Hiển thị các bài đăng có nhãn Chu Hảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chu Hảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Cây ngay không sợ chết đứng (Nói phải củ cải cũng nghe?)

Chu Hảo

1. Tôi hoàn toàn tán thành những ý kiến rất xác đáng, thẳng thắn và có tính thuyết phục của tác giả Vũ Ngọc Hoàng. Đã đến lúc chúng ta cần có rất nhiều những bài viết như thế này được công bố công khai, rộng rãi. Đây cũng có thể là bước đầu tiên như kiến nghị tha thiết của ông Nguyễn Trung: ĐCSVN phải vượt qua chính mình và toàn dân phải có trách nhiệm, để cứu nguy dân tộc. Hãy lên tiếng, đừng sợ, để góp ý cho đảng cầm quyền “vượt qua chính mình” bằng cách nào? Và hướng dẫn quần chúng thể hiện trách nhiệm của mỗi người bằng cách nào?

2. Ba nút thắt liên quan đến vấn đề Biển Đông Nam Á (Biển ĐNÁ) hiện nay, như được vạch ra trong bài của ông Võ Ngọc Hoàng là: Kiện TQ ra Tòa án Luật pháp quốc tế, Ký Hợp tác chiến lược (thực lòng, thực chất) với Hoa Kỳ - nước duy nhất “bênh” VN trên Biển ĐNÁ, và Hóa giải “chính sách ba không” hoàn toàn bất lợi trong tình hình mới. Chắc chắn đã có ”một bộ phận không nhỏ” trong giới cầm quyền cản trở việc tháo gỡ các nút thắt này, nên lãnh đạo VN mới lúng túng và chần chừ đến như vậy. Có một Trần Ích Tắc dân tộc đã khổ, nếu có một bầy Trần Ích Tắc thì nhân dân ta khó lòng giữ được truyền thống quật cường, không khuất phục của Dân tộc ta đã được hun đúc từ khi dựng Nước. Họa mất Nước đang đe dọa dân ta! Phải vạch mặt bọn Trần Ích Tắc này, đừng sợ!

THƯ CHÚC TẾT CỦA TS CHU HẢO

Một năm qua, 2018, trên đất nước chúng ta diễn ra không ít sự kiện nóng bỏng. Sự kiện nổi bật nhất, có thể coi là tâm điểm, là cuộc biểu tình lớn vào ngày 10-6 phản đối dự án Luật Đặc khu tệ hại do Đảng CS rắp tâm đưa ra Quốc hội thông qua mà hậu quả ai cũng thừa biết là mở ra những cánh cửa toang hoác nhằm mời lũ sói Tàu thò bàn chân lông lá và cái mõm tham của chúng sục vào những cứ địa hiểm yếu thuộc hai địa đầu Bắc, Nam và cả nơi khúc ruột miền Trung Việt Nam. Cuộc biểu tình tự động của hàng trăm ngàn dân chúng ở khắp ba miền không hề có lời kêu gọi của một lực lượng nào mà cùng nổi dậy đồng loạt chứng tỏ sức sống mãnh liệt của 90 triệu con dân Lạc Hồng lúc nào cũng ấp ủ trong tim lòng yêu nước sâu nặng, hễ có thời cơ là bùng phát, tuy có bị đàn áp không nương tay nhưng cũng đã tạm thời chặn được mưu đồ nham hiểm của phường bán nước. Đó là một thắng lợi lớn đến không ngờ.

Tất nhiên thắng lợi đã phải trả bằng những giá đắt. Suốt cả một năm, nhất là từ sau ngày 10-6, hàng chục tù nhân lương tâm lần lượt bị bắt vào tù sau khi bị cơ quan công quyền giáng cho những cái án cực nặng, bất chấp pháp lý; nhiều người khác đang từ trong ngục bị ép ra cư trú ở nước ngoài. Tình thế xã hội khiến kẻ cầm quyền biết họ đang như ngồi trên đống lửa. Vì thế, một mặt họ thấy cần đẩy nhanh những “chiến dịch càn quét” nhằm vét nốt những đất đai béo bở lâu nay vét chưa xong để “hốt cú chót”, phòng có xẩy ra sự cố gì đáng ngại. Các vụ Thủ Thiêm, Lộc Hưng chỉ là tiếp tục bao nhiêu trò “quy hoạch” đã từng làm nông dân mất hết đất đai nhà cửa trên rất nhiều vùng miền, khiến dân oan ngày một tích tụ lên con số hàng chục triệu, nhưng giờ đây xuất hiện một cách lỳ lợm, trơ tráo hơn, đến mức kẻ ra tay không cần ngụy trang bộ mặt mất nhân tính của mình nữa; chúng đi cướp với trống giong cờ mở đàng hoàng: “Cướp nay có đảng có đoàn” (Nguyễn Duy), thậm chí cướp ngay cả trong thời điểm năm hết tết đến, nghĩa là không cần tuân thủ tập tục cổ truyền vốn rất nhân bản của người Việt “Trời đánh cũng tránh bữa ăn”.

Một mặt khác thì họ biết rằng đất nước có được những con người thức tỉnh, những người vô danh trong làng xóm bỗng chốc một sớm ùn ùn kéo nhau đi biểu tình; những người từ trong ngục tối không chịu cúi đầu nhận tội để được tha vì biết mình cầm chính nghĩa trong tay; những người đối diện với lũ quan bẻm mép dám hiên ngang rút ngay chiếc dép ném thẳng vào mặt chúng… đó đều là nhờ sức lan truyền của tư tưởng dân chủ, dù ít dù nhiều đã như những giọt nước thấm dần vào đất làm cho đất nẩy mầm. Họ phải quyết triệt cho được cái nguy cơ hàng đầu sinh ra mầm cây dân chủ vô cùng đáng sợ đó.

Và nạn nhân tiêu biểu của chủ trương triệt hạ thứ hai nói ở đây là một gương mặt trí thức quen biết: Tiến sĩ CHU HẢO. Con người vốn rất hiền lành, xuất thân từ hàng ngũ con cưng của đảng, sau nhiều thập niên hoạt động trong cơ chế với tư cách một nhà lãnh đạo khoa học kỹ thuật, đã thấm thía những nguyên nhân căn cốt dẫn đất nước đến nghèo đói cùng cực, kinh tế bên bờ vực thẳm, giáo dục suy đốn trầm trọng, đạo đức nhân bản truyền thống lung lay. Bên cạnh những sai lầm về đường lối, chính sách, và sự cuồng tín bám khư khư lấy một học thuyết đã bị loài người vứt bỏ, nguyên nhân sâu xa nhất còn là do tình trạng ngu dân, thái độ bưng tai bịt mắt không chịu tiếp nhận ánh sáng văn minh của thế giới bên ngoài. TS Chu Hảo không làm gì hơn là muốn nhanh chóng mở rộng cánh cửa tinh thần đang đóng chặt, nhằm trang bị cho các thế hệ con em của dân tộc những hiểu biết cơ bản nhất mà các xã hội đã và đang phát triển đều coi là hiểu biết thông thường, không có nó thì không tạo nên được sức bật để đi lên. Nguyện vọng của ông chỉ là xuất bản bằng được 500 cuốn sách đúc kết tri thức nhân loại hiện đại để từ đấy lan tỏa vào đại chúng, tạo nên một mặt bằng mới trong đời sống tư duy, nhờ đó sớm nẩy sinh những chàng Hercules lập nên kỳ công cho đất nước. Nhưng tâm nguyện của ông, cũng là nguyện vọng của cả thế hệ trí thức cấp tiến hôm nay, tiếc thay lại không phù hợp với chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc tỏa sáng tri thức nhân loại vào đời sống đúng là một nhu cầu tất yếu, ai cũng biết là vậy, nhưng việc đó cũng mặc nhiên đòi hỏi phải chấp nhận yêu cầu giải phóng con người theo hướng tự do dân chủ, vì mỗi con người một khi là người có kiến thức sẽ trở nên một sức mạnh nội tại, sẽ tự bứt đứt mọi xiềng xích tư tưởng trói chặt mình để đứng dậy, mà việc đó lại hoàn toàn trái ngược với thể chế toàn trị độc tài. Vì thế, đảng của Chu Hảo đã ra quyết định kỷ luật ông. Đúng là nghịch lý - một nghịch lý thách thức với hết thảy những ai đang mong mỏi dân tộc Việt Nam đi nhanh tới tương lai.

