lớn ở Tứ Xuyên vượt mức cảnh báo lũ lụt. Các dòng sông dâng cao đã làm ngập một số khu vực đô thị ở Nhã An và Lạc Sơn. Chính quyền địa phương đã sơ tán hơn 100.000 người bị ảnh hưởng bởi thảm họa.

Cơ quan kiểm soát lũ lụt và cứu trợ hạn hán của tỉnh đã nâng phản ứng lên cấp 1, mức cao nhất trong hệ thống ứng phó khẩn cấp 4 cấp, vào lúc 5 giờ sáng ngày 18.8. Thành phố Nhã An phải di tản hơn 36.000 người lúc sông tràn bờ ngày 17/8.

…thì kệ thiên tai. Nhân tai vẫn càn quấy, áp đảo

Tàu cá TQ thiện chiến: Sau hơn 100 ngày đơn phương (áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 2020 đến ngày 16 tháng 8 năm 2020) với phạm vi cấm đánh bắt trải dài từ vùng biển phía bắc Biển Đông, bao gồm cả một phần Vịnh Bắc Bộ và Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, tàu cá TQ bắt đầu tràn xuống Biển Đông.

Theo Tân Hoa xã, nhiều làng chài phía nam Trung Quốc đã làm lễ trước khi ra biển ngày 16/8, trên các cảng cá, hoạt động chuyển lương thực đã diễn ra tấp nập…

Thạc sĩ Hoàng Việt, một nhà nghiên cứu Biển Đông lâu năm, hôm 17/8 đã nhận định: “Mỗi ngư dân xuất hiện trên biển là cột mốc sống về chủ quyền. Nếu chủ quyền một quốc gia trên biển không được thể hiện bằng các ngư dân xuất hiện trên biển, đánh bắt trên biển, thực hiện các quyền của mình trên biển, thì chủ quyền đó chỉ tồn tại trên giấy. Lượng tàu cá Trung Quốc xâm nhập đánh bắt cá trái phép gọi là IUU (đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định) hiện nay là số lượng tàu lớn nhất trên thế giới, mà hầu hết là đánh bắt với phương pháp tận diệt. Hậu quả của việc này là nguồn hải sản bị cạn kiệt và bị phá hủy. Ngoài ra Tàu cá Trung Quốc thực ra là lực lượng dân quân biển Trung Quốc tiếp tục xân phạm hoặc quấy phá các hoạt động của ngư dân, cũng như thăm dò tài nguyên dầu khí ven biển của các quốc gia tại khu vực Đông Nam Á này”.

Trung Quốc hiện có khoảng 200.000 tàu sắt đánh cá lớn, được Chính phủ Trung Quốc tài trợ. Trong 4 năm qua, Chính phủ Trung Quốc dành 28 tỷ USD trợ cấp các đội tàu đánh cá này.

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Việt Nam hiện có tổng số tàu cá 110.950 tàu, đa số là tàu gỗ, hoạt động không có trợ cấp gì từ Chính phủ.

Từ năm 1999 đến nay, Trung Quốc đã đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, nhưng theo Tân Hoa xã, chưa năm nào nghiêm khắc như năm nay. Một loạt công nghệ mới đã được sử dụng để giám sát lệnh cấm từ định vị vệ tinh, giám sát thông qua video trực tiếp và big data.

Điều tra Mỹ về thủy điện Trung Quốc làm Mêkông khô hạn: Cơ hội các nước hạ lưu đòi công lý?

Trọng Thành

Ảnh minh họa : Đập Xayaburi, dài 820 mét, do Trung Quốc xây trên thượng nguồn sông Mêkông tại Lào. Handout / CK POWER / AFP

Đồng bằng Cửu Long thiếu nước ngọt chưa từng thấy đầu năm 2020 này, tiếp theo đợt hạn hán 2019. Khó ai ngờ ở xứ sở kênh rạch chằng chịt lại có ngày người dân phải mang can mua nước ngọt. Bên cạnh biến đổi khí hậu toàn cầu, và việc sử dụng nước tại chỗ bất hợp lý, các đập thủy điện, đặc biệt đập do Trung Quốc xây ở thượng nguồn, được coi là một nguyên nhân chính gây hạn hán. Tuy nhiên, cho đến nay, dường như đã chưa có nghiên cứu nào chỉ rõ.

Đầu tháng 4/2020, điều tra của một cơ sở nghiên cứu, có trụ sở tại Mỹ, cho thấy việc các đập thủy điện trên thượng nguồn Mêkông giữ nước là nhân tố gây ra hạn hán tại hạ lưu. Ngay sau khi nghiên cứu của Mỹ được công bố, một số quốc gia hạ lưu Mêkông đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc minh bạch thông tin về các đập thủy điện.

Liệu kết quả điều tra mới về vai trò gây hạn hán của đập thủy điện Trung Quốc có góp phần cứu vãn dòng Mêkông? Mục Theo dòng thời sự của RFI tổng hợp thông tin về vấn đề này.

*** 

Điều tra mới về vai trò của các đập thủy điện Trung Quốc trên thượng nguồn Mêkông cho thấy điều gì? 

Cuối tháng 2/2020, trong một cuộc tiếp xúc với các nông dân và ngư dân Lào khi đó lo lắng về tình trạng hạn hán chưa từng thấy trên dòng Mêkông, ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (Wang Yi) đã lên tiếng trấn an người dân Lào, đồng thời khẳng định Trung Quốc lâm vào tình trạng tương tự. Tuy nhiên, theo báo mạng Hoa Kỳ New York Times, các nghiên cứu về khí hậu, thủy văn, dựa trên các dữ liệu vệ tinh, vừa được công bố, cho thấy điều ngược lại.

Điều tra của công ty Eyes on Earth, được chính quyền Mỹ tài trợ, công bố ngày 12/04/2020, cho thấy đã có rất nhiều nước từ cao nguyên Tây Tạng đổ về thượng nguồn sông Mêkông tại Trung Quốc (đoạn sông mà Trung Quốc gọi là Lan Thương), đúng vào giai đoạn mà Bắc Kinh tuyên bố phía Trung Quốc cũng bị hạn hán. Đồng giám đốc điều tra, ông Alain Basist, nhấn mạnh: ‘‘Không thể bác bỏ được các dữ liệu từ vệ tinh, trong khi có rất nhiều nước trên cao nguyên Tây Tạng, thì những nước như Cam Bốt và Thái Lan lại lâm vào cảnh thiếu nước… Đã có một lượng nước khổng lồ bị Trung Quốc giữ lại’’.

Trung Quốc hạn chế dòng chảy Mekong. Các quốc gia khác chịu hạn hán

Hannah Beech

Nguyệt Quang Bảo dịch

Công trình nghiên cứu mới cho thấy những kẻ chủ mưu ở Bắc Kinh có vẻ như đã trực tiếp tạo ra các mực nước thấp kỷ lục ở Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam.

BANGKOK – Trong khi Trung Quốc bị lâm vào trận dịch coronavirus hồi cuối tháng Hai, bộ trưởng ngoại giao của nước này đã diễn thuyết trước một đám đông lo âu ở Lào, quốc gia có nông dân và ngư dân trên khắp vùng sông Mekong đang vật lộn với trận hạn hán tồi tệ nhất trong đời họ.

Thông điệp của Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị (Wang Yi -- 王毅) là: Chúng tôi cảm nhận được nỗi đau của quý vị.

Ông ta nói rằng TQ cũng đang chịu đựng những tình trạng khô hạn làm cạn nước từ một trong những con sông năng suất nhất thế giới.

Nhưng công trình nghiên cứu mới từ các nhà khí hậu học của Mỹ lần đầu tiên cho thấy rằng TQ, nơi mà nguồn nước bắt đầu từ cao nguyên Tây Tạng, hoàn toàn không hề chịu cảnh ngộ khốn khổ như vậy. Thay vào đó, các kẻ chủ mưu của Bắc Kinh có vẻ như đã trực tiếp tạo ra các mực nước thấp kỷ lục bằng cách hạn chế lưu lượng của con sông.

Alan Basist, đồng tác giả của bản báo cáo cho Eyes on Earth, một chương trình giám sát tài nguyên nước, đã được đăng tải hôm thứ Hai, nói rằng: "Dữ kiện của vệ tinh không nói láo, có rất nhiều nước ở cao nguyên Tây Tạng, ngay cả khi các quốc gia như Cam Bốt và Thái Lan đang phải chịu hạn hán cùng cực”.

Ông Basist nói thêm rằng: "Thật sự có một khối nước khổng lồ đang bị chặn lại ở TQ".

Mekong là một trong những con sông màu mỡ nhất trên trái đất, nuôi dưỡng cả hàng chục triệu con người bằng các vùng nước và các ngư trường giàu dinh dưỡng của nó. Nhưng một dãy các con đập, hầu hết là ở TQ, đã cướp đi những nguồn sống phì nhiêu này của con sông.

Những người sống phụ thuộc vào những ngư trường trong nội địa nước họ đều nói rằng sản lượng của họ đã đột ngột giảm một cách khắc nghiệt. Những trận hạn hán triền miên và những trận lũ lụt bất thình lình đã vùi dập khổ sở những người nông dân.

Nghiên cứu khẳng định Trung Quốc giữ nước lại trên thượng nguồn Mê Kông!

RFA

Đập thủy điện Nọa Trát Độ (Nuozhadu) là một trong những con đập lớn nhất Trung Quốc. RFA

Vào những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, khi Trung Quốc bắt đầu xây đập thủy điện đầu tiên tại thượng nguồn sông Mê Kông, đã có các suy đoán rằng đó là bước đi đầu tiên của chính phủ Bắc Kinh cho kế hoạch kiểm soát và hạn chế nguồn nước tại hạ nguồn sông Mê Kông. Đây là khu vực nơi mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, phụ thuộc vào nguồn nước này cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt hàng ngày của người dân.

Công trình nghiên cứu của tổ chức Eyes on Earth, tổ chức chuyên nghiên cứu về nước do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ được bắt đầu từ năm 1992. Một trong những kết luận vừa được công bố là việc trữ và không xả nước từ các đập thủy điện trên thượng nguồn dòng chính Sông Mê Kông thuộc Trung Quốc trong nhiều năm gần đây dẫn đến tình trạng hạn hán ở các quốc gia hạ nguồn, trong đó có Việt Nam.

Dữ liệu nghiên cứu biểu thị mực nước dự kiến và mực nước thực tế của sông Mê Kông từ năm 1992 - năm 2020. Stimson Center

Theo Eyes on Earth, trong gần 3 thập niên qua, Trung Quốc đã xây dựng và cho hoạt động tổng cộng 11 con đập lớn dọc sông Mê Kông và trữ một lượng nước khổng lồ.

“Khóc một dòng sông”

Nguyễn Tuấn Khoa

Giờ Vạn Vật Học lớp Đệ Lục (1972), khi giảng về sông Cửu Long thầy tôi nói: Đó là con sông hùng vĩ, thượng nguồn ở Trung Quốc (TQ) chảy qua 5 nước. Sông có 9 nhánh đổ ra Biển Đông, giống như 9 con rồng phun nước tại cửa 9 cửa sông.

Thầy nói, thật ra sông Cửu Long chỉ có 8 nhánh! Do số 9 là số may mắn trong văn hóa Phương Đông nên người ta phải cố gán thêm một nhánh cho đủ 9. Đó là nhánh Ba Thắc rất nhỏ, đang bị bồi lấp.

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/03/1-5.jpg

Vị trí cửa sông Cửu Long. Nguồn: Ảnh chụp từ Google maps

Như một định mệnh trớ trêu, gần nửa thế kỷ sau bài giảng đó, nhánh Ba Thắc rồi thêm nhánh Ba Lai đã thành dòng sông chết. Hai con rồng đã về trời! Sông Cửu Long tám nhánh nay chỉ còn bảy. Thất Bát! Con số này như một điềm gở cho một vùng châu thổ buồn.