Điều trớ trêu là Chu Hảo, người muốn đem ngọn lửa văn minh của thế giới về cho dân tộc, đã không phải như chàng Prométhée trong thần thoại Hy Lạp xưa kia, chịu để cho thần Zeus cột chặt mình vào một tảng đá nhằm trừng phạt cái tội đã đem lửa về cho nhân loại. Không, Chu Hảo đã sớm biết thoát khỏi sự trừng phạt của đảng bằng cách tuyên bố ra khỏi đảng trước khi kỷ luật đảng được ban ra. Kỷ luật đảng vì thế đã được đáp lại bằng sự lặng lẽ trống không – một câu trả lời vô ngôn giàu ý nghĩa.

Sau một thời gian im tiếng, trước khi bước sang năm mới Kỷ Hợi, hôm nay 23 tháng Chạp, ngày ông Táo chầu Trời, TS Chu Hảo lại trở lại với văn đàn bằng mấy lời chúc xuân gửi đến đồng bào và bạn bè yêu quý khắp trong ngoài nước. Những lời tâm sự sau bấy nhiêu va đập mà mình đã trải qua, chất nặng những nỗi niềm, nhưng theo chúng tôi, cũng là những lời chưng cất hy vọng.

Bauxite Việt Nam xin hân hạnh gửi đến độc giả.

Bauxite Việt Nam


Kính gửi: Những người đã thông cảm, ủng hộ và khich lệ tôi

Thưa quý vị và các bạn,

Nhân dịp Tết Kỷ Hợi tôi xin chân thành kính chúc mọi người một Năm mới dồi dào sức khỏe, có thêm niềm vui và gặp nhiều may mắn để có một vài công việc (của gia đình, hay cho xã hội) được thật sự như ý!

Năm cũ đã qua với rất nhiều biến động trên đất nước ta. Có những suy thoái tồi tệ hơn; nhưng đồng thời cũng có những tự diễn biến, tự chuyển hóa tích cực hơn. Tôi không ngờ rằng sự vụ liên quan đến cá nhân tôi trong thời gian vừa qua lại có thể dấy lên một phong trào tự do công khai biểu đạt chính kiến của mình theo Hiến định một cách sôi động đến như vậy. Nhân dip này tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn sâu sắc tới quý vị và các bạn đã thông cảm, ủng hộ và khích lệ tôi trong các hoạt động Văn hóa-Giáo dục và Xuất bản để cùng nhau phấn đấu vì một nước Việt Nam Độc lập Dân tộc, Tự do Dân quyền, Hạnh phúc Dân sinh. Tên tuổi và tiếng nói của từng người trong số này đều khắc sâu trong tâm khảm tôi như một kỷ niệm trân quý nhất trong cuộc đời.

Dù rất mong muốn được bày tỏ tấm lòng mình với riêng mỗi người, mỗi tổ chức đã lên tiếng quan ngại đến vấn đề của tôi, nhưng tôi chưa có điều kiện thực hiện được. Vì vậy xin quý vị và các bạn cho phép tôi chỉ nhắc tới sau đây vài trường hợp đặc biệt.

Trước hết là Tướng quân Nguyễn Trọng Vĩnh (năm nay Cụ đã thọ 103 tuổi nhưng vẫn khỏe mạnh và minh mẫn), người đã ra một Bản Tuyên bố đanh thép về trường hợp của tôi. Tôi hết sức cảm động và thêm vững lòng tin vào ý chí của một Dân tộc đã có, và sẽ còn có, những thế hệ kiên cường như vậy. Tôi vinh dự và tự hào vì những năm gần đây được cộng tác với Cụ tham gia phản biện xã hội, cùng lên tiếng trước những vấn đề bức xúc và nòng bỏng của thời cuộc.

Tiếp đến tôi xin được đặc biệt nhắc tới việc làm hết sức có ý nghĩa của 81 vị học giả quốc tế khi bày tỏ quan ngại đến những khó khăn ở Việt Nam trong việc xuất bản các cuốn sách vốn là giá trị phổ quát của Nhân loại trong Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế Giới của NXB Tri thức thuộc Liên hiệp các hội KHKT VN (LHH VN). Rõ ràng là ý kiến đó đã góp phần quan trọng trong việc NXB Tri thức (mà từ nay tôi làm việc ở đó như một Biên tập viên và Người tổ chức giới thiệu sách) vẫn được tiếp tục hoạt động theo đúng tiêu chí mà cơ quan chủ quản (LHH VN) đã đề ra từ ngày thành lập (2005) và kiên trì theo đuổi.

Tôi cũng xin phép được nhắc tới các bạn trẻ tham gia “Hội những người đứng về phe ánh sáng” đã sẵn sàng sát cánh cùng chúng tôi, những người tự nguyện nối tiếp sự nghiệp Khai Dân trí theo tinh thần Phan Tây Hồ, trong đó có Viện Phan Châu Trinh (Hội An-Quảng Nam) mà hiện tôi vẫn tham gia với tư cách Giám đốc. Tôn trọng và công khai bảo vệ lẽ phải bằng trí tuệ là phẩm chất của người chính trực. Mong các bạn làm được nhiều việc cụ thể, trong khả năng có thể, để góp phần chấn hưng nền Văn hóa- Giáo dục và Học thuật nước nhà, nhằm góp phần xây dựng một nước Việt Nam Giàu mạnh, thực sự Dân chủ Công bằng và Văn minh.

Tôi, cũng như nhiều quý vị và các bạn trong số chúng ta, không có nguyện vọng và năng lực hoạt động chính trị thực thụ; nhưng có chính kiến trong thực hành phản biện xã hội trên tinh thần khoa học và xây dựng là nghĩa vụ của mỗi người, để xã hội này không rơi vào tình trạng “chết lâm sàng”. Nói đúng sự thật, có lý lẽ, có tầm nhìn và có tâm trong sáng, thì chẳng gì có thể làm chúng ta sợ hãi. Có càng nhiều người can đảm không thờ ơ trước những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc thì sẽ càng ít có chỗ cho cường quyền lộng hành!

Trong cuộc đời ngắn ngủi và vô thường của mình tôi rất may mắn và hạnh phúc được là người đồng chí hướng với quý vị và các bạn, những người thấu hiểu thế thái và thấm đượm nhân tình.

Chào thân ái và chúc thành công!

Chu Hảo

Hà nội, Tết Kỷ Hợi 2019


 

Tôi biết Nhà văn Nguyên Ngọc và Giáo sư Chu Hảo

Nguyễn Lân Bình

Hà Nội, tháng 11.2018

Thưa các quý vị và các bạn!

Là người theo đuổi một đề tài văn hóa lịch sử đã qua giai đoạn khá dài, tính từ năm 2002 đến nay, đặc biệt đề tài của tôi gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc cách mạng khai sáng do nhà yêu nước Phan Châu Trinh khởi xướng. Mặc nhiên sau này, khi Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh ra đời (2007), tôi đã được coi như một cộng sự nho nhỏ từ xa.

Trong những tháng qua, khi xã hội chính trị Việt Nam ồn ào trước sự kiện giáo sư Chu Hảo và nhà văn Nguyên Ngọc, đã có nhiều người hỏi tôi một cách chân tình mà ngộ nghĩnh, rằng ông có làm sao không…?

Thưa, năm 2007, nhân 100 năm Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT), vô tình tôi được ‘gọi’ đến dự lễ kỷ niệm. Buổi lễ được tổ chức tại trường Nguyễn Văn Tố – Phố Hàng Quạt – Hà Nội. Thời điểm ấy, tôi không để tâm, và cũng không có khái niệm về việc cơ quan nào đã đứng ra tổ chức buổi lễ.

Ông Nguyễn Khắc Mai tại buổi lễ tưởng nhớ các nhà giáo được tổ chức nhân kỷ niệm 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục ở Văn Miếu - Hà Nội

Ông CHU HẢO

Tôi có mặt đúng giờ, được một người duy nhất là thành viên trong Ban Tổ chức bắt tay (người gọi tôi đến) và chỉ cho chỗ ngồi. Tôi trong trạng thái lơ ngơ, vì không có mối quan hệ nào với những vị khách có mặt, cũng như các vị khách chính của buổi lễ, để chào hỏi hay trò chuyện trước giờ khai mạc.

Buổi lễ kết thúc, các vị khách và những người dự lễ bắt tay nhau trang trọng, và  thăm hỏi nhau nồng nhiệt, thân mật. Tôi đắn đo, không biết mình có nên đến chào những vị khách có danh, được giới thiệu nhấn mạnh trong buổi lễ như bà Nguyễn Thị Bình, ông Nguyên Ngọc, ông Chu Hảo, ông Nguyễn Khắc Mai…

Ông Khắc Mai (người biết tôi qua một người khác) đã nói với các vị khách lúc đứng ở hành lang trước khi vào hội trường, rằng tôi là cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh, mọi người cũng chỉ thốt lên… à thế à, và hình như mọi người cũng chỉ biết vậy là đủ. Nghĩ đến chi tiết đó, tôi quyết định ra về, và thôi không chào ai nữa.

Xét ra cũng là bình thường việc chẳng ai biết tôi. Hơn nữa, từ lâu, trong những cuộc tiếp xúc xã hội, tôi mặc cảm trước việc thấy người có chức tước, có danh vị giáo sư, tiến sĩ… lân la làm quen, làm thân. Thậm chí, tôi tránh những gương mặt có chức vụ, nổi tiếng, dù mình có biết hay đã từng gặp họ ở những bối cảnh khác.

Tôi không phải là kẻ tự ti, hay khiêm tốn, mà tôi mặc cảm với những đối tượng đó. Đơn giản vì theo tôi quan sát lúc lớn lên, rằng đa phần, họ đều mắc chứng bệnh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường mỉa mai, lên án, đó là cái tính ‘quan’ cách mạng, tác phong kiêu căng vì luôn tự nghĩ, rằng mình quan trọng, nhìn mọi người với con mắt: Thằng ấy là thằng nào?!

Tuy nhiên, sâu trong nhận thức của tôi khi còn ít tuổi, tôi được quen, biết nhiều người rất giỏi, đứng ở những vị trí quan trọng trong hệ thống chính quyền, nhưng họ không như một số người kế tiếp, được gọi là quan trọng mà sau này tôi từng gặp. Cũng có thể, vì những người tôi biết, là những người gần gũi với cha tôi như: giáo sư Trần Văn Giàu, bác sỹ Nhữ Thế Bảo, bác sỹ Trần Duy Hưng, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, hay nhạc sỹ nổi tiếng Nguyễn Xuân Khoát… (1)

Tôi ra ngoài sân lấy xe đi về. Bỗng tôi gặp một nhà báo quen, anh hỏi tôi:

“Sao, anh lại đi về? Mà anh Bình ơi, anh không biết ông Chu Hảo ư?”.

Nguyễn Phú Trọng và Chu Hảo: Trận chiến còn tiếp diễn

Kiều Phong

Tuy đã kỷ luật được Chu Hảo và đuổi được vị giáo sư này ra khỏi đảng cộng sản Việt Nam do mình kiểm soát, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn không tìm được cách nào để thu hồi những cuốn sách do nhà xuất bản Tri Thức và giáo sư Chu Hảo đã in ra.

Chu Hảo - giám đốc kiêm tổng biên tập nhà xuất bản Tri Thức, cũng là một trí thức du học từ Liên Xô về như ông Nguyễn Phú Trọng - tổng bí thư đảng cộng sản kiêm chủ tịch nước Việt Nam hiện nay. Ông tổ chức dịch và in rất nhiều sách nghiên cứu về các nền dân chủ phương Tây, trong đó nổi bật nhất là nền dân chủ của vương quốc Anh và nền dân chủ của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.

Nhà sách Khai Tâm ở Sài Gòn với kệ sách trưng nhiều cuốn của nhà xuất bản Tri Thức. Ảnh: Kiều Phong

Trong khoảng chục năm trở lại đây, những từ như “dân túy” nổi lên như diều gặp gió. Giáo sư Chu Hảo nắm bắt được nhu cầu dân chủ ở Việt Nam, một nhu cầu mà ông Nguyễn Tấn Dũng khi còn đương chức thủ tướng chính phủ Việt Nam (cùng lúc này các sách của Chu Hảo được in dễ dàng) cũng phải thừa nhận là một xu thế không thể đảo ngược.

LÃO TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH lên tiếng phản đối ĐẢNG trấn áp GIÁO SƯ CHU HẢO!

Nguyễn Đăng Quang

Biết sẽ bị trấn áp, ngày 26/10/2018, Giáo sư Chu Hảo chủ động tuyên bố từ bỏ ĐCSVN. Sự kiện này đã và đang gây ra tiếng vang lớn. Ngay lập tức đã có nhiều trí thức khắp 3 miền đất nước tuyên bố theo chân GS Chu Hảo từ bỏ ĐCSVN, trong số này có 2 trí thức tên tuổi là GS-TS Tâm lý học Mạc Văn Trang và Nhà văn, Nhà nghiên cứu Văn hóa-Giáo dục nổi tiếng Nguyên Ngọc! Ngày 27/10/2018, mười (10) trí thức nguyên là lãnh đạo và thành viên sáng lập Viện Nghiên cứu Phát triển IDS ký Thư ngỏ gửi Bộ Chính trị ĐCSVN, cực lực phản đối và bác bỏ sự quy kết của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đối với GS Chu Hảo là: “Không chính đáng, không đúng sự thực, thể hiện sự trấn áp thô bạo những nỗ lực rất đáng trân trọng của một trí thức hết lòng vì dân vì nước; việc này đã chà đạp những tiếng nói chân thật và xây dựng của ông về những vấn đề nóng bỏng của đất nước”! Ngay tức thì, Thư này có 238 nhân sỹ, trí thức trong và ngoài Đảng ký tên hưởng ứng!

Đặc biệt, ngày 11/11/2018, 81 giáo sư, học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, trong đó có 35 trí thức Việt kiều nổi tiếng, đang sinh sống và làm việc tại 10 quốc gia khắp 4 lục địa trên thế giới, gửi thư đến Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, lên tiếng đồng tình, ủng hộ chủ trương và những hoạt động của GS Chu Hảo trong cương vị Giám đốc Nhà Xuất bản Tri thức, đồng thời bày tỏ sự quan ngại và thất vọng sâu sắc về những cáo buộc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng CSVN đối với Giáo sư Chu Hảo để kỷ luật nhà trí thức nổi tiếng này!

Chiều qua (03/12/2018), nhà văn Nguyên Bình, trưởng nữ của lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, chuyển cho tôi Bản lên tiếng của thân phụ bà về việc ĐCSVN trấn áp đảng viên Chu Hảo. Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhà cách mạng kiên cường đáng kính, với 103 tuổi đời và 80 tuổi Đảng, trong nhiều năm qua đã sát cánh cùng nhiều nhân sĩ trí thức, trong đó có GS Chu Hảo, một đảng viên trí thức kiên cường, đeo đuổi cuộc đấu tranh nhằm làm cho ĐCSVN trong sạch, vững mạnh trở lại với tiêu chí chuyển đổi chế độ chính trị từ độc tài toàn trị sang thể chế nhà nước dân chủ pháp trị trên cơ sở tam quyền phân lập, đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi quyền của Đảng!

Nói đến cuộc đời hoạt động cách mạng của lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, chúng ta không thể không nhắc đến “3 kỷ lục” nổi bật mà cụ đang nắm giữ, khiến bạn bè gần xa - trong đó có rất nhiều đảng viên ĐCSVN- tự hào, cảm phục:

- Một: Cụ là Ủy viên Trung ương Đảng trong 16 năm liên tục của Ban Chấp hành Trung ương Khóa III Đảng Lao động Viêt Nam (1960-1976), và hiện là đảng viên có tuổi đời và tuổi Đảng cao nhất còn sống hiện nay (cụ sinh năm 1916, vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939.

- Hai: Cụ là sỹ quan cấp tướng do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh tấn phong hiện duy nhất còn sống cho đến nay, với 59 năm thâm niên cấp tướng (cụ được tấn phong Thiếu tướng trong Sắc lệnh số 036/SL do Chủ tịch nước VNDCCH Hồ Chí Minh ký ngày 31/8/1959!.