Lịch sử Châu Thổ sông Cửu Long (CTSCL) là một cuộc giành giật giữa sông và biển trong hàng ngàn năm. Lúc biển tiến, cả vùng ngập trong biển; lúc biển thoái, sông mạnh mẽ đẩy lùi biển ra đại dương… Để giờ đây nơi gặp gỡ giữa Cửu Long và Biển Đông đã tạo nên một vùng châu thổ trù phú với đa dạng sinh học bậc nhất trên thế giới.

Dòng Mekong hùng vĩ bao đời nay đã cần mẫn tải ngọc phù sa nuôi sống gần 70 triệu người trên toàn lưu vực 800 cây số vuông. Ở cuối nguồn, hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang đã tạo nên vựa lúa lớn và một nền văn hóa đặc sắc với 17 triệu cư dân. Bỗng chốc tất cả trở nên suy tàn.

Hạn mặn 2016 đã lên đến Cần Thơ, vượt mức chịu đựng của dân ĐBSCL. Hạn mặn 2020 còn khốc liệt hơn nhiều. Nếu lấy mức mặn 4 phần ngàn là ngưỡng sống còn của cây lúa thì nước mặn từ Biển Đông đã vào sâu hơn 80 km nhưng nếu lấy mức mặn 0.5 phần ngàn cho nước uống thì mặn đã chạm đến hầu hết các nhà máy nước toàn vùng. Ngày mặn lên tới nhà máy nước Châu Đốc rồi Nam Vang sẽ không còn xa nữa.

Cần thay đổi cách làm

Nguyễn Đình Cống

Để cứu Đồng bằng Sông Cửu long (ĐBSCL), những người có tâm huyết đã đề xuất những phân tích và ý tưởng hay. Nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở ý tưởng. Còn cách làm? Vẫn theo cách cổ lỗ, đề xuất, hội thảo, lập ban nghiên cứu. Cao nhất là họp Bộ Chính trị, thảo luận và ra Nghị quyết. Ngày 23 tháng 3 Báo Tiếng Dân đăng bài của Nguyễn Ngọc Chu “Bao giờ Bộ Chính trị họp về Đồng bằng Sông  Cửu long”, có ý thúc dục, trông chờ. Ông Chu còn mong vấn đề ĐBSCL cần một cuộc họp của Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Xem lại, thời gian gần đây cũng đã có vài hoạt động có tính chất hoành tráng về ĐBSCL. Hội thảo 2 ngày vào tháng giêng năm 2017  tại Cần Thơ về giữ nước cho ĐBSCL do Bộ Tài nguyên Môi trường kết hợp với sứ quán Hà Lan tổ chức. Ngày 26 và 27 tháng 9 năm 2017 cuộc hội thảo gồm 500 quan chức và nhà khoa học về phát triển ĐBSCL, do Thủ tướng CP chủ trì, mà có người xem là Hội nghị Diên Hồng. Diễn đàn ĐBSCL năm 2019. Hội nghị ngày 3/1-2020 do phó thủ tướng chủ trì, tại Bến Tre, về phòng chống hạn, xâm nhập mặn. Rồi chỉ thị của Thủ tướng số 04/CT-TTg về  triển khai giải pháp cấp bách phòng chống hạn, xâm nhập mặn ĐBSCL. Rồi Chính phủ giải ngân vài chục ngàn tỷ để xây dựng công trình. Cũng đã có giải Báo chí về ĐBSCL.

Kể ra, để tuyên truyền thì thế cũng đã nhiều, nhưng để cứu được ĐBSCL thì còn xa. Vì sao vậy? Vì cách làm chủ yếu là để tuyên truyền. Liệu các hội nghi, hội thảo, mỗi hội 2 ngày với nhiều trăm người có hiệu quả như thế nào. Bao nhiêu người đã phát biểu ý kiến thực sự có chất lượng, những ý đó đã được phân tích và vận dụng như thế nào. Bao nhiêu ý kiến theo kiểu nói cho có tiếng, là ăn theo, nói leo, là hô hào rỗng tuếch. Bao nhiêu người đến hội nghị chỉ để giao tiếp và ngủ gật.

CON ĐƯỜNG THOÁT HẠN Ở MEKONG DELTA

Huy Nguyen

BÀI 1

Tôi nói thẳng luôn là Mekong Delta không thoát hạn được. Người dân Mekong Delta phải học cách sống chung với hạn và mặn.

HIỆN TRẠNG và TƯƠNG LAI

Tôi chưa đi hết các ngóc ngách của đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) nhưng cũng đã từng khảo sát, đánh giá về nhiều khía cạnh của ĐBSCL ở hầu hết các tỉnh thành và lặp lại trong vòng 10 năm qua. Việc quan sát diễn biến và tác động của biến đổi khí hậu cho tôi cái nhìn ít lạc quan về tương lai đồng bằng.

Năm 2016, xâm nhập mặn lần đầu tiên tiến đến Cần Thơ vào ngày 14/3. Tôi nhớ rõ ngày hôm đó, vì khi đó tôi đang là người phụ trách kỹ thuật cho dự án quan trắc nước mặn tự động của thành phố Cần Thơ.

Đó được coi là một mốc lịch sử quan trọng về sự tiến sâu của xâm nhập mặn. Cả năm 2016, 60-80% diện tích lúa vụ 3 ở các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang, Bạc Liêu bị mất trắng. Nhiều thửa ruộng không thể canh tác lại trong vụ tiếp theo.

Năm nay thì sao? Xâm nhập mặn diễn ra từ đầu tháng 12 và đạt mốc lịch sử mới từ giữa tháng 1/2020. Như vậy là nó vừa phá mốc lịch sử 2016 vừa diễn ra trước 2 tháng.

Nhận định của tôi là việc xâm nhập mặn và hạn hán sẽ vô vùng khốc liệt trong 2 tháng tiếp theo, ngay cả khi ĐBSCL đón những cơn mưa trái mùa vào tháng 4.

Lý do là lượng nước lâu nay dùng để canh tác và sinh hoạt ở ĐBSCL chủ yếu là nước thượng nguồn về theo các nhánh sông. Nước mưa tại đồng bằng sẽ không được giữ lại ở đồng bằng vì không có hồ chứa nên mưa bao nhiêu sẽ chảy hết ra biển bấy nhiêu. Đất đang khô, háo nước nên mưa không đủ ngấm vào đất thì làm gì đủ cho tích trữ.

Số liệu mà tôi có hiện nay cho thấy khoảng 83.300 hộ dân đang gặp khó khăn về nước sinh hoạt. 39.000 ha lúa vụ 3 đang chết khô và con số này sẽ gia tăng hơn nữa trong vòng một tháng tới đây.

Tại Tiền Giang, người dân đang phải mua nước với giá 300.000 VND một m3 nước ngọt để tưới sầu riêng. Phía Tây Nam Bộ, giá nước ngọt đang là 150.000-200.000 VND một m3. Lưu ý, đây là nước ngọt chứ không phải nước tinh khiết để uống được liền. Nước này có thể là nước sông và cũng có thể là nước máy.

Tại Cà Mau, hàng trăm điểm sạt lở và sụt lún xảy ra trong vòng một tháng qua phá hủy nhà dân và nhiều công trình hạ tầng giao thông. Ở hầu hết các địa phương không còn khả năng khai thác nước ngầm vì mạch nước ngầm đã tụt sâu do khai thác quá mức.

NGUYÊN NHÂN GỐC RỄ

1- Siêu đập thủy điện thượng nguồn

Trong vòng 7 năm qua, đã có 7 siêu dự án thủy điện chặn dòng chính Mekong được vận hành và đưa vào sử dụng, trong đó có 6 dự án dòng chính ở Trung Quốc và 1 dự án dòng chính trên đất Lào.

Tháng 7/2019, Thủy điện siêu lớn Xayaburi âm thầm đi vào hoạt động mà không thông báo cho các nước thành viên của Ủy hội Mekong. Ngay thời điểm đó, tôi đã dự báo về một đợt hạn khốc liệt ở Mekong Delta vì nhận thấy lượng mưa về sườn Tây Trường Sơn ít hơn 60% trung bình các năm.

Ngày 20/02/2020, tại hội nghị bộ trưởng ngoại giao Mekong – Lan Thương, ngoại trưởng Trung Quốc đã tuyên bố sẽ xả nước giúp các quốc gia láng giềng chống hạn.

ĐỪNG MƠ và ĐỪNG NGHE LỜI HỨA HÃO của Trung Quốc.

VŨ KHÍ GIẢI CỨU MEKONG: CHẤT XÁM VÀ TIẾNG NÓI

(Phỏng vấn Ngô Thế Vinh - Người đi dọc 4.800 km sông Mekong)

Lê Quỳnh thực hiện

Lời Giới Thiệu: Đã tới năm 2020, mà vẫn còn một số bài viết mới phát tán trên mạng, và tác giả bài viết ấy chỉ dựa vào con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc, để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập khổng lồ Vân Nam là không đáng kể, đó như một biện minh che chắn cho những việc làm sai trái của Bắc Kinh trên dòng Mekong trong suốt hơn 3 thập niên qua. Xây chuỗi đập bậc thềm Vân Nam, Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong. Dung lượng các hồ chứa Vân Nam ngoài khả năng giữ hơn 30 tỷ mét khối nước [thời điểm 2016], còn chặn lại một trữ lượng rất lớn phù sa không cho xuống tới hạ lưu. Thiếu nguồn nước ngọt, thiếu phù sa, lại thêm ngập mặn với nước biển dâng, cả một vùng châu thổ phì nhiêu ĐBSCL, cái nôi của một nền văn minh miệt vườn, có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa. Đó là tình cảnh bi thương của 20 triệu cư dân 13 tỉnh Miền Tây 3 tháng đầu năm 2020 hiện nay. Bài “Phỏng vấn BS Ngô Thế Vinh – người đi dọc 4800 km sông Mekong” được phóng viên môi trường Lê Quỳnh thực hiện, đã được đăng trên báo in Người Đô Thị [25/ 04/ 2016] với tiêu đề: “Vũ khí giải cứu Mekong: chất xám và tiếng nói”, bài phỏng vấn đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, cũng để trả lời quan điểm sai trái cho rằng Cửu Long Cạn Dòng không phải do Trung Cộng xây chuỗi đập thuỷ điện trên thượng nguồn [Viet Ecology Foundation].

***

进入二十一世纪的第二个十年,中国完成了两个最大的水坝:糯扎渡5,850兆瓦和小湾 4,200兆瓦,北京几乎完工。他们的水电计划覆盖了兰沧河(兰沧-湄公河的中文名称)的一半长度。

根据耶鲁大学的弗雷德·皮尔斯(Fred Pearce)的说法,湄公河现在已成为水塔和中国发电厂。

悉尼大学湄公河研究中心主任菲利普·赫希(Philip Hirsch)说:“糯扎渡和小湾这两个巨大的水坝将影响湄公河到越南湄公河三角洲的全部流量。”

仅完成了六座大坝,中国的装机容量就达到了15150兆瓦,占兰沧河全部水电潜力的一半以上。在剩下的8个大坝项目以及可能还有更多新项目的情况下,中国将很容易在21世纪头几十年内早日完工。

我们不能仅仅依靠从中国流出的湄公河水的16%的数量来说云南大坝链的影响可忽略不计。通过建立云南大坝链,中国已开始破坏整个湄公河流域生态系统的可持续平衡。云南水库的容量除了能够容纳超过300亿立方米的水外,还阻挡了不流向湄公河三角洲的大量沉积物。缺水,由于海平面上升而导致的冲积土缺乏和盐碱化更多的地,湄公河三角洲的整个肥沃土地,花园文明的摇篮,都有可能因荒漠化而成为荒地。

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, sau khi Trung Quốc hoàn tất hai con đập lớn nhất: Nọa Trác Độ (Nuozhadu) 5.850 MW và Tiểu Loan (Xiaowan) 4.200 MW, về tổng thể Bắc Kinh hầu như đã hoàn thành kế hoạch thủy điện của họ trên suốt nửa chiều dài con sông Lan Thương (Lancang – tên Trung Quốc của sông Mekong).

Theo Fred Pearce, Đại học Yale, con sông Mekong nay đã trở thành tháp nước và là nhà máy điện của Trung Quốc.

Philip Hirsch, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sông Mekong thuộc Đại học Sydney nhận định: “Hai con đập khổng lồ Nọa Trác Độ và Tiểu Loan sẽ ảnh hưởng trên suốt dòng chảy của con sông Mekong xuống tới tận ĐBSCL của Việt Nam”.

Chỉ với sáu con đập dòng chính hoàn tất, Trung Quốc đã đạt được công suất 15.150 MW – nghĩa là hơn một nửa toàn công suất tiềm năng thủy điện của con sông Lan Thương. Với 8 dự án đập còn lại, và có thể sẽ còn thêm nhiều dự án mới nữa, Trung Quốc sẽ dễ dàng dứt điểm sớm trong vòng mấy thập niên đầu thế kỷ XXI.

Chúng ta không thể chỉ dựa vào một con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc, để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam là không đáng kể. Xây chuỗi đập Vân Nam, Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong. Dung lượng các hồ chứa Vân Nam ngoài khả năng giữ hơn 30 tỷ mét khối nước còn chặn lại một trữ lượng rất lớn phù sa không cho xuống tới ĐBSCL. Thiếu nước, thiếu phù sa lại thêm ngập mặn vì nước biển dâng, cả một vùng đất phì nhiêu ĐBSCL, cái nôi của một nền văn minh miệt vườn, có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa.

Ngô Thế Vinh

Ngô Thế Vinh đứng bên chân con đập Mạn Loan 1500 MW, con đập dòng chính đầu tiên trong chuỗi đập bậc thềm Vân Nam trên sông Lancang-Mekong. [photo by NVH 2002]

Thưa, dù đã 17 năm trôi qua, từ những chuyến đi dọc dòng sông Mekong dài 4.800 km, bức tranh sống động mà ông “phác họa” về những tác hại khủng khiếp do các con đập thủy điện gây ra cho đời sống người dân lưu vực sông Mekong đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự. Từ những dự cảm rất sớm về những hậu quả do các đập thủy điện gây ra trên dòng Mekong và cho ĐBSCL nói riêng, ông nhận định gì về thực trạng hiện nay?

Năm 2000, khi nói “Cửu Long cạn dòng”, nhiều người xem đó là phát biểu “nghịch lý” bởi đó là năm có lụt lớn ở miền Tây. Một vị tu sĩ đang tất bật lo việc cứu trợ, mới nghe tên cuốn sách đã phát biểu: “Đang lũ lụt ngập trời với nhà trôi người chết mà lại nói “Cửu Long cạn dòng” là thế nào?”. Nhưng cần hiểu rằng lũ và hạn tương ứng với mùa mưa và mùa khô là chu kỳ tự nhiên đã có hàng ngàn năm trên dòng Mekong và các vùng châu thổ, và đến nay thì mức độ càng trầm trọng và gay gắt. Chúng ta không thể đổ lỗi hết cho “thiên tai”, mà cần can đảm gọi cho đúng tên những yếu tố “nhân tai” bởi do chính con người gây ra qua suốt quá trình phát triển không bền vững và có tính tự hủy từ nhiều thập niên qua, đã làm gãy đổ sự cân bằng của cả một hệ sinh thái vốn phức tạp nhưng cũng hết sức mong manh của dòng Mekong.

Băng qua Biển Hồ đến khu Bảo tồn sinh thái Tonle Sap (nguồn: tư liệu Ngô Thế Vinh)

Một chuỗi những tai ương do chính con người gây ra đó là: 

(1) Phá hủy tự sát những khu rừng mưa trong toàn lưu vực. Những khu rừng mưa này có tác dụng như những tấm bọt biển khổng lồ giữ nước trong mùa mưa, xả nước trong mùa khô với chức năng điều hoà lưu lượng nước của dòng sông trong suốt hai mùa khô lũ, thì nay không còn nữa.

Tin vui mùa dịch Wuhan coronavirus: CAMPUCHIA DỪNG CÁC KẾ HOẠCH THUỶ ĐIỆN TRÊN SÔNG MEKONG

Phạm Nghĩa (Theo Reuters)

Quyết định này có nghĩa là Lào sẽ trở thành quốc gia duy nhất tại lưu vực hạ lưu sông Mekong lên kế hoạch phát triển thủy điện trên sông Mekong. Trong vòng 6 tháng qua, Lào đã xây thêm 2 con đập trên dòng chảy chính của sông Mekong.

(NLĐO) – Campuchia sẽ không phát triển các đập thủy điện mới trên sông Mekong trong 10 năm tới và tạo năng lượng từ than, khí đốt tự nhiên cùng năng lượng mặt trời.

Reuters dẫn lời một quan chức năng lượng cấp cao Campuchia cho biết như trên hôm 18-3.

Quyết định này có nghĩa là Lào sẽ trở thành quốc gia duy nhất tại lưu vực hạ lưu sông Mekong lên kế hoạch phát triển thủy điện trên sông Mekong. Trong vòng 6 tháng qua, Lào đã xây thêm 2 con đập trên dòng chảy chính của sông Mekong.

Tổng Giám đốc năng lượng Bộ Mỏ và Năng lượng Campuchia, Victor Jona, nói với Reuters rằng Phnom Penh đang theo dõi một nghiên cứu do nhà tư vấn Nhật Bản thực hiện, trong đó khuyến nghị Campuchia tìm kiếm năng lượng ở nơi khác.

"Theo nghiên cứu, chúng tôi cần phát triển than, khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), nhập khẩu từ các nước láng giềng và năng lượng mặt trời. Tôi không thể tiết lộ chi tiết kế hoạch tổng thể của chính phủ" – ông Jona cho hay và nói thêm: "Trong kế hoạch 10 năm này, từ năm 2020-2030, chúng tôi không có kế hoạch phát triển đập chính".

Campuchia tạm dừng các kế hoạch ở đập sông Mekong. Ảnh: Khmer Times

Nhiều ngư trường và đất nông nghiệp được hưởng lợi từ con sông này. Nó chảy từ Trung Quốc, qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Ảnh: Khmer Times

NGHĨ VỀ NGUỒN GỐC KHIẾN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐANG “KHÁT NƯỚC” CHÁY CỔ

Vũ Kim Hạnh

进入二十一世纪的第二个十年,中国完成了两个最大的水坝:糯扎渡5,850兆瓦和小湾 4,200兆瓦,北京几乎完工 他们的水电计划覆盖了兰沧河(兰沧-湄公河的中文名称)的一半长度。根据耶鲁大学的弗雷德·皮尔斯(Fred Pearce)的说法,湄公河现在已成为水塔和中国发电厂。悉尼大学湄公河研究中心主任菲利普·赫希 (Philip Hirsch) 说:“ 糯扎渡和小湾这两个巨大的水坝将影响整个湄公河一直流向越南的湄公河三角洲”。仅完成了六座大坝,中国的发电能力就达到了15150兆瓦,占兰沧河全部水电潜力的一半以上。在剩下的8个大坝项目以及可能还有更多新项目的情况下,中国将很容易在21世纪头几十年内早日完工。

我们不能仅仅依靠从中国流下出的湄公河水的16%的数量来说云南大坝链的影响可忽略不计。通过建立云南大坝链,中国已开始破坏整个湄公河流域生态系统的可持续平衡。云南水库的容量除了能够容纳超过300亿立方米的水外,还阻塞了无法到达湄公河三角洲的大量冲积层。缺水,缺乏冲积土和盐水入侵,由于海平面 漸 漸上升, 湄公河三角洲一片肥沃的土地,花园文明的摇篮,由于荒漠化,有可能成为荒地。

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, sau khi Trung Quốc hoàn tất hai con đập lớn nhất: Nọa Trát Độ (Nuozhadu) 5.850 MW và Tiểu Loan (Xiaowan) 4.200 MW, về tổng thể Bắc Kinh hầu như đã hoàn thành kế hoạch thủy điện của họ trên suốt nửa chiều dài con sông Lan Thương (Lancang – tên Trung Quốc của sông Mekong). Theo Fred Pearce, Đại học Yale, con sông Mekong nay đã trở thành tháp nước và là nhà máy điện của Trung Quốc. Philip Hirsch, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sông Mekong thuộc Đại học Sydney nhận định: “Hai con đập khổng lồ Nọa Trác Độ và Tiểu Loan sẽ ảnh hưởng trên suốt dòng chảy của con sông Mekong xuống tới tận ĐBSCL của Việt Nam”. Chỉ với sáu con đập dòng chính hoàn tất, Trung Quốc đã đạt được công suất 15.150 MW – nghĩa là hơn một nửa toàn công suất tiềm năng thủy điện của con sông Lan Thương. Với 8 dự án đập còn lại, và có thể sẽ còn thêm nhiều dự án mới nữa, Trung Quốc sẽ dễ dàng dứt điểm sớm trong vòng mấy thập niên đầu thế kỷ XXI.

Chúng ta không thể chỉ dựa vào một con số 16% lượng nước sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc, để bảo rằng ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam là không đáng kể. Xây chuỗi đập Vân Nam, Trung Quốc đã khởi đầu phá hủy sự cân bằng bền vững của toàn hệ sinh thái lưu vực sông Mekong. Dung lượng các hồ chứa Vân Nam ngoài khả năng giữ hơn 30 tỷ mét khối nước, còn chặn lại một trữ lượng rất lớn phù sa không cho xuống tới ĐBSCL. Thiếu nước, thiếu phù sa lại thêm ngập mặn với nước biển dâng, cả một vùng đất phì nhiêu ĐBSCL, cái nôi của một nền văn minh miệt vườn, có tương lai trở thành một vùng đất chết do sa mạc hóa.

V.K.H.

Còn 5 ngày nữa là NGÀY NƯỚC CỦA THẾ GIỚI.

Khi tôi đang đọc một loạt tài liệu về đề tài này thì sáng nay tôi bắt gặp một phóng sự ảnh hết sức sống động của vnexpress.net với câu kết:

... Giữa tháng 3, nước biển xâm nhập vào các con sông lớn ở miền Tây 50-110 km. Nguyên nhân do toàn lưu vực sông Mekong trong năm 2019 mưa thấp kỷ lục, cộng với tình trạng các đập thủy điện thượng nguồn trữ nước chạy các tuabin, khiến nước không về hạ nguồn. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến nay ghi nhận khoảng 20.000 ha lúa miền Tây bị mất trắng do hạn mặn, chiếm khoảng 7% so với năm 2016. Đợt hạn mặn lịch sử bốn năm trước (100 năm mới lặp lại) khiến 160.000 ha đất bị nhiễm mặn, gây thiệt hại hơn 5.500 tỷ đồng. 10 trong số 13 tỉnh, thành phải công bố thiên tai.

Thảm họa hạn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long

Nhiệm kỳ của lãnh đạo Petro Việt Nam là hữu hạn, quyền lợi ích nhóm là vô hạn.
Tôi đã nói rồi, Biển Đông thì vẫn còn đó nhưng Đồng bằng sông Cửu Long thì chết trước.

FB Đinh Kim Phúc

“… ý kiến của nhà khoa học có hay, có đúng đến đâu mà không trung thành với Mác Lê, không nghe theo chỉ đạo của Trung cộng thì chính quyền CSVN dứt khoát bác bỏ, kiên quyết từ chối.”

Nguyễn Đình Cống 

 “… Chương trình “xây dựng nông thôn mới” đã dựng lên vô số cổng chào, bưu điện trung tâm, chợ,… ở vài ngàn xã. Dù chính quyền của 53/63 tỉnh, thành phố thi nhau kêu gọi đầu tư, xây dựng đủ thứ “trời ơi, đất hỡi” theo “tiêu chuẩn nông thôn mới”, cuối 2017 vẫn còn 15.277 tỉ đồng chưa thể thanh toán nhưng tiền giúp ĐBSCL “phát triển bền vững” thì không!”