- Ba: Cụ là một Đại sứ kỳ cựu và sắc sảo, là nhà ngoại giao Việt Nam giữ kỷ lục làm Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền lâu nhất tại 1 quốc gia (cụ được Đảng và Nhà nước giao đảm nhiệm trọng trách Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc trong gần 14 năm liên tục, từ đầu 1974 đến cuối 1987, vào đúng thời điểm quan hệ giữa 2 nước rất xấu và căng thẳng vì Trung Quốc xua 60 vạn quân tràn sang tàn phá và xâm lược 6 tỉnh biên giớí phía Bắc tháng 2/1979!)

Mở đầu Bản lên tiếng, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết: “Tôi rất cảm phục và quý mến GS Chu Hảo. Qua những lần gặp gỡ, trao đổi, tôi nhận ra anh là mẫu người mà nhân dân và đất nước đang rất cần đến!”. Cụ viết tiếp: “GS Chu Hảo đã đề xuất với ĐCSVN cần tổ chức đối thoại với những ai có ý kiến, quan điểm khác với đường lối, quan điểm của ĐCSVN để tìm ra lối thoát cho sự bế tắc hiện nay của đất nước. Song ông Nguyễn Phú Trọng cay cú, coi ý kiến ôn hòa, xây dựng trên là sự “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” để trấn áp một đảng viên tâm huyết”! Rồi cụ tuyên bố ủng hộ GS Chu Hảo: “Tôi hoàn toàn đồng tình và ủng hộ quyết định từ bỏ ĐCSVN của GS Chu Hảo! Đúng như anh Chu Hảo đã tuyên bố hôm 26/10/2018 là “ĐCSVN ngày nay không còn tính chính danh, hoạt động không chính đáng, có nhiều khuyết tật, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và xu hướng tiến bộ của nhân loại!”. Kết thúc Bản lên tiếng, cụ kết luận: “Việc trấn áp những đảng viên trí thức như GS Chu Hảo nói lên là ĐCSVN ngày nay đã biến chất!”

Xin mời quý độc giả đọc nguyên văn Bản lên tiếng của lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đính kèm

Thư Nguyễn Trọng Vĩnh

Trong nhiều lần trao đổi và nói chuyện tâm tình, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã bộc bạch với người viết bài này như sau: Sau khi đổi tên thành ĐCSVN, nhất là từ sau 1990 lại đây, Đảng không còn tính chính danh như trước nữa! Cụ cho rằng ĐCSVN ngày nay đã biến chất, đã có nhiều hư hỏng, làm tổn hại nghiêm trong đến vai trò là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội như trong Điều 4 Hiến pháp đã ghi! Theo cụ, trong số các biến chất và hư hỏng của ĐCSVN, có 3 điều rất nghiêm trọng sau đây:

- Một là, ĐCSVN hiện nay đã trở thành một ổ tham nhũng trầm trọng, khó có thể kiềm chế và kiểm soát được! Bọn sâu mọt tham nhũng phần lớn đều là những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, chúng đã trở thành bầy sâu, tập đoàn sâu và ăn của dân không từ một thứ gì!

- Hai là, ĐCSVN không còn là một khối đoàn kết vững chắc như trước đây. Nội bộ Đảng ngày nay đã chia năm, xẻ bảy, đang hình thành các băng nhóm lợi ích trong Đảng, và những băng nhóm này đang đấu đá, tranh dành và xâu xé quyết liệt với nhau, chúng không thiết tha với lợi ích dân tộc, quyền lợi đất nước nữa!

- Ba là, ĐCSVN đã lệ thuộc nặng nề vào ĐCSTQ. Sau khi ký kết Mật ước Thành Đô (4/9/1990), Lãnh đạo ĐCSVN kể từ đó đã lệ thuộc gần như toàn diện vào “Đảng bạn”! Ngoài việc để đường lối đối nội, đối ngoại và nền kinh tế VN lệ thuộc gần như hoàn toàn vào TQ, lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN đã không hề lên tiếng phản đối và thực hiện biện pháp đáp trả khi chủ quyền biển đảo của Tổ quốc bị kẻ thù xâm phạm, đặc biệt là sự kiện tháng 5/2014, khi TQ coi thường luật pháp quốc tế, ngang ngược hạ đặt dàn khoan HD.981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam! Trong 3 năm qua VN đã 2 lần nhẫn nhục, chấp nhận đòi hỏi ngang ngược của TQ là VN phải dừng các dự án khoan thăm dò khí đốt, trong đó có Dự án tại Lô 136/03 thuộc bãi Tư Chính nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam!

Trở lại chủ đề GS Chu Hảo bị trấn áp, bạn bè thân thiết và những người quen biết GS Chu Hảo, trong đó có người viết bài này, có một nhận xét: “Ông là một đảng viên trí thức giàu tâm huyết, đầy dũng khí nhưng rất mẫn tiệp, ôn hòa, luôn trăn trở với vận mệnh đất nước! Hơn chục năm qua, sau khi nghỉ hưu, ông đảm nhiệm trọng trách Giám đốc kiêm TBT Nhà xuất bản Tri thức. Ở cương vị này, ông đã tổ chức biên dịch và xuất bản nhiều đầu sách quý trong kho tàng tri thức nhân loại để cung cấp kiến thức cho bạn đọc, trong đó có rất nhiều đảng viên ĐCSVN, sự nhận thức lại về chính trị xã hội, về quyền con người, quyền tự do dân chủ tối thiểu, về quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của công dân,v.v... theo tư tưởng khai phóng của nhà chí sỹ cách mạng Phan Châu Trinh: “Khai dân trí”, “Chấn dân sinh”, “Thực thi dân quyền”!

Bài trí thức ở Việt Nam: Trường hợp Giáo sư Chu Hảo

Cù Huy Hà Vũ
29-11-2018

Ngày 15 tháng 11 vừa qua, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), đảng chính trị duy nhất ở Việt Nam, đã ra thông cáo báo chí về việc khai trừ khỏi Đảng Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc - Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức, cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ.

Trước đó, vào ngày 26 tháng 10, ông Hảo tuyên bố từ bỏ Đảng, một ngày sau khi Ủy ban này thông báo sẽ kỷ luật ông do ông đã xuất bản một số cuốn sách và có những bài viết và phát ngôn “có nội dung trái với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước”. Trong số những cuốn sách này có Bàn về tự do của John Stuart Mill, Khảo luận thứ hai về Chính quyền của John Locke, Nền Dân trị Mỹ của Alexis De Tocqueville, Đường về nô lệ của Friedrich A. Hayek.

Ông Hảo cũng ký các kiến nghị, thư ngỏ phê phán Đảng như Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992 và Thư Ngỏ gửi Ban chấp hành trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Kiến nghị đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp (qui định về sự độc quyền lãnh đạo của ĐCSVN), đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; Thư ngỏ cho rằng Đảng đã dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm là xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ủy ban cũng lên án ông Hảo đã sáng lập, tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, câu lạc bộ và các tổ chức khác có các hoạt động truyền bá tư tưởng quan điểm trái với quan điểm của Đảng, như Viện Nghiên cứu phát triển (IDS) và “Quỹ Phan Chu Trinh”, quỹ này đã “trao giải cho cả cựu chiến binh Mỹ từng tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam”.

Ảnh hưởng của ông Trọng

Trong chương trình nghị sự của Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng, một nhà lý luận Mác-Lênin, tham nhũng và “tự diễn biến” hay “tự chuyển hóa” trong Đảng, tức là dần từ bỏ dần niềm tin và các tiêu chuẩn cộng sản, là hai vấn đề then chốt phải được giải quyết để duy trì chế độ độc đảng ở Việt Nam.

Sau khi hạ bệ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng - dưới sự cầm quyền của ông này tham nhũng đã trở thành đại họa -, tại Đại hội Đảng lần thứ 12 được tổ chức vào tháng 1 năm 2016, ông Trọng đã tiến hành chiến dịch chống tham nhũng có qui mô nhất trong lịch sử Đảng. Chiến dịch này được gọi là “Đốt Lò”, dựa trên tuyên bố nổi tiếng của ông Trọng: “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi cũng phải cháy”. Cho đến nay, hàng chục quan chức cao cấp, trong đó có một ủy viên Bộ Chính trị và một tá tướng lĩnh cả công an lẫn quân đội đã bị truy tố và bỏ tù. Kết quả là uy tín của ông Trọng đã tăng mạnh. Ngày 23 tháng 10 vừa qua, Quốc hội đã bầu ông Trọng làm Chủ tịch nước với gần 100% số phiếu, điều này đã đưa ông trở thành nhà lãnh đạo quyền lực nhất kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.

Hào quang do thành công của chiến dịch chống tham nhũng của ông Trọng mang lại, chắc chắn đã củng cố niềm tin của ông rằng ông sẽ thành công trong việc chống “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”, nhất là với các quy định của Đảng được làm ra dưới ảnh hưởng của ông.

Vào tháng 11 năm 2011, mười tháng sau khi ông Trọng được bầu làm người đứng đầu Đảng nhiệm kỳ đầu tiên của ông, Ban chấp hành trung ương Đảng ban hành Quy định số 47 về ‘Những điều đảng viên không được làm’. Theo quy định này, đảng viên không được “Nói, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng”, “tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng”.

Sáu năm sau, vào tháng 11 năm 2017, Bộ Chính trị do ông Trọng đứng đầu đã ban hành Quy định số 102 về xử lý đảng viên vi phạm các qui định của Đảng. Quy định này nêu rõ sẽ xử lý bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng nếu đảng viên “cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành quả cách mạng của Đảng”, “phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ”, “đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên, đa đảng”, “đòi hỏi phải thực hiện tam quyền phân lập”,”xã hội dân sự”,”đa nguyên chính trị”,”hệ thống đa đảng”hoặc”thành lập và / hoặc tham gia các hiệp hội trái luật”.

Thư giãn Chủ nhật: Lại nói chuyện vào, ra Đ+S VN

Ngụy Hữu Tâm

Nhân có chuyện Đ+S VN kỷ luật GS CH, xin được góp đôi lời về những kỷ niệm thời trẻ, ngắn gọn thôi nhưng hy vọng thú vị, ít nhất là với tôi, bởi vì... “văn mình, vợ người” mà! Nhất là các bạn trẻ ít trải nghiệm, còn bọn già chúng tôi, chúng ta quá hiểu nhau rồi còn gì!

Vào Đ+S VN nói riêng, cũng hệt như vào bất cứ Đ+S nào khác trên cái thế giới trước đây không nhỏ bé nhưng nay qua internet, vệ tinh và các công nghệ hiện đại khác… đã trở nên cực kỳ nhỏ bé, hệt như cái làng, chẳng thế mà Tàu+ gần đây đương nhiên tự mình vẽ ra “đường lưỡi bò 9 đoạn” để định bắt cả thế giới phải công nhận. Vào đảng cũng hệt như tham gia một tín ngưỡng, khi có niềm tin thì mình vào, nhưng cũng không phải nhất thiết thế, vì hội kín thì sao, hay thậm chí vì quyền lợi, vào một băng đảng của xã hội đen mà ngày nay đã lan tràn khắp thế giới, mà nhiều lúc tôi chẳng còn phân biệt đâu đỏ, đâu đen vì xã hội ngày nay nhiễu nhương quá!

“Lú” có chính danh hay không, nếu vậy thì xã hội này đã là xã hội đen rồi còn gì? Vì khi, Đ+S đứng trên nhà nước và pháp luật thì điều ấy là đương nhiên! Xét cho cùng thì đúng như vậy đấy! Thể chế toàn trị mà, cứ xem Orwell mà xem!

Nhưng xin trở lại việc vào, chứ ra thì nay trong các cụ, nhiều cụ đều muốn ra nhưng chưa tìm được cách ra cho đường hoàng mà thôi, như chuyện của GS Chu Hảo, ra thế thì ồn ào và rối rắm, nhưng có khi thế lại hết sức nổi tiếng, nhiều người muốn, nhất là các bạn trẻ. Anh CH vốn người cơ quan tôi, cứ tưởng anh yên ổn mọi chuyện cho tới cuối đời, thật không ngờ anh còn gặp rắc rối, nhất là ở vị trí xã hội cao chót vót như thế, nhưng ở đời sướng khổ là chuyện chỉ chính người đó biết, ai nói hộ ai được. Thế nên tôi muốn nói với các bạn trẻ, có nhiều con đường khác để nổi tiếng, đâu nhất thiết phải thế!

Trở lại câu chuyện thời trẻ tôi ngại vào Đ+S VN làm sao nhé! Thế lại là may dẫu khi ấy vào Đ+S VN là mơ ước của tất cả mọi người, nhất là trí thức, coi như con đường duy nhất để tiến thân, chứ hoàn toàn không rộng mở như hiện nay.

Hai kỷ niệm hết sức nhỏ thôi, nhưng hy vọng cũng thú vị cho bạn đọc, chủ yếu là bạn trẻ.

Đó là sau khi tôi đã tốt nghiệp đại học, có lẽ cuối 1968, đầu 1969 thì phải, nghĩa là đúng 50 năm, nửa thế kỷ chứ ít đâu, hai thế hệ, tôi mới 25, các bạn trẻ nay 21. Cũng phải nói lúc đó tôi về công tác ở Viện Vật lý cũng do “điều động của nhà nước” chứ có do nguyện vọng gì đâu, Nói là ghi nguyện vọng nhưng vào những năm tháng chiến tranh ác liệt đó, chúng tôi lại là khóa duy nhất của trường được đào tạo sĩ quan dự bị, cũng đã thấy cái hay của quân đội có kỷ luật, ai cũng đều xung phong vào bộ đội cả. Tôi cũng ghi nguyện vọng đó, nhưng được phân công về Bộ Công an, tôi còn nhớ như in lúc ấy Cục Cán bộ Bộ Công an còn đóng ven Hồ Thiền Quang. Anh cán bộ Tổ chức bỗng ngạc nhiên bảo, khi tôi đưa giấy phân công công tác: “Bên trường nhầm đấy, đồng chí về làm việc lại với Phòng Tổ chức trường nhá”. Tôi về lại trường thì các anh ấy bảo: “Có nguyên nhân tế nhị đấy, thôi Tâm về lại Ủy ban Khoa học Nhà nước là cơ quan nơi vốn đã cử cậu đi học. Mà lúc ấy nào đã có Viện Vật lý, tôi về Phòng Quang phổ, làm hồng ngoại, lúc đó còn tham gia hướng dẫn sinh viên làm đề tài nghiên cứu xăng máy bay bị vàng với anh Lý Hòa, làm sao quên được?

Rồi sau này khi có Anh H. về thành lập Viện Vật lý, tôi được chuyển sang làm laser là ngành mới xây dựng, sướng thế nào rồi đi nghiên cứu sinh ở Berlin. Nhưng đó là chuyện về sau. Hãy nói những năm đầu ở Viện Vật lý đã.

Anh em chúng tôi tuy ai cũng cố gắng phấn đấu vào Đảng vì lúc đó Đảng còn là cái gì thiêng liêng lắm, rất chi là lý tưởng. Anh CH còn là Bí thư Đoàn Thanh niên, khi đó còn mang tên „Lao động“, chưa đổi tên, lột xác thành +S. Những khúc khuỷu của nó, cũng không phải mọi người không biết, nhưng con đường tiến thân, ai cũng phải lo thôi, âu đó cũng là việc bình thường, còn đi nghiên cứu sinh cơ mà.

Tôi kể lại chuyện này để bạn đọc cười cho vui khi sự kiện CH ầm ỹ đến thế này. Số là anh H. cũng phải xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên cho mình, nên quyết tâm kéo anh Đ. vào Đảng, các anh vốn nhóm 4 anh: anh H., anh Đ, anh CC và anh ĐN, vừa hết nhiệm kỳ công tác ở Dubna về nước.