Trân Văn

Sau gần một thập kỉ phản đối xây dựng đập thuỷ điện Luang Prabang, Việt Nam nay lại “tự bắn vào chân mình”.

Phú Lộc

Bài 1 - Đồng bằng Sông Cửu Long khóc GS Nguyễn Duy Xuân

Nguyễn Đình Cống

Đồng bằng sông Cửu Long đang hấp hối. Nước sông bị chặn bởi nhiều đập thủy điện và bị nhiễm mặn bởi triều dâng. Trên mười triệu nông dân đang lao đao. Nếu có người thấy trước được việc này, cảnh báo sớm, chính quyền, cùng các nhà khoa học và nhân dân hợp sức tìm giải pháp thì đã có thể tránh được tai họa, phát triển bền vững.

Phải chăng không có ai thấy trước và dự báo tình hình. Có đấy, nhưng nhà khoa học lỗi lạc và rất yêu nước ấy đã bị hắt hủi cho đến chết tại nhà tù Ba Sao năm 1986. Đó là GS Nguyễn Duy Xuân, sinh năm 1925 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Ông đã du học, nghiên cứu về nông nghiệp, thủy lợi, kinh tế tại Pháp, Anh và Mỹ trong nhiều năm. Ông về nước năm 1963 (lúc 38 tuổi), nghiên cứu và phụ trách nhiều công việc quan trọng về nông nghiệp, làm Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ

Tháng 4 năm 1975, sau khi thu xếp cho vợ con sang Guam, rồi sang Pháp tạm lánh, ông trở lại VN. Ngày 30 tháng 4, mặc dầu có trực thăng sẵn sàng chở ông đi di tản nhưng ông ở lại với mong  ước được đem kiến thức phục vụ cho nền nông nghiệp của đất nước, mà trước hết là phát triển đồng bằng sông Cửu Long. Ông sẵn sàng hợp tác với chính quyền mới để được làm khoa học phục vụ đất nước.

Ngày 13 tháng 5 ông trình diện chính quyền giải phóng, được tập trung đi học tập cải tạo tư tưởng trong vài ngày, nhưng rồi  bị giam giữ không xét xử tại nhà tù loại khắc nghiệt nhất. Năm 1983, ông Võ Tòng Xuân, khi làm đại biểu quốc hội có tìm đến thăm tù nhân Duy Xuân, có ý định cứu người thủ trưởng cũ của mình, nhưng rồi không kịp. Nhà khoa học lỗi lạc và yêu nước Nguyễn Duy Xuân bị bệnh cũng bình thường, nếu được chữa trị sẽ qua khỏi, nhưng nhà tù đã tạo điều kiện thuận lợi để ông từ giã cõi đời, mang kiến thức khoa học sang thế giới khác.

Nếu GS Nguyễn Duy Xuân không chết trong nhà tù, được sử dụng như kiểu ông Lương Định Của thì rồi đồng bằng sông Cửu Long có thoát khỏi tai họa như hiện nay hay không. Không biết được, không dám chắc, vì ý kiến của nhà khoa học có hay, có đúng đến đâu mà không trung thành với Mác Lê, không nghe theo chỉ đạo của Trung cộng thì chính quyền CSVN dứt khoát bác bỏ, kiên quyết từ chối.

Chỉ còn lại đồng bằng sông Cửu Long khóc than cho đứa con yểu mệnh của mình, đứa con phải bỏ đất mẹ ra đi mang theo bao oan khổ, tủi nhục. Tro cốt của GS Nguyễn Duy Xuân được con gái từ Pháp về đem gửi tại chùa Thiên Hưng, Bình Thạnh.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN

Bài 2 - ĐBSCL: Hạn mặn đang khốc liệt nhưng nóng bỏng hơn là chuyện xây đập Luang Prabang!

Vũ Kim Hạnh

Nói chuyện CoViD hay bất cứ chuyện nào về thời sự châu Á và thế giới với tôi đều cần thiết. Nhưng thiết tha hơn cả vẫn là chuyện sinh mệnh đồng bằng sông Cửu Long đang lâm nguy. Và nóng bỏng và nguy hiểm hơn nữa lại là chuyện xây đập Luang Pranbang. Xin bắt đầu bằng một chuyện mới, đau lòng ở Bến Tre.

Cào đất phù sa mặt ruộng đem bán!

Mới đầu, tôi không dám đọc và càng không dám nhìn bức ảnh, xe cơ giới cào phù sa trên mặt ruộng đem bán... vì thảm quá, thương tâm quá. “Do không trồng được lúa vụ 3 giữa hạn mặn khốc liệt và cũng để giải quyết tình trạng mặt ruộng mùa kế cao hơn mực nước ngọt trên các kênh nội đồng nên nông dân ở hai huyện Ba Tri và Giồng Trôm (Bến Tre) đã cào nhiều tấn đất trên mặt ruộng để đi bán lấy tiền hay đổi phân thuốc cho mùa tới”.

Nước mặn đã xâm nhập bao trùm toàn bộ tỉnh Bến Tre (độ mặn 1 phần ngàn). Ở khách sạn, sáng đánh răng phải phun nước ra vì mặn. Toàn tỉnh có hơn 5.000 ha diện tích lúa Đông Xuân (vụ 3-2019 &2020) có khả năng cao mất trắng, gần 20.000 cây ăn trái đang khát nước tưới. Hầu hết người dân trên địa bàn tỉnh (sử dụng hệ thống cấp nước tập trung) đều bị ảnh hưởng của hạn mặn, nguồn nước sinh hoạt hiện nay đa phần tại các nhà máy nước là trên 2‰. Nguồn vốn TW phòng chống hạn mặn dự định đắp các đập tạm, xây các hồ nước trữ ngọt và hệ thống thủy lợi bắc-nam Bến Tre còn ở đâu?

Trước khi nói về chuyện xây đập Luang Prabang bên Lào, mời bạn xem bản đồ mô tả các tác nhân làm tổn thương dòng sông mẹ Mekong bên dưới bài và chú thích ở đây.

Một ĐBSCL đã và đang bị tổn thương do những nguyên nhân: (1) do các con đập thượng nguồn, (2) do nạo vét cát dưới lòng sông, (3) do nước biển dâng, (4) do ô nhiễm sông rạch, (5) còn phải kể tới những dự án sai lầm ngăn mặn phá hủy sự cân bằng hệ sinh thái mong manh của vùng châu thổ sông Mekong. Tính tới 2020, đã có 11 con đập dòng chính khổng lồ của Trung Quốc trên khúc sông Lancang-Mekong thượng nguồn; có thêm hai con đập dòng chính của Lào (Xayaburi và Don Sahong) đã hoạt động từ 2019. Dự án Luang Prabang 1460 MW, sẽ là con đập dòng chính lớn nhất trên sông Mekong của Lào. Theo New York Times ngày 15-2-2020, hơn 10 con đập trong kế hoạch nằm rải rác hạ lưu Mekong cùng hàng trăm con đập khác tại các phụ lưu đang bóp nghẹt đường sống của 60 triệu người.

Nghịch lý và đe dọa lớn từ đập Luang Prabang

Vâng, thời điểm này, vấn đề nóng bỏng nhất là dự án đập Luang Prabang. Đến hôm nay, chỉ còn hơn 1 tháng nữa là hết hạn tiến trình Tham khảo Trước (10-2019 – 4-2020) cho dự án Luang Prabang. Nếu không có hành động tức thời và chuyển biến quyết liệt từ phía Việt Nam, lễ động thổ khởi công xây con đập Luang Prabang sẽ diễn ra vào tháng 4-2020. Đó sẽ là một ngày bi thảm cho toàn thể 20 triệu cư dân 13 tỉnh miền Tây.

Ngày 4-11-2019, Bộ Tài nguyên Môi trường cùng Ủy ban sông Mekong Việt Nam (UBSMKVN) tổ chức hội thảo tham vấn quốc gia về dự án Luang Prabang. Tường thuật sự kiện này, báo Người Lao Động (5-11-2019) ghi: “Đánh giá về tác động của thủy điện này đối với vùng hạ lưu là Việt Nam, UBSMKVN cho rằng tác động của tổ hợp các công trình bậc thang thủy điện vùng hạ lưu sông Mê Kông rất nghiêm trọng… Các tài liệu phía Lào gửi chưa đánh giá toàn diện. Chưa tính toán dòng chảy sau công trình; chưa rõ quy trình vận hành hồ thủy điện cũng như hệ thống giám sát, dự báo; chưa đưa ra biến động dòng chảy hạ lưu và ngập lụt lòng hồ tác động hệ sinh thái ra sao, bảo tồn các loại cá… Bài báo không nhắc đến chi tiết liên quan một trong các chủ đầu tư là…Tổng Công ty Điện lực Dầu khí VN. Sau đó, báo Tài Nguyên Môi Trường (4-11-2019) thông tin: chủ đầu tư dự án Luang Prabang là công ty TNHH Năng lượng Luang Prabang của Lào, với hai cổ đông: Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam góp 38% vốn chủ sở hữu; Công ty TNHH PT của Lào giữ 37%; và chính phủ Lào sở hữu 25% vốn.

Trên Asia Sentinel (23-12-2019), cựu viên chức ngoại giao Mỹ David Brown, vào cuối tháng 12/2019, viết: “Con đập dự kiến tại Luang Prabang sẽ là một thảm họa chính trị tuyệt đối của Việt Nam”!
Ngay thời điểm này, đồng bằng sông Cửu Long đang chứng kiến tình hình khốc liệt. Tháng 2-2020, lượng nước Mekong đổ về ĐBSCL thấp hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm 2016. Hiện tượng ngập mặn đã xâm nhập vào các kênh rạch nội đồng ven sông Hậu. “Hạn hán và xâm nhập mặn đang gây thiếu nước nghiêm trọng”: 3.600 hécta lúa ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng có nguy cơ mất trắng. 26.000 hộ dân tỉnh này cũng đang thiếu nước sạch sử dụng. Trà Vinh có hơn 10.000 héc-ta lúa đông xuân thiếu nước tưới, khả năng mất trắng 50%. Bến Tre đang “mặn chát tứ bề”.

Những người ủng hộ nói rằng, việc tham gia dự án Luang Prabang sẽ giúp Việt Nam kiểm soát được thiết kế sao cho giảm thiểu tối đa mức độ ảnh hưởng đối với ĐBSCL. Tuy nhiên,chỉ cần tham khảo một chút: chủ đầu tư đập Xayaburi, công ty Thái Lan CK Power, cho biết họ đã chi hơn 600 triệu USD để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, trong đó có việc dựng các “bậc thang” cho cá và lắp hệ thống cổng để trầm tích có thể lọt qua. Tuy nhiên, ngay sau khi Xayaburi hoạt động (tháng 10-2019), nước sông Mekong, từ màu nâu chocolate thông thường đã biến thành màu xanh dương trong vắt tại các khu vực cực Nam tức là TRẦM TÍCH NÂU PHÙ SA ĐÃ BIẾN MẤT. Đó là tình trạng “nước đói” (“hungry water”). Nước đói không chứa trầm tích nên chảy cực mạnh, phá hoại kinh khủng, ăn lở vào bờ và gây sụp lún. “Nước đói” đang dịch chuyển nhanh vào Campuchia khiến hồ Tonle Sap lớn nhất Đông Nam Á cạn dần, chết khô.

Chừng nào “nước đói” tràn ngập ĐBSCL? Câu chuyện công ty Thái Lan CK Power liên quan gì đến dự án Luang Prabang? PetroVietnam tham gia đầu tư đập Luang Prabang, sẽ thu được bao nhiêu, so với tình thế bi thảm khốc liệt mà hàng triệu người ĐBSCL có thể phải gánh chịu?
Brian Eyler, giám đốc chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm Stimson, tác giả quyển Last Days of the Mighty Mekong, ghi nhận: gần đây, mỗi năm có đến 300.000 người Việt phải bỏ xứ. Nhiều khu vực ĐBSCL, nơi sinh sống của 20% dân số Việt Nam, đang “lún” xuống biển. Ông đã tặng cuốn sách cho chị Phạm Chi Lan. Một bạn trẻ đang dịch cuốn sách. Chúng tôi sẽ giới thiệu những lần tới.