Hồi ấy trước khi kết nạp lại còn thủ tục phải có ý kiến “quần chúng” kia. Thế là chúng tôi, những người ngoài Đảng được tập trung lại họp nhận xét các đồng chí chuẩn bị được kết nạp Đảng. Mà anh Đ. thì ai mà chẳng biết, vừa đi Dubna về, công trình khoa học ngồn ngộn nổi tiếng tầm cỡ quốc tế, anh em trẻ chúng tôi mới ra trường ai mà chẳng biết và ngưỡng mộ. Thế nhưng vì là họp toàn Viện nên đâu phải chỉ có anh em bọn tôi, mà bọn tôi trẻ cũng nào biết mô tê gì mà “phát biểu ý kiến”, cứ chờ xem đã. Nói gì sai lại vạ miệng, chẳng bõ!

Thế là có một chị lao công sồn sồn đứng lên phát biểu ý kiến ngay. Chị nói đại để là “anh Đ. ít nói quá, suốt ngày chẳng thấy anh ấy nói một câu gì, không có tác phong quần chúng. Thế thì chúng tôi làm sao hiểu được anh? Liệu anh có trung thành với Đảng hay không, hay lại như các anh chị khác, chỉ biết chuyên môn thuần túy thôi, lỡ địch nó lợi dụng thì sao?”.

Bọn trẻ tôi sững sờ, không biết rồi chi bộ sau này xử lý vấn đề thế nào. Chỉ biết anh Đ. dẫu chuyên môn hết chê, nhưng chắc chắn cũng còn phải đợi đấy, phấn đấu chán mới được kết nạp Đảng. Và bạn đọc chắc cũng thông cảm, về phần tôi, vốn là người ham chơi, học hành kết quả cũng nhàng nhàng thì chuyện phấn đấu chẳng dễ nên trong tâm lý, qua những buổi góp ý như thế trong lòng có biết bao nhiêu là ngại ngần.

Đó là kỷ niệm thứ nhất.

Còn kỷ niệm thứ hai....

Nhưng cuộc rồi đời xô đẩy, đến năm 1974, một năm trước “giải phóng Miền Nam” thì tôi cũng được đi thi nghiên cứu sinh, rồi tôi được đi nghiên cứu ở Berlin. Viện Hàn lâm Khoa học bên đó có nhận cán bộ ta sang làm về laser màu, tôi được sang làm ở nhóm bên đó. Cuối 1977 tôi về thì Phòng Quang học chuẩn bị được thành lập, vì thiếu cán bộ, tôi được “cơ cấu”, rồi được cử làm Phó phòng, không có Trưởng phòng, Q. Trưởng phòng thôi, bạn bè cứ đùa “thằng này phá phòng”, có lẽ đúng vậy thật. Tôi cũng cố gắng hết sức mình, cuối năm 1982 được cử sang Paris thực tập một năm. Đầu năm 1984 về nước. Trở về phòng cũ, vẫn vậy, không có trưởng mà cũng chẳng có phó. Dịp may đây. Tôi hằng mong, sắp tới cấp trên sẽ “cắt cu” cho mình. Anh bí thư chi bộ Viện, anh Q. cũng có lần ghé tôi nói: “Anh H. đánh giá cậu tốt lắm đấy!”.

Và thế là có lẽ tôi cũng được chuẩn bị “kết nạp Đảng”. Ít nhất là tôi cũng tưởng tượng như vậy. Bởi vì tôi cứ nghĩ ngày đó chắc chắn cũng không còn xa nữa. Hầu như buổi “kết nạp Đảng” nào tôi cũng được mời dự. Nhưng lúc ấy tôi mới tóa hỏa... bỏ mẹ, có thủ tục phải giơ tay trước cờ Đảng và ảnh Bác để thề thốt: “Xin trung thành với lý tưởng của Đảng”.

Đến nước ấy thì tôi chịu thua...

“Đến vợ mình đấy, đầu gối tay ấp, chắc gì mình đã trung thành nổi, chứ cái lý tưởng viển vông đó thì xin... kiếu”.

Thế thì cuộc đời tôi, may hay rủi?

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC VÀ TS. CHU HẢO VỪA XUẤT BẢN CUỐN SÁCH HAY

Phạm Khiêm Ích

Phó Chủ nhiệm Chương trình Tầm nhìn UNESCO

Sách có tựa đề Tôn giáo học, từ nhiều cách tiếp cận do dịch giả Chu Tiến Ánh dich từ tiếng Anh Approaches to the Study of Religion. xuất bản tại London và New York năm 1999, nhà nghiên cứu Phạm Khiêm Ich viết lời giới thiệu. Cuốn sách được quyết định xuất bản ngày 09-10-2018, chính thức phát hành ngày 12-11-2018, hiện dang được bán rộng rãi ở nhiều cửa hàng sách tại Hà Nội. Có lẽ đây là cuốn sách cuối cùng của NXB Tri Thức do TS. Chu Hảo làm Giám đốc, Tổng biên tập. Cách đây 13 năm, NXB Tri Thức được thành lập do TS. Chu Hảo làm Giám đốc, Tổng biên tập. Cuốn sách đầu tiên được xuất bản là cuốn Thế giới như tôi thấy của Albert Einstein, do các dịch giả Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ Hào, TrầnTiễn Cao Đăng dịch từ tiếng Đức và tiếng Anh, nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính. Sách in xong và nộp lưu chiểu tháng 12-2005. 13 năm đã trôi qua. Hàng trăm cuốn sách, nhiều trăm cuốn sách đã ra đời ở NXB Tri Thức trong chương trình xuất bản 500 cuốn. Sách khá phong phú và đa dạng, nhưng hầu hết đều hướng vào mục tiêu: “Góp phần nâng cao dân trí và khai minh xã hội” - Tiêu chí của Sách Hay đương thời, được đông đảo công nhận.

Sách Tôn giáo học, từ nhiều cách tiếp cận là cuốn Sách Hay như thế. Đây là sách giáo khoa tôn giáo học ở bậc đại học, được gọi là “sách giáo khoa đầu tiên” (the first textbook) của môn học ở thế giới Anh ngữ.

clip_image004clip_image006clip_image002

Như chúng ta đều biết, nghiên cứu tôn giáo đã có từ lâu ở phương Đông, cũng như phương Tây. Nhiều công trình nổi tiếng thế giới đã được công bố. Tiêu biểu là cuốn sách của nhà xã hội học lớn người Pháp Émile Durkheim “Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo”(Les formes élémentaires de la vie religieuse) xuất bản ở Paris năm 1912. Tuy nhiên, nghiên cứu tôn giáo (religious studies) không phải là tôn giáo học (study of religion, science of religion). Tôn giáo học với tính cách là môn học, được giảng dạy ở các trường đại học chỉ mới được hình thành vào những năm 1960 tại thế giới Anh ngữ. Thời gian này nhiều giáo trình tôn giáo học (courses on religion) ở các trường đại học đã được biên soạn. Nhưng phải đến năm cuối cùng của thế kỉ XX cuốn sách giáo khoa đầu tiên này mới ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của tôn giáo học: “Sách này là sách giáo khoa đầu tiên dành cho sinh viên, nhằm cung cấp những cơ sở chủ yếu về phương pháp của bộ môn khoa học chính liên quan tới tôn giáo học”.

Đặc điểm nổi bật của sách này là nó nghiên cứu tôn giáo học như một môn học liên ngành (liên bộ môn), đa phương pháp tiếp cận. Vì vậy, sinh viên và người nghiên cứu phải làm quen với những cách tiếp cận của các bộ môn khoa học chủ yếu quan tâm tới việc nhận biết bản chất của tôn giáo.

Trong 7 chương sách, các tác giả đã trình bày 7 bộ môn khoa học chủ yếu, cùng những cách tiếp cận của chúng: những cách tiếp cận nhân học, những cách tiếp cận nữ quyền, những cách tiếp cận hiện tượng luận, những cách tiếp cận triết học, những cách tiếp cận tâm lý học, những cách tiếp cận xã hội học, và những cách tiếp cận thần học. Cần nhấn mạnh rằng 7 bộ môn khoa học trên đây, cùng những cách tiếp cận của chúng không phải là 7 củ khoai riêng biệt được đặt cạnh nhau trong một rổ khoai, mà là một thể thống nhất hữu cơ – thống nhất trong đa dạng, đa dạng trong thống nhất.

Các tác giả sách này là các nhà nghiên cứu và giảng dạy tôn giáo học tại nhiều trường đại học Anh quốc, dưới sự chủ biên của Peter Connolly, giảng viên cao cấp về tôn giáo học tại Viện Cao học Chichester Anh quốc. Người chủ biên đã biết liên kết sự nỗ lực sáng tạo của các đồng nghiệp để xây dựng một quan niệm chung về tôn giáo làm cơ sở vững chắc cho sự thống nhất của công trình:

“Tôn giáo là bất cứ niềm tin nào thừa nhận một lĩnh vực thiêng liêng, siêu - thể nghiệm và bất cứ hành vi ứng xử nào nhằm thể hiện mối quan hệ giữa con người với lĩnh vực ấy. Thuật ngữ thích hợp nhất để quy dần vào những hành vi ứng xử ấy có lẽ là chữ “tính tâm linh” (spirituality)”. Cái cốt lõi của tôn giáo “đó là niềm tin vào cái thiêng liêng, vào cái siêu nghiệm, hay siêu- thể nghiệm (the belief in the sacred, the transcendent or trans- empirical realm). Nếu hiện hữu thành phần này thì đúng là tôn giáo; khi thiếu vắng, thì không phải là tôn giáo nữa (Xem tr. 32).

Sách cho ta thấy rõ quan niệm về tính chất nhiều chiều cạnh của tôn giáo. Điều đó làm nảy sinh nhu cầu tự nhiên là phải sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau để làm rõ đầy đủ bản chất của tôn giáo.

Mỗi cách tiếp cận được trình bày thành cả một chương sách lớn, với 3 nội dung vừa rộng vừa sâu: 1/ Lịch sử phát triển của cách tiếp cận; 2/ Những đặc điểm của mỗi cách tiếp cận; 3/ Các giải pháp và tranh cãi.

Rõ ràng, cuốn sách thể hiện sự tìm tòi mới mẻ, độc đáo. Nó không khép lại, mà mở ra cho sự tranh luận, sự tiếp tục tìm tòi của sinh viên và người nghiên cứu. Nó không chỉ là sách giáo khoa theo nghĩa thông thường.

Đánh giá chung về cuốn sách, Giáo sư Ninian Smart (1927 – 2001), học giả nổi tiếng về tôn giáo học viết: “Một quyển sách như quyển này đưa chúng ta đến chân dung đích thực của tôn giáo học. Nó cho ta biết về những bộ môn khoa học, hay những truyền thống khảo sát hàn lâm mà tiêu điểm hội tụ là cung cấp cho ta một bức tranh toàn vẹn về tôn giáo” (Xem tr.15).

Tôn giáo học có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội, đặc biệt trong nền giáo dục đại học. Nó chú trọng nghiên cứu quan hệ sâu rộng giữa tôn giáo với các lĩnh vực xã hội. Việc hoạch định và thực hiện chính sách tôn giáo phải lấy tôn giáo học làm chỗ dựa vững chắc. Chăm lo phát triển tôn giáo học là công việc trọng yếu của giới đại học. Nó đóng vai trò hỗ trợ như bà đỡ cho các công trình nghiên cứu văn hóa. Ngày nay “tôn giáo học đã trở thành một bộ phận cấu thành thiết yếu của nền giáo dục đại học, mang lại cho việc nghiên cứu thế giới quan một vai trò ngang hàng với các môn học khác về xã hội và nhân văn” (tr.22).

GIỚI THIỆU TÓM TẮT SÁCH ĐƯỜNG VỀ NÔ LỆ (đoạn 2)

Nguyễn Đình Cống

Chương 6- KẾ HOẠCH HÓA VÀ PHÁP TRỊ

Pháp trị là điểm khác biệt rõ ràng nhất giữa một đất nước tự do với một đất nước nằm dưới quyền cai trị của một chính phủ độc đoán. Pháp trị có nghĩa là mọi hoạt động của chính phủ đều phải tuân thủ các quy tắc đã được ấn định và tuyên bố từ trước. Các quy tắc này cho phép người ta dự đoán được một cách chắc chắn cách thức chính phủ sử dụng lực lượng cưỡng bức trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó và người ta có thể lập kế hoạch cho các công việc của cá nhân trên cơ sở những hiểu biết như thế.

KHH kinh tế theo kiểu tập thể chủ nghĩa nhất định sẽ sinh ra một cái gì đó hoàn toàn ngược lại. Cơ quan lập kế hoạch không thể bằng lòng với việc cung cấp các cơ hội rồi để mặc cho những người xa lạ muốn sử dụng thế nào cũng được. Cơ quan này không thể tự trói mình vào những quy tắc chung, những quy tắc mang tính hình thức vốn dùng để ngăn cản những hành động độc đoán. Bởi vì chính cơ quan này phải lo cho các nhu cầu thực tế của người dân, mỗi khi nhu cầu xuất hiện, và sau đó cân nhắc xem nhu cầu nào cần đáp ứng, nhu cầu nào không.

Không nghi ngờ gì rằng KHH nhất định sẽ kéo theo việc phân biệt đối xử có chủ ý đối với những nhu cầu khác nhau của những người khác nhau, mặt khác, nó cho người này nhưng lại cấm người khác làm một việc gì đó. Nó ghi hẳn vào luật người nào thì được làm gì, được có những gì hay sung túc đến mức nào. Trên thực tế đấy chính là sự quay trở lại với quy định về địa vị, nghĩa là bánh xe lịch sử bị quay giật lùi, khỏi “xu hướng tiến bộ”

Pháp trị, theo nghĩa quy tắc luật hình thức, là nhà cầm quyền không được tạo ra đặc quyền đặc lợi cho một số người nào đó, là bảo đảm quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, là đối trọng của một chính phủ độc tài.

Nền kinh tế KHH không thể dung hòa với nhà nước Pháp trị.

Chương 7- KIỂM SOÁT KINH TẾ VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ

Kiểm soát việc sản xuất của cải vật chất là kiểm soát chính đời sống con người.

KHH nền kinh tế là việc quản lí một hệ thống phức tạp những hành động liên quan với nhau của rất nhiều người thì cần, một mặt, một nhóm chuyên gia thường trực và mặt khác, một vị tống chỉ huy không bị gò bó bởi bất kì thủ tục dân chủ nào. Đây là hậu quả tất yếu  và những người ủng hộ nó cũng hiểu như thế, chỉ có điều họ an ủi chúng ta rằng việc này “chỉ” liên quan đến lĩnh vực kinh tế mà thôi.

Thực tế không phải như vậy. Đa số những người ủng hộ KHH đã từng nghiên cứu một cách nghiêm túc các khía cạnh thực tiễn của vấn đề đều không nghi ngờ gì rằng việc quản lí đời sống kinh tế chỉ có thể thực hiện được bằng một chế độ độc tài, dù ít hay nhiều.

Nếu hoạt động kinh tế của chúng ta bị kiểm soát thì muốn làm bất cứ chuyện gì chúng ta đều phải báo trước dự định và mục tiêu của mình. Nhưng báo trước vẫn chưa đủ, chúng ta còn phải được chính quyền chấp thuận. Như vậy là toàn bộ đời sống của chúng ta đã bị kiểm soát rồi.

Vì thế vấn đề KHH kinh tế không chỉ giới hạn ở câu hỏi liệu chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu của mình theo cách ta muốn hay không. Vấn đề là chúng ta có được tự giải quyết cái gì đối với ta là quan trọng hay các cơ quan lập kế hoạch sẽ giải quyết điều đó cho chúng ta. KHH  sẽ động chạm không chỉ các nhu cầu cơ bản như chúng ta vẫn hiểu khi nói về các vấn đề “thuần túy” kinh tế. Vấn đề là chúng ta, với tư cách là các cá nhân sẽ không được quyền quyết định nhu cầu nào là cơ bản nữa.

Khi chính quyền đã quản lí hoạt động kinh tế thì nó cũng sẽ kiểm soát không chỉ các khía cạnh vật chất của cuộc sống của chúng ta; nó sẽ nắm quyền phân phối các phương tiện có hạn mà nhất định chúng ta sẽ cần khi muốn hoàn thành bất kì mục tiêu nào đó. Và dù người kiểm soát tối cao đó có là ai thì một khi đã kiểm soát tất cả các hoạt động kinh tế sẽ kiểm soát tất cả các phương tiện có thể đáp ứng các mục tiêu của chúng ta, và sẽ phải quyết định mục tiêu nào đáng được thỏa mãn còn mục tiêu nào thì không. Bản chất vấn đề là như thế. Kiểm soát kinh tế không chỉ là kiểm soát một phần tách biệt của đời sống của con người; đấy là sự kiểm soát tất cả các phương tiện nhằm thỏa mãn các mục tiêu của chúng ta. Bất cứ người nào nắm độc quyền kiểm soát các phương tiện sẽ phải quyết định mục tiêu nào xứng đáng được đáp ứng, phải quy định các giá trị nào cao hơn, giá trị nào thấp hơn, tóm lại là quyết định các thần dân của họ phải có tư tưởng thế nào, phải phấn đấu vì cái gì. KHH tập trung có nghĩa là không phải từng người mà toàn xã hội sẽ giải quyết các vấn đề kinh tế và vì thế xã hội, đúng hơn là các đại diện của nó, sẽ quyết định tầm quan trọng của các mục tiêu khác nhau.

Việc kiểm soát sản xuất và giá cả tạo ra quyền lực gần như vô giới hạn

Người ta thường nói không có tự do kinh tế thì tự do chính trị cũng chẳng có giá trị gì. Đúng như thế, nhưng không phải theo cách mà những người ủng hộ kế hoạch hóa thường nói. Tự do kinh tế - vốn là tiền đề cho mọi quyền tự do khác - không phải là được giải phóng khỏi những lo lắng về kinh tế, nghĩa là giải thoát khỏi nhu cầu lựa chọn và quyền được lựa chọn như những người xã hội chủ nghĩa hứa hẹn với chúng ta; tự do kinh tế phải là tự do hoạt động kinh tế, và cùng với quyền lựa chọn là rủi ro và trách nhiệm.

Chương 8- AI LÀ AI

Thế hệ của chúng ta đã quên rằng chế độ tư hữu là sự bảo đảm quan trọng nhất của tự do không chỉ của người có của mà cả người không có của nữa. Đấy là vì tư liệu sản xuất nằm trong tay nhiều người hoạt động độc lập với nhau, không người nào có toàn quyền đối với chúng ta, cho nên chúng ta, với tư cách là cá nhân, mới có thể tự quyết định và hành động theo ý mình. Nhưng nếu tất cả các phương tiện sản xuất đều được tập trung vào tay một người, dù đấy có gọi là “toàn xã hội” hay nhà độc tài thì người đó sẽ có quyền lực tuyệt đối đối với chúng ta.

Ngay khi nhà nước bắt đầu lập kế hoạch cho toàn bộ nền kinh tế thì vấn đề địa vị của những cá nhân và các nhóm xã hội khác nhau lập tức trở thành vấn đề chính trị chủ yếu. Vì sức mạnh cưỡng bức của nhà nước là lực lượng duy nhất quyết định ai được có cái gì, cho nên ai cũng muốn có phần trong cái lực lượng lãnh đạo đó. Không có một vấn đề kinh tế hay xã hội nào lại không mang màu sắc chính trị, theo nghĩa là việc giải quyết các vấn đề như thế hoàn toàn phụ thuộc vào việc ai nắm được bộ máy cưỡng chế và quan điểm của ai sẽ giữ thế thượng phong trong mọi trường hợp.

Tôi tin rằng chính Lenin đã đưa ra câu hỏi nổi tiếng “Ai là ai?” Trong những năm đầu của chính quyền Xô Viết, “ai là ai” là vấn đề chính của chủ nghĩa xã hội[. Ai là người lập kế hoạch, ai là người thực hiện kế hoạch? Ai là người cai trị, còn ai là kẻ bị trị? Ai là người sắp xếp địa vị cho những người khác và ai là người phải sống theo các quy định do người khác đưa ra? Chỉ có quyền lực tập trung cao độ mới có quyền giải quyết được các vấn đề như thế mà thôi.

Ngay khi nhà nước bắt đầu lập kế hoạch cho toàn bộ nền kinh tế thì vấn đề địa vị của những cá nhân và các nhóm xã hội khác nhau lập tức trở thành vấn đề chính trị chủ yếu. Vì sức mạnh cưỡng bức của nhà nước là lực lượng duy nhất quyết định ai được có cái gì, cho nên ai cũng muốn có phần trong cái lực lượng lãnh đạo đó. Không có một vấn đề kinh tế hay xã hội nào lại không mang màu sắc chính trị, theo nghĩa là việc giải quyết các vấn đề như thế hoàn toàn phụ thuộc vào việc ai nắm được bộ máy cưỡng chế và quan điểm của ai sẽ giữ thế thượng phong trong mọi trường hợp.

Chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã đã thành công trước hết là vì lí thuyết mà chúng đưa ra đã hứa cho những người ủng hộ một số đặc quyền đặc lợi.

Chương 9- AN TOÀN VÀ TỰ DO

An toàn về kinh tế là cơ sở để có được tự do thật sự.

Cần phải phân biệt ngay từ đầu hai loại an toàn: loại an toàn có giới hạn, có thể đạt được cho tất cả mọi người và vì vậy không phải là đặc ân mà là yêu cầu chính đáng của mỗi thành viên trong xã hội và loại an toàn tuyệt đối mà xã hội tự do không thể bảo đảm cho tất cả mọi người và không được coi như một đặc quyền đặc lợi, trừ những trường hợp đặc biệt. Loại an toàn thứ nhất, bảo đảm để người ta không lâm vào hoàn cảnh thiếu thốn quá mức, bảo đảm một mức sống tối thiểu cho tất cả mọi người; và loại thứ hai là bảo đảm một lối sống hay một địa vị tương đối mà một người hoặc một nhóm người được hưởng so với những người khác. Loại thứ nhất là bảo đảm một mức thu nhập tối thiểu chung cho tất cả mọi người và loại thứ hai bảo đảm một mức thu nhập mà một người cho là mình xứng đáng được hưởng. Chúng ta phải thấy sự khác nhau một trời một vực giữa sự bảo đảm mà mọi người đều được hưởng, với sự bảo đảm chỉ dành cho một số người.

Muốn giữ được tự do nói chung thì không có lí do gì mà một xã hội đã đạt đến mức độ thịnh vượng như xã hội chúng ta lại không bảo đảm cho tất cả mọi người loại an toàn thứ nhất. Dĩ nhiên là xác định một mức sống tối thiểu là vấn đề vô cùng phức tạp.

Kế hoạch hóa để bảo vệ loại an toàn thứ hai là có hại cho tự do. Đấy là kế hoạch được thiết kế nhằm bảo đảm cho một số người hoặc nhóm người tránh được thất thu, mà đấy lại là chuyện bình thường trong xã hội dựa trên nguyên tắc cạnh tranh.

Sự bảo đảm càng trở thành đặc ân thì những người không được hưởng đặc quyền đặc lợi càng gặp nhiều nguy hiểm, khiến cho sự bảo đảm như vậy càng trở nên có giá hơn. số người có đặc quyền đặc lợi càng gia tăng, khoảng cách giữa họ và những người khác càng cách biệt thì sẽ xuất hiện các xu hướng và giá trị hoàn toàn mới. Không phải là tính tự chủ mà là việc được bảo đảm về kinh tế sẽ quyết định địa vị xã hội của một người. Các cô con gái sẽ không lấy những người tự tin và tử tế mà sẽ lấy người có đồng lương đảm bảo, còn chàng thanh niên không tìm được cách chui vào tầng lớp đặc quyền đặc lợi có nguy cơ sẽ vĩnh viễn trở thành một kẻ khốn khổ, một kẻ suốt đời nằm dưới đáy của xã hội.

Muốn bảo vệ tự do thì phải có một số bảo đảm kinh tế nào đó, vì nhiều người sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi rủi ro không quá lớn. Nhưng không có gì khủng khiếp hơn là cái mốt ca ngợi sự an toàn với cái giá phải trả là tự do. Điều quan trọng là chúng ta phải học lại để nhận chân sự thật rằng tự do có giá của nó và từng cá nhân phải sẵn sàng chấp nhận những hi sinh to lớn về vật chất để bảo vệ tự do. Chúng ta phải tái khẳng định lại niềm tin và cũng