Ảnh 3: đập Xayaburi chắn ngang dòng Mekong.

FB Vũ Kim Hạnh

Bài 3 - Đồng Bằng Sông Cửu Long, chuyên gia và… Bộ Chính Trị

Trân Văn

Những cánh đồng lúa khô hạn ở Sóc Trăng, 2016.

Những cánh đồng lúa khô hạn ở Sóc Trăng, 2016.

Tuần rồi, chính quyền tỉnh Cà Mau kêu gọi các chuyên gia giúp tìm đường thoát: Thiếu nước tưới, nông dân phải bỏ hoang 18.000 héc ta đất trồng lúa. 42.000 héc ta rừng đang khô héo. Số điểm sụt, lún đã vượt quá mức 1.000 trong đó có nhiều tỉnh lộ, đường liên huyện, liên xã,… tổng chiều dài các đoạn đường có bề mặt đột nhiên sụt, lún là 21,6 cây số. Không chỉ có đường, nhiều đoạn kênh, rạch, đê ngăn nước mặn cũng bị sụt, lún, biến dạng. Ngoài ra, hiện có 20.500 gia đình thiếu nước ăn uống, tắm giặt… Đặc biệt đáng ngại khi thiệt hại chưa ngừng ở đó mà sẽ tăng nhanh và cao hơn khi hạn hán càng ngày càng nghiêm trọng (1)!

Tình trạng vừa kể không chỉ xảy ra ở Cà Mau mà là thực trạng chung của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Gần đây, cứ tới mùa khô, mực nước của hệ thống sông, rạch ở ĐBSCL tụt xuống, nước mặn từ biển lại tràn vào thế chỗ nhưng năm nay, phạm vi xâm nhập của nước mặn vào khu vực ĐBCSL đã vượt qua mức 100 cây số! Tổng cục Thủy lợi của Bộ NN PTNT loan báo, mùa khô năm nay, nước mặn xâm nhập ĐBSCL xảy ra sớm hơn, sâu hơn, hậu quả nghiêm trọng hơn mùa khô năm 2015-2016 (vốn đã được cho là chưa từng có). Thậm chí mọi thứ có thể sẽ tồi tệ hơn nữa do diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu toàn cầu và thượng lưu sông Mekong bị chặn để khai thác thủy điện!

***

Nhìn một cách tổng quát, tương lai của ĐBSCL - nơi cư trú của khoảng 17 triệu người – càng ngày càng ảm đạm. Khu vực có diện tích khoảng 40.500 cây số vuông từng nổi tiếng vì sự phong phú của đủ loại sản vật tự nhiên, từng là vựa lúa cung cấp tới 90% lượng gạo xuất cảng, 60% lượng thủy sản xuất cảng, giữa thập niên 2010 còn đạt tốc độ tăng trưởng 7,8%, vượt xa tốc độ tăng trưởng chung của Việt Nam (6,8%) đang tuột từ từ xuống đáy vì cơ hội sinh tồn, phát triển giảm dần. Bởi càng ngày càng khó sống, càng ngày càng nhiều cư dân ĐBSCL bỏ xứ tha hương. Từ giữa thập niên 2010, tỉ lệ tăng dân số cơ học (mức chênh lệch giữa xuất cư và nhập cư) của ĐBSCL luôn luôn là âm.

Một số chuyên gia ước đoán, trong mười năm từ 2008 đến 2018, có khoảng 1,7 triệu cư dân ĐBSCL ly hương. Nói cách khác, môi trường sống biến đổi theo hướng khắc nghiệt hơn, cơ hội thoát khỏi nghèo đói càng ngày càng nhỏ hơn là lý do chính khiến mỗi năm, ĐBSCL mất khoảng 24.000 dân và con số này càng ngày càng tăng (2). Đáng ngạc nhiên là tác động của biến đổi khí hậu, của việc khai thác thượng nguồn sông Mekong làm thủy điện đến tương lai của ĐBSCL đã được cảnh báo từ đầu thập niên 2010 (3) và được minh họa rõ ràng hơn qua đợt hạn hán chưa từng thấy vào mùa khô 2015 – 2016 ở ĐBSCL nhưng hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam chỉ ban hành… nghị quyết!

Nghị quyết 120/NQ-CP được công bố hồi cuối năm 2017 nhằm giúp ĐBSCL “phát triển bền vững”, giúp khu vực này “thích ứng với các tác động của biến đổi khi hậu” giống như một họa phẩm trên giấy, ĐBSCL tiếp tục được sử dụng như một thứ công cụ giúp hệ thống công quyền có thể đạt các chỉ tiêu tăng trưởng do hệ thống chính trị đề ra. Vì chỉ khai thác và đầu tư theo kiểu nhỏ giọt, ĐBSCL trở thành khu vực thiếu thốn đủ thứ, từ hạ tầng giao thông đến cơ hội giáo dục, chăm sóc y tế... Mức thu nhập trung bình tính theo đầu người/năm ở ĐBSCL chỉ dao động trong khoảng từ 80% đến 85% so với mức thu nhập trung bình tính theo đầu người/năm của Việt Nam.

Theo một thống kê được công bố hồi cuối năm 2017, trong năm năm từ 2010 đến 2015, Việt Nam đã chi 850 tỉ để thực hiện chương trình “xây dựng nông thôn mới”. Đến cuối năm 2015, Quốc hội Việt Nam “nhất trí”, từ 2016 đến 2020 sẽ chi thêm 193 ngàn tỉ đồng nữa để… tiếp tục thực hiện chương trình “xây dựng nông thôn mới”! Chương trình “xây dựng nông thôn mới” đã dựng lên vô số cổng chào, bưu điện trung tâm, chợ,… ở vài ngàn xã. Dù chính quyền của 53/63 tỉnh, thành phố thi nhau kêu gọi đầu tư, xây dựng đủ thứ “trời ơi, đất hỡi” theo “tiêu chuẩn nông thôn mới”, cuối 2017 vẫn còn 15.277 tỉ đồng chưa thể thanh toán nhưng tiền giúp ĐBSCL “phát triển bền vững” thì không!

ĐBSCL có thể “thích ứng với các tác động của biến đổi khi hậu” khi bề mặt sụt, lún, nước biển dâng, hạn hán, không thể chủ động khi thượng nguồn Mekong bị các công trình thủy điện chặn nguồn nước chảy xuống hạ lưu? Từ những trường hợp như Hà Lan, Israel,… các chuyên gia khẳng định là có nếu nghiên cứu kỹ lưỡng, suy tính cẩn thận để xác định giải pháp phù hợp. Chẳng hạn muốn hóa giải tác hại của sụt, lún bề mặt thì phải cấp đủ nước, ngưng khai thác nước ngầm, thay đổi cả tư duy lẫn cách thức qui hoạch trong nhiều lĩnh vực (4),…

Vấn đề nan giải nhất không nằm ở những biến đổi trong tự nhiên mà nằm trong đầu từng thành viên… Bộ Chính trị, thành viên chính phủ, chính quyền các địa phương. Làm sao có thể “phát triển bền vững” khi viễn kiến của những cá nhân có thẩm quyền quyết định chỉ chạm đến thời điểm… cuối nhiệm kỳ và vì vậy chỉ chọn những giải pháp có lợi nhất cho chính cá nhân mình? Làm sao có thể giúp ĐBSCL “thích ứng với các tác động của biến đổi khi hậu” khi tất cả mọi thứ vẫn chỉ phụ thuộc vào những cá nhân có thẩm quyền lựa chọn – phê duyệt giải pháp nhưng chỉ biết “kinh tế chính trị Mác – Lenin”, thạo “Xây dựng đảng” và thuộc “Lịch sử đảng”?…

Trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ông Bùi Trinh – một chuyên gia kinh tế - vừa mới cảnh báo: “Đồng bằng sông Cửu Long ốm thì cả nước cũng yếu” (5) kèm theo khá nhiều dẫn chứng. Giữa lúc ĐBSCL đang trải qua giai đoạn “nước sôi, lửa bỏng” nhưng dường như hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam chỉ bận tâm đến chuyện làm sao để COVID-19 không ảnh hưởng đến khả năng đạt “chỉ tiêu tăng trưởng” đã được đề ra cho năm nay, nên ông Trinh mới lưu ý, môi trường ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, nếu chỉ lao vào tăng trưởng GDP sẽ có những hậu quả nghiêm trọng về môi trường từ đó ảnh hưởng ngược lại đến niềm say mê GDP.

Tương lai của ĐBSCL nói riêng, tương lai của Việt Nam nói chung khiến người ta mong các viên chức hữu trách sẽ tỉnh ra, ngộ được đâu là chính, đâu là phụ, ở vị trí lãnh đạo quốc gia, dân tộc nên xem cái gì là ưu tiên hàng đầu nhưng trước giờ, những phân tích, cảnh báo như phân tích, cảnh báo của ông Bùi Trinh không phải là ít và dù hết sức rõ ràng, những phân tích, cảnh báo ấy vẫn chỉ như những cơn gió thổi qua một căn nhà trống! Thành ra mong thì cứ mong, còn… thở còn nên… hy vọng dẫu không chắc các thành viên Bộ Chính trị, lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo Quốc hội, thành viên chính phủ,… có khả năng hiểu được những điều vốn hết sức đơn giản đó!

T.V.

Chú thích

(1) https://tuoitre.vn/ca-mau-moi-cac-nha-khoa-hoc-giup-khac-phuc-thiet-hai-do-han-man-20200220125518483.htm

(2) https://tuoitre.vn/dan-dbscl-dan-bo-xu-do-bien-doi-khi-hau-20180110085014275.htm

(3) https://vnexpress.net/khoa-hoc/mat-40-dong-bang-cuu-long-neu-nuoc-bien-dang-mot-met-2225111.html

(4) https://baocantho.com.vn/-megastory-nhin-ve-tuong-lai-dong-bang-song-cuu-long-a114618.html

(5) https://www.thesaigontimes.vn/td/300337/dong-bang-song-cuu-long-om-thi-ca-nuoc-cung-yeu-.html

T.V.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/dong-bang-song-cuu-long-mekong-han-han/5306762.html

Bài 4 - Đầu tư thuỷ điện ở Lào, Việt Nam chung tay huỷ hoại sông Mekong?

Phú Lộc

https://www.luatkhoa.org/wp-content/uploads/2020/01/thuydien5_sgfc.jpg

Liệu chúng ta có phải là thế hệ cuối cùng được mưu sinh trên dòng Mekong hùng vĩ? Ảnh: Thanh Niên.

Cuối năm 2019, giữa lúc giới khoa học đang đầy quan ngại về tình trạng của dòng Mekong trước biến đổi khí hậu và thuỷ điện, chính phủ Lào công bố kế hoạch xây dựng thuỷ điện Luang Prabang sau khi đã hoãn hơn 10 năm. Đáng chú ý hơn, nhà đầu tư lớn nhất của dự án này là một công ty quốc doanh đến từ Việt Nam – đất nước có tiếng nói phản đối dự án mạnh mẽ nhất trước đó.

Quyết định này không chỉ đe doạ tương lai của dòng sông, mà còn đánh mất uy tín cùng những nỗ lực bảo vệ sông Mekong của chính phủ Việt Nam trong suốt thời gian qua.

Lại một con đập nữa…

PV Power (Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam) góp 38% vốn (tương đương khoảng 1,6 tỷ USD) trong dự án thuỷ điện Luang Prabang dự kiến khởi công năm 2020 và hoàn tất năm 2027. Dự án có công suất 1.460MW này là một phần trong kế hoạch bán “vốn tự có” để xóa đói giảm nghèo của chính phủ Lào.

https://www.luatkhoa.org/wp-content/uploads/2020/01/0d14e715-9ebc-4c7d-bb21-0cb378302b8e.jpeg

Nhà máy sẽ được đặt tại làng Houygno thuộc tỉnh Luang Prabang, cách thủ phủ tỉnh khoảng 25km và cách đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) khoảng 2.036km.

Kế hoạch xây dựng con đập này đã có từ năm 2007. Việt Nam và Lào khi đó ký với nhau một biên bản ghi nhớ, ủy quyền cho PV Power xây dựng nhà máy thủy điện Luang Prabang.

Vào thời điểm đó, thủy điện vẫn được xem là một nguồn năng lượng lành mạnh và hữu dụng, và vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về các tác động của nó đối với môi trường và sinh kế của người dân.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, một loạt các dự án xây đập ở hạ nguồn sông Mekong của Lào đã dẫn đến phản đối và quan ngại sâu sắc từ chính phủ Việt Nam.

Ít nhất là từ cuối năm 2010, khi Lào thông báo về kế hoạch xây dựng đập Xayaburi trên dòng sông Mekong, Việt Nam là nước phản đối mạnh mẽ nhất, khi kêu gọi tạm hoãn dự án 10 năm vì các tác động của nó đến ĐBSCL.

Những tiếng nói mạnh mẽ của chính quyền Hà Nội lúc bấy giờ đã trở thành động lực cho các nhóm xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ, giới chuyên gia và học giả trong khu vực lên tiếng bảo vệ dòng sông Mekong.

Sau gần một thập kỷ phản đối, giờ đây Việt Nam lại trở thành đối tác với Lào trong dự án thủy điện Luang Prabang. Chính phủ Việt Nam dường như đã thay đổi thái độ và đứng về phía những dự án có khả năng hủy hoại dòng sông cũng như tương lai của 60 triệu người phụ thuộc vào nó.

https://www.luatkhoa.org/wp-content/uploads/2020/01/image8-1.jpg

Hạ lưu dòng Mekong trong một đợt hạn hán kéo dài. Nguồn: Baritta Wangkiat/AFP Forum

TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu về Biến đổi Khí hậu (Dragon Institute – Mekong), Đại học Cần Thơ trả lời RFA tháng 11/2019 rằng sự kiện này phải được xem là một hành động cực kỳ nghiêm trọng, dẫn nhanh đến sự hủy hoại hệ sinh thái và cuộc sống ở hạ lưu ĐBSCL.

“Các quan chức Việt Nam đồng lõa với quyết định hợp tác xây dựng dự án thủy điện Luang Prabang phải chịu trách nhiệm lịch sử và chính trị với nhân dân Việt Nam”, ông nói.

… góp phần huỷ hoại dòng sông

Các bằng chứng khoa học về những tác động ngầm của dự án Luang Prabang là rất rõ ràng. Các tác động chính bao gồm hủy hoại nguồn cá, mất trầm tích và thay đổi dòng chảy, gây nguy hại đến an ninh lương thực và sinh kế của cộng đồng lưu vực sông”, theo tổ chức International Rivers.

Các đập thủy điện đã ngăn chặn sự di cư của khoảng 160 loài cá. Các nguồn cá di cư không thể đến được nơi sinh sản, và đang gặp nạn. “Cá cần phải di cư về nơi thượng nguồn xa xôi (Bắc Lào) để sinh sản, và cá con phải quay trở lại vùng đồng bằng ngập nước ở ĐBSCL và Biển Hồ (Tonlé Sap) để kiếm ăn. Bất kỳ trở ngại nào đối với sự di cư của cá có thể đẩy chúng đến bờ vực tuyệt chủng.”, Marc Goichot (cố vấn cao cấp của chương trình Greater Mekong thuộc tổ chức World Wildlife Fund) cho biết trên tờ The Guardian.

Bên cạnh đó, việc thiếu phù sa và trầm tích hàng năm làm ĐBSCL thay vì được bồi đắp thì đang trong quá trình tan rã do xâm nhập mặn và mực nước biển dâng. Sự trù phú một thời của vùng đồng bằng này đang dần biến mất, mùa lũ về muộn hơn dẫn đến thiếu nước, trong khi các mạch nước ngầm ở Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười đang dần cạn nước.

Năm 2019, khu vực này đã trải qua một đợt hạn hán thảm khốc, và sau đó là một đợt lũ kỷ lục. Biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân, nhưng chính việc trữ nước trong các hồ chứa và xả nước tùy tiện đã làm trầm trọng thêm các tác động xấu trong giai đoạn chuyển mùa. Theo các nhà môi trường, những con đập quy mô lớn, đặc biệt là những con đập được xây dựng trên dòng chảy chính của sông, là nguyên nhân chính cho khủng hoảng sông Mekong.

https://www.luatkhoa.org/wp-content/uploads/2020/01/mrc-photo-3.jpg

Một bé gái ở làng Khokkhan, một trong sáu ngôi làng sẽ hoàn toàn bị nhấn chìm khi xây thuỷ điện Luang Prabang. Ảnh: Zsombor Peter/VOA.

Cái giá phải trả là vô cùng lớn không chỉ cho Lào hay Việt Nam. Trước hết, con đập sẽ buộc 17.700 dân làng di dời chỉ để nhường chỗ cho hồ chứa nước khổng lồ. Sinh kế của người dân Lào chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng vì các chương trình tái định cư ở Lào thường đền bù không thỏa đáng. Rộng hơn, dự án này sẽ làm trầm trọng thêm tình hình của hạ lưu sông Mekong – vùng đất trũng là nơi kiếm sống của 20 triệu người Việt Nam và 10 triệu người Campuchia.

Con đập này cũng đe doạ sự tồn vong của các di sản văn hoá. Vì chỉ cách thủ đô hoàng gia cổ đại Luang Prabang có 25km, dư luận lo ngại rằng nếu tai nạn đập xảy ra thì di sản văn hóa được UNESCO công nhận này sẽ bị phá hủy đến mức không thể khắc phục.

Có phải là do nỗi sợ Trung Hoa?

Đập Luang Prabang chắc chắn sẽ làm trầm trọng thêm những mất mát của 20 triệu nông dân Việt Nam tại vùng ĐBSCL. Cũng với quyết định này, uy tín ngoại giao của chính quyền đã xuống thấp ngang với mực nước sông Mekong mùa cạn, đồng thời cuốn trôi nỗ lực hơn chục năm bảo vệ dòng sông của các chuyên gia, học giả và cộng đồng sống ven sông.

Liên minh Save the Mekong gọi chính phủ Việt Nam là vô lý, thất thường, và hành động ngược lại với những lời lẽ quan ngại được chính họ “nhai đi nhai lại” trong các tiến trình tham vấn trước (prior consultation) tại Ủy hội sông Mê Công (Mekong River Commission) từ trước đến nay.

Nhiều nhà phê bình Việt Nam cũng cho rằng sự thay đổi chính sách trên sẽ khiến chính quyền Hà Nội phải trả giá đắt về uy tín quốc tế của họ. PV Power là một công ty quốc doanh, và nếu công ty này đảm nhận dự án phát triển thủy điện Luang Prabang có thể được các bên hiểu là chính quyền Hà Nội đã chính thức “nhúng chàm” vào các dự án thủy điện của Lào.

https://www.luatkhoa.org/wp-content/uploads/2020/01/image1.jpg

PV Power tổ chức hội thảo về Thuỷ điện Luang Prabang, tháng 6/2019. Ảnh: PetroTimes.

Phát biểu ở Hội thảo tham vấn quốc gia về Dự án thủy điện dòng chính Luang Prabang ngày 4/11/2019, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường Lê Công Thành cho rằng quyết định đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sẽ giúp Việt Nam chủ động hơn để giảm thiểu tác động xấu.

“Chúng ta có thể tham gia ngay từ đầu vào quá trình lựa chọn phương án thiết kế, thi công và vận hành công trình trên cơ sở điều tiết đa mục tiêu. Qua đó, góp phần giảm thiểu được tác động của không chỉ công trình thủy điện này mà còn của tổ hợp các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mekong”, ông nói.

Một nguồn tin giấu tên cho biết trên tờ The Diplomat rằng Việt Nam “không có lựa chọn nào khác”. Dù biết quyết định này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến ĐBSCL, nhưng nếu Việt Nam không phát triển đập thì Trung Quốc sẽ làm.

Quan điểm trên dường như trùng khớp với nỗi lo lắng về việc Trung Quốc mở rộng lợi ích dọc theo sông Mekong. Với gần mười đập thuỷ điện ở thượng nguồn và kế hoạch xây thêm ba con đập ở hạ lưu phần sông MeKong của Lào: Don Sahong (đang được xây dựng), Pak Beng và Pak Lay, Trung Quốc có một quyền lực rất lớn với các quốc gia hạ nguồn.

Thật vậy, các đập của Trung Quốc ở thượng nguồn sông Mekong giữ lại một lượng nước khổng lồ. Trong mùa khô và thời kỳ hạn hán, nước từ các đập thượng nguồn của Trung Quốc chiếm 40-50% lượng nước trong hệ thống Mekong. Theo chuyên gia Brain Eyler giải thích trên BBC tiếng Việt, lượng nước này có thể được dùng để giảm hạn hán ở hạ lưu nếu họ muốn. Điều không may là, Trung Quốc không dễ dàng đồng ý làm như vậy.

Nhiều người cho rằng vì lo ngại việc biến sông Mekong trở thành quân cờ chính trị của Trung Quốc nên Việt Nam đã “chộp” lấy một dự án xây đập khác ở Lào, để “nhận phần” nước và cũng để tự túc nguồn nước chống hạn trong mùa khô.

Việc viện dẫn “ông kẹ” Trung Quốc có thể thu hút được sự đồng tình của dư luận Việt Nam. Tuy nhiên, quan điểm này bị phản đối bởi nhiều chuyên gia tài nguyên nước. Một nguồn tin khác từ PetroVietnam thừa nhận rằng, cũng giống như những con đập khác, “đập Luang Prabang sẽ làm giảm lượng phù sa và lượng nước đến ĐBSCL”.

Bác sỹ Ngô Thế Vinh nhận định trên tờ RFA rằng chính các nhóm lợi ích như băng đảng mafia mai phục trong khắp các công ty quốc doanh đã lũng đoạn chính sách, khiến Việt Nam bị khuất phục và quy hàng trước chiến lược thủy điện của Lào.

Chạy đua thuỷ điện

Các chuyên gia vẫn đang tiếp tục kêu gọi Việt Nam và Lào cân nhắc lại. Ngoài các lý do ảnh hưởng đến môi trường và sinh kế của người dân như đã trình bày ở trên, một nghiên cứu của Uỷ hội sông Mê công (MRC) năm 2018 cho rằng đây có thể là một tính toán thiếu khôn ngoan về mặt kinh tế.

https://www.luatkhoa.org/wp-content/uploads/2020/01/ap_laos_dam.jpg

Đập thuỷ điện Nam Theum 2 ở miền Trung Lào năm 2010, một trong những công trình đầu tiên trong mục tiêu trở thành cục pin của châu Á. Ảnh: David Longstreath/AP Photo.

Theo đó, đến năm 2040, Lào dự định xuất khẩu 11.739 MW điện sang Thái Lan, trong khi chính quyền Thái Lan thông báo nhu cầu của mình chỉ khoảng 4.274 MW. Lượng chênh lệch 7.500 MW này còn lớn hơn tổng công suất của bảy con đập trên dòng chính của Lào, bao gồm cả những dự án chưa xây dựng.

Các tổ chức vẫn không ngừng kêu gọi các quốc gia chú tâm vào năng lượng tái tạo. Với công nghệ sản xuất ngày càng tiên tiến, chi phí sản xuất điện mặt trời đã có thể giảm đến mức cạnh tranh được với thuỷ điện. Lấy ví dụ về Pak Lay, dự án thủy điện dòng chính trên sông Mekong vừa được phê duyệt năm ngoái. Sinohydro, là nhà thầu của dự án, dự định sẽ bán điện với giá US8.2¢ (0.082 USD) cho mỗi kWh. Trong khi đó, năng lượng mặt trời sẽ được bán với giá US7¢ hoặc ít hơn, cho mỗi kWh.

Đó rõ ràng là một lựa chọn không chỉ bền vững hơn, an toàn hơn, mà còn khả thi hơn về mặt kinh tế. Tuy nhiên, theo AsiaSentinel, chưa có dấu hiệu nào cho thấy các quốc gia sẽ thay đổi lựa chọn

Một con đập gây tranh cãi khác là Xayaburi vẫn được Lào đưa vào vận hành từ tháng 10/2019. Khoảng hơn một tháng sau, một trận động đất 6,1 độ richter xảy ra ngay trong khu vực này. Bắc Lào vốn là vùng động đất, và các con đập dày đặc sẽ còn làm tăng nguy cơ động đất do hồ chứa, do sức nặng thường trực của một lượng nước khổng lồ gây mất cân bằng địa chấn.

Không ai biết rằng tình hình phải trở nên tồi tệ đến mức nào mới đủ để cuộc chạy đua thuỷ điện này dừng lại.

P.L.

Nguồn: https://www.luatkhoa.org/2020/02/dau-tu-thuy-dien-o-lao-viet-nam-chung-tay-huy-hoai-song-mekong/?fbclid=IwAR39r5u6Ze_j-aj7o_HFRRAJ7syqh5KbjQCdfQH0Od-Lk8o7u-xafCMacZU

Bảo tồn Đồng bằng sông Cửu Long?

Quách Hạo Nhiên

1. Không biết trân trọng quà của tạo hóa
Trong cái nhìn của riêng tôi, về mặt tự nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất rất đặc biệt. Vì hiếm nơi đâu trên quả đất này có một vùng đất vừa được bồi đắp bởi phù sa với vô số sông ngòi chằng chịt vừa có núi non bao quanh che chắn (như vùng Bảy Núi – Châu Đốc, An Giang), lại kề bên biển cả quanh năm vỗ về (Trà Vinh, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau…). ĐBSCL vì thế, có thể xem như món quà quý giá mà tạo hóa đã ban cho người Việt. Nhưng món quà này, thời gian qua chúng ta không những không biết trân trọng, giữ gìn mà còn tiêu xài rất hoang phí thậm chí là xâm hại nó. Hậu quả là giờ đây ĐBSCL đang đứng trước nguy cơ tan rã, chưa kịp phát triển đã lụi tàn. Và người dân nơi đây đương nhiên là những người phải gánh chịu hậu quả trước nhất. Câu nói cửa miệng “Đi Bình Dương bán nước tương” đang ngày một trở nên phổ biến trong suy nghĩ của người dân nơi đây là một minh chứng rất cụ thể cho vấn đề này. Còn gì tệ hại và xót xa hơn khi những cư dân của vùng đất trù phú và giàu có được mệnh danh là “thủ phủ trái cây” hay “vựa lương thực” của cả nước giờ đây phải tay xách nách mang, bỏ xứ, ly hương để đi tìm kế sinh nhai?
2. Từ bàn hội thảo đến các cuộc “giải cứu” ngoài đồng ruộng, ao cá, vuông tôm
Những điều tôi vừa nói ở trên hẳn nhiều người đã nghe, đã biết và đã thấy nhất là với các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà khoa học “hàng đầu” về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tôi không có thời gian để thống kê đã có bao nhiêu cuộc hội nghị, hội thảo lớn nhỏ được tổ chức từ Trung ương đến địa phương cũng như các công trình khoa học, các đề án, dự án có liên quan đến việc đề xuất ý tưởng và giải pháp nhằm “giải cứu ĐBSCL” trong khoảng 10 trở lại đây nhưng tôi biết chắc tình hình ĐBSCL đang ngày một biến chuyển xấu hơn. Ví như, gần đây nhất là “Hội nghị Diên Hồng cho ĐBSCL” diễn ra trong hai ngày 26, 27/09/2017 tại thành phố Cần Thơ với hơn 500 đại biểu trong và ngoài nước tham dự. Ngay sau Hội nghị ấy là bản Nghị quyết số 120/NQ-CP về “Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu” được việc Thủ tưởng Chính phủ đã ký ban hành ngày 17/11/2017. Nhưng cũng chỉ một năm sau đó, người ta lại tiếp tục tổ chức Hội thảo với tên gọi "Một năm thực hiện Nghị quyết 120 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu". Thật thảm thương thay, kết luận của lần hội thảo này hóa ra những vấn đề đặt ra trong bản Nghị quyết một năm trước vẫn chỉ “nằm trên giấy”!? Trong khi đó đời sống (cả về vật chất lẫn tinh thần) của người dân thì vẫn trong cái vòng luẩn quẩn “đất giàu người nghèo” và những cuộc “giải cứu” nông sản, thủy sản vẫn cứ đến hẹn lại lên.

Lào với dự án mặt trời nổi 1200 MW lớn nhất thế giới trên hồ Nam Ngum

VIET ECOLOGY

FOUNDATION

Harmonizing the Web of Life

Postal Address: 45272 Omak St.

Fremont, CA 94539

Email: vefmedia@vietecology.org

Website: www.vietecology.org

TIN: US Non-profit NGO, 51-0505827

Lào với dự án mặt trời nổi 1200 MW lớn nhất thế giới trên hồ Nam Ngum

Bản tin Ngày 21 tháng 2, 2020

Viet Ecology Foundation

Vị trí dự án điện mặt trời trên hồ Nam Ngum

Sáng kiến dự án điện mặt trời nổi trên hồ Nam Ngum đầu tiên do KS Phạm Phan Long của tổ chức Viet Ecology Foundation nghiên cứu và công bố trên tạp chí chuyên môn quốc tế PV Magazine tháng 11 2019 và tiếng Việt trên trang mạng Viet Ecology Foundation ngày 1 tháng 11, 2019. Nghiên cứu này có phân tích kỹ thuật, kinh tế và xã hội nhằm thuyết phục Chính phủ Lào thực hiện thay thế cho ba dự án thuỷ điện lớn Mekong bên Lào. Nhà ngoại giao kỳ cựu David Brown nhận xét về dự án tương tự Ks Long soạn thảo cho Biển Hồ Cam Bốt đã cho đó là sáng kiến táo bạo và là giấc mơ của các nhà hoạt động môi trường.

Dự án mặt trời trên Nam Ngum này đã thành sự thật, theo bản tin Laotiantimes ngày 20 tháng 2 2020, Chính phủ Lào đã ký kết với Hangzhou Safefound Technology, nhà sản xuất pin mặt trời Trung Quốc để xây dựng hệ thống giàn nổi 1200 MW thu năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới trên hồ Nam Ngum. Việc Lào chuyển hướng nhanh và mạnh mẽ như thế là tin mừng cho lưu vực sông Mekong vì đây là dấu hiệu cho một bước ngoặt lịch sử; từ nhận thức thuỷ điện với những tác động xấu không giảm thiểu được đã đến lúc phải thoái trào. Nếu chú ý bản đồ Laotiantimes sử dụng chính là biểu đồ KS Phạm Phan Long phác thảo ra cho Nam Ngum về vị trí cho toàn bộ 15 giai đoạn.

Nếu Cam Bốt cũng như Lào thực hiện dự án mặt trời trên Biển Hồ như KS Long đề nghị thì ĐBSCL sẽ được cứu nguy, tránh khỏi tai hại thuỷ điện, sinh kế của 30 triệu dân cư Cam Bốt và Việt Nam được bảo vệ và giải quyết xung khắc quyền lợi chung không nước nào có thể nhượng bộ.

Năng lượng xanh từ mặt trời và gió đã cho nhân loại một lựa chọn công bằng hơn, vừa rẻ vừa trong lành và không phải dựa vào nguyên liệu hữu hạn với ô nhiễm không kiểm soát được như than dầu và khí đốt. An ninh lương thực và sinh kế dân cư sẽ vững vàng hơn và góp phần cắt giảm khí thải carbon cho nhân loại tránh được hiểm họa biển dâng và khí quyển hâm nóng.

Viet Ecology Foundation gửi BVN

Nguồn trích dẫn:

  1. https://www.pv-magazine.com/2019/11/01/can-nam-ngum-solar-replace-mekong-hydro-in-laos/
  2. http://vietecology.org/Article/Article/1344
  3. http://vietecology.org/Article/Article/1351
  4. https://laotiantimes.com/2020/02/20/laos-to-build-worlds-largest-floating-solar-power-project-at-nam-ngum-1/

Đồng bằng sông Cửu Long: Kênh rạch cạn kiệt, ruộng đồng héo khô

Quốc Trung

Hạn, mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã bước vào cao điểm. Nhiều tháng qua cả vùng không có một trận mưa giải nhiệt, kênh rạch cạn kiệt trơ đáy, nguy cơ cháy rừng ở mức báo động đỏ; mặn xâm nhập ngày càng sâu vào nội đồng gây thiệt hại nặng nề cho ngành nông nghiệp, đời sống người dân đảo lộn…

Đồng bằng sông Cửu Long: Kênh rạch cạn kiệt, ruộng đồng héo khô

Cánh đồng lúa ở huyện Long Phú, Sóc Trăng đang thiếu nước ngọt trầm trọng.

Theo Tổng cục Thủy lợi, tình hình xâm nhập mặn ở ĐBSCL năm nay sẽ xảy ra sớm hơn, sâu hơn và nghiêm trọng hơn năm 2015-2016,năm được coi là nặng nề nhất. Tình hình diễn biến phức tạp dưới tác động của tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu, triều cường và nước thượng nguồn sông Mêkông xuống thấp.

Lo cháy rừng

Thống kê của ngành chức năng Cà Mau, toàn tỉnh hiện có hơn 10.200 ha rừng ở mức báo động cháy cấp trung bình (cấp 2), hơn 15.100 ha rừng ở mức báo động cháy cấp cao (cấp 3), gần 13.200 ha rừng ở mức báo động cháy cấp nguy hiểm (cấp 4) và gần 3.000 ha rừng ở mức báo động cháy cấp cực kỳ nguy hiểm.

Phó Giám đốc Vườn Quốc gia U Minh Hạ Lê Thanh Dũng cho biết, do hạn kéo dài và sớm hơn mọi năm nên hơn 8.527 ha rừng của đơn vị đang ở mức báo cháy cấp III. Đặc biệt có trên 2.500 ha rừng bên trên dây leo đã khô héo, bên dưới lớp than bùn cũng khô hanh.

Tại Kiên Giang, khu vực Vườn quốc gia U Minh Thượng cũng đang trong tình trạng báo động. Ông Nguyễn Văn Cường - Phó Giám đốc Vườn Quốc gia U Minh Thượng cho biết, thời điểm này đang là cao điểm mùa khô, nắng nóng gay gắt kéo dài, nước bốc hơi nhanh nên mực nước dưới kênh rạch cạn xuống dần, trung bình mỗi tháng khoảng 15cm. Nếu tiếp tục khô hạn, lâm phần Vườn Quốc gia U Minh Thượng cấp dự báo cháy rừng cấp 3, cấp 4 và có nơi cấp 5, cấp cực kỳ nguy hiểm có thể xảy ra cháy rừng bất cứ lúc nào.

Mới đây, ngày 21/2, gần 21.000m2 ruộng lúa của 3 hộ dân ấp 1/5 (xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời) đang bước vào giai đoạn chuẩn bị thu hoạch thì bị cháy rụi hoàn toàn. Thời điểm xảy ra vụ cháy thời tiết nắng gắt, gió lớn cộng thêm ruộng lúa bị khô hạn, nên không thể cứu được.

HƯỚNG TỚI NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI 2020 VỚI CHỦ ĐỀ NƯỚC VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - MỘT ĐBSCL Ô NHIỄM GIỮA MÙA HẠN MẶN

Ngô Thế Vinh

Water, water, everywhere, Nor any drop to drink Nước, nước, khắp nơi, Không có giọt nước uống [Samuel Taylor Coleridge 1772-1834] Gửi 20 triệu cư dân ĐBSCL Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

HẠN MẶN VÀ Ô NHIỄM 13 TỈNH MIỀN TÂY

      Trên một chuyến phà lớn từ Đại Ngãi qua Cù lao Dung, sóng đánh tung toé, khách như cảm thấy được vị mặn bám đọng trên môi. Thấy nước khắp nơi nhưng là nước mặn đã xâm nhập vào khắp các ngả sông rạch và người dân thì đang lao đao lùng kiếm tìm mua từng lu nước ngọt để uống. Rồi còn phải kể tới những cánh đồng lúa cháy và các vườn cây trái thối rễ do đất bị nhiễm mặn khiến nhiều nông gia mất trắng tay.

      Người bạn đồng hành đứng bên, anh dạy Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên Đại học Cần Thơ, nói với tôi: “Kể cả có lũ ngọt đổ về, nước hết mặn cũng không uống được vì dòng sông quá ô nhiễm”. Do chất thải kỹ nghệ từ các nhà máy ven sông, do phân bón hoá học từ đồng ruộng tràn ra, và tệ hại hơn nữa là rác rưởi từ các khu gia cư.

      Đó là tình cảnh của ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL, phải sống chung với những dòng sông ô nhiễm, và nay họ đang nhận thêm được những tín hiệu báo nguy về hạn mặn sẽ trầm trọng hơn năm 2016 và tới sớm hơn ngay từ hai tháng đầu năm 2020. Do đó, cho dù có thấy “nước, nước, khắp mọi nơi, vậy mà không có giọt nào để uống”. Cho dù ĐBSCL vẫn là nơi nhận nguồn nước cao nhất Việt Nam tính theo dân số. Tuy nước vây bủa xung quanh nhưng là nước bẩn hay nước mặn. Thách đố lớn nhất là làm sao thanh lọc được nguồn nước tạp ấy để có nước sạch đưa vào sử dụng.

      Với tầm nhìn qua lăng kính vệ tinh và biến đổi khí hậu, vùng châu thổ Mekong là hình ảnh khúc phim quay chậm / slow motion của một con tàu đang đắm. Một cái chết rất chậm nhưng chắc chắn của một dòng sông Mekong dũng mãnh – lớn thứ 11 trên thế giới với hệ sinh thái phong phú chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon và cả một vùng châu thổ ĐBSCL đang từ từ bị nhấn chìm.

NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI 2020

      Không thể tách rời vấn đề Nước và Biến đổi Khí hậu toàn cầu. Đó cũng là quan điểm của Liên Hiệp Quốc, khi chọn chủ đề “Nước và Biến đổi Khí hậu” cho Ngày Nước Thế giới 22/ 03/ 2020 năm nay.

      Trước những tình huống cực đoan và biến đổi bất thường về khí hậu có thể làm gia tăng biến thiên chu kỳ nước – water cycle, khiến rất khó mà tiên đoán được về nguồn nước có thể sử dụng – water availability, với những ảnh hưởng trên phẩm chất nước, cả trên tính đa dạng sinh học / biodiversity, và đe doạ sự phát triển bền vững trên nhiều lưu vực của các con sông.

      Dân số toàn cầu từ 7,2 tỷ năm 2015 đến nay 2020 – theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, đã vượt qua con số 7,7 tỷ người. Tăng dân số cũng có nghĩa là gia tăng nhu cầu nước,  kéo theo gia tăng nhu cầu năng lượng để bơm nước, vận chuyển và xử lý nước – water treatment. Tận dụng nguồn nước cũng dẫn tới sự suy thoái các hồ chứa carbon thiên nhiên – carbon sinks từ các vùng đất đầm lầy.

      Tăng cường mối quan tâm về nước để đáp ứng nhu cầu nước ngày một gia tăng trong tương lai; điều ấy đòi hỏi phải có những quyết định mạnh mẽ, làm cách nào để phân chia các nguồn tài nguyên nước – allocate water resources, thích nghi với biến đổi khí hậu giữa những tranh chấp sử dụng nguồn nước giữa các địa phương và các quốc gia.

Biến đổi khí hậu và thủy điện đang bức tử dòng Mekong như thế nào

Nhà máy thuỷ điện vẫn đang được xây dựng ồ ạt bất chấp những lời kêu cứu về tình trạng dòng sông.

Miền Tây Việt Nam nằm trong vùng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng trước các biến đổi của sông Mekong. Ảnh: Sergey Ponomarev/The New York Times

Cuối tháng 10 năm 2019, đập Xayaburi được đưa vào vận hành ở Lào, bất chấp làn sóng phản đối của người dân. Mực nước ở sông Mekong khi đó đã giảm xuống 1,5 mét, mức thấp nhất trong vòng một thế kỷ. Lòng sông cạn đến mức có thể nhìn thấy cả đáy cát.

Đập Xayaburi có công suất 1,3 gigawatt, nằm ở phía Bắc của Lào, trên con sông Mekong chảy dọc theo chiều dài đất nước. Đó chỉ là một phần của kế hoạch xây dựng gần một trăm con đập thuỷ điện vào năm 2020 để trở thành “cục pin của Châu Á”, với mục tiêu xuất khẩu hai phần ba năng lượng sản xuất trong nước. Các con đập này đang đe dọa ngăn trở dòng chảy của sông Mekong vốn đã bị bóp nghẹt. Đáng chú ý, nhiều dự án trong số này được Trung Quốc tài trợ chi phí và hỗ trợ thi công trực tiếp.

Biến đổi khí hậu đe dọa nguồn nước sông Mekong

Sông Mekong là con sông huyết mạch ở Đông Nam Á. Chảy qua sáu quốc gia, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng và đổ ra Biển Đông, nơi đây là ngư trường có năng suất đánh bắt cao nhất thế giới, trị giá 17 tỷ USD mỗi năm. Có khoảng 60 triệu người sống ở lưu vực sông Mekong, và 80% trong số họ kiếm sống trên sông.

Biến đổi khí hậu là mối đe dọa lớn đối với sự sống của sinh vật và sinh kế của người dân quanh con sông. Theo một số nghiên cứu, đến hết thế kỷ 21, hai phần ba băng tuyết ở dãy núi Himalaya – nguồn cung cấp nước cho sông Mekong – có thể biến mất. Các nhà khoa học đã cảnh báo rằng sự thay đổi đường đi của các khối khí nhiệt đới sẽ làm thay đổi lưu vực sông Mekong, và quá trình này không thể cứu vãn. Lượng mưa thay đổi thất thường sẽ khiến khu vực này dễ bị hạn hán hơn. Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng xấu đến dòng sông như làm mất phù sa, tăng độ mặn và xói mòn bờ sông.

Một ngôi làng bị nhấn chìm năm 2017 khi lấp đầy hồ chứa cho đập thuỷ điện Lower Sesan 2, Campuchia. Ảnh: Sergey Ponomarev/The New York Times

Việc đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng trên sông Mekong đang khiến các tác động của biến đổi khí hậu càng trở nên tồi tệ hơn. Cư dân sống ở lưu vực sông Mekong đang phải chịu một trong những đợt hạn hán tồi tệ nhất của thế kỷ. Khi những con đập lớn được đưa vào vận hành trong những năm tới, cộng đồng ven sông sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn nữa: mực nước thay đổi thất thường, chịu lũ quét bất ngờ và hệ sinh thái sông sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng. Tuy vậy, Trung Quốc đang lên kế hoạch cho nhiều dự án tương tự.

Tham vọng địa chính trị của Trung Quốc

Trung Quốc đã xây dựng ít nhất mười con đập lớn trên dòng chảy chính của con sông trên lãnh thổ của mình. Những con đập này đã bắt đầu ảnh hưởng tiêu cực đến nghề cá, hệ sinh thái ven sông và nghề canh tác ở hạ lưu sông. Hiện Bắc Kinh đang đẩy mạnh việc xây dựng đập xuống phần sông ở Lào và Campuchia biến sông Mekong trở thành nơi khuếch đại lợi ích của Trung Quốc ở Đông Nam Á.

Các đập thuỷ điện trên dòng chảy chính của sông Mekong. Nguồn: International Rivers.

Từ năm 1995, Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam đã hợp tác quản lý dòng sông và các nguồn tài nguyên của nó thông qua một tổ chức liên chính phủ có tên là Ủy hội sông Mê Công (Mekong River Commission – MRC). Ít nhất là trong tuyên bố của các quốc gia thành viên của MRC, họ đã chấp nhận nguyên tắc quản lý sông Mekong, đó là: “Vì lợi ích tốt nhất của khu vực và tính bền vững sinh thái của dòng sông”. Năm 2010, Ủy hội đã thúc đẩy một lệnh tạm hoãn 10 năm đối với các đập thủy điện công suất lớn trên sông.

Nhưng Ủy hội không có quyền lực để thực thi các khuyến nghị của tổ chức. Lào, nước nghèo hơn các nước láng giềng, đang tìm cách phát triển “nhảy vọt” bằng cách thu hút đầu tư, chủ yếu từ Trung Quốc. Việc xây dựng đập tràn lan ở Lào hiện nay là một phần trong kế hoạch phát triển thủy điện ồ ạt do Trung Quốc hậu thuẫn. Biju Abraham, giám đốc của Oxfam tại Campuchia, cho biết trên tờ Khmer Times rằng hiện Trung Quốc đã xây dựng bảy đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong và có kế hoạch xây thêm 21 đập, trong khi các nước ở hạ nguồn đang lên kế hoạch xây dựng 11 đập thủy điện.

Vào năm 2015, Trung Quốc đã thành lập một tổ chức cạnh tranh với Ủy hội và đã làm lu mờ nó một cách hiệu quả. Khuôn khổ hợp tác Lancang-Mekong (Lancang-Mekong Cooperation Framework – LMC), được Ngoại trưởng Trung Quốc Wang Yi mô tả là “một chiếc máy ủi hàng thật giá thật, chứ không phải nơi bàn chuyện phiếm”, có tầm kiểm soát bao trùm lên cả dòng sông. Mục tiêu của tổ chức này ăn khớp với Sáng kiến Vành đai và Con đường (Belt and Road Initiative), dự án cơ sở hạ tầng toàn cầu đầy tham vọng của Trung Quốc. Đầu tư vào khu vực này còn thể hiện tham vọng tạo ra các tuyến đường vận tải mới cho ngành nhập khẩu dầu hỏa. Phía Bắc Kinh mong muốn giảm sự phụ thuộc của Trung Quốc vào tuyến vận tải duy nhất trên eo biển Malacca, hiện đang được tuần tra và kiểm soát bởi Hạm đội Bảy của Hải quân Hoa Kỳ.

Là một nhà đầu tư và chủ nợ, Trung Quốc gia tăng kiểm soát chính trị và kinh tế đối với các quốc gia trên sông Mekong. Các tổ chức quốc tế cảnh báo rằng Lào có nguy cơ vỡ nợ nguồn vốn vay từ Trung Quốc, với tỷ lệ nợ công dự báo tương ứng 70% GDP. Mỗi năm, hội nghị thượng đỉnh LMC đều đưa ra các cam kết cho vay “khủng”. Trung Quốc đã ký kết các khoản vay và viện trợ trị giá 12 tỷ USD trong năm 2018. Các dự án điển hình có thể kể đến như tuyến đường sắt cao tốc Trung – Lào kết nối Côn Minh đến tận Singapore. Trung Quốc cũng hỗ trợ xây dựng các đặc khu kinh tế, chẳng hạn như Sihanoukville ở Campuchia và Savan-Seno ở Lào. Nhiều người dân địa phương thậm chí coi là đất nội phận của Trung Quốc.

Các quốc gia ven sông Mekong đang điều chỉnh chính sách hướng đến các đối thủ của Trung Quốc và các cường quốc trong khu vực, với mong muốn các nước này có thể ngăn cản ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh. Các quốc gia khác như Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan, Australia và Hoa Kỳ đã thành lập ít nhất 13 chương trình Sáng kiến trong lưu vực sông Mekong, nhằm hỗ trợ hội nhập kinh tế khu vực, nâng cao các tiêu chuẩn quốc tế về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhưng ảnh hưởng của các quốc gia này cho đến nay vẫn kém xa so với quy mô và tốc độ mở rộng của Trung Quốc xuống lưu vực sông Mekong.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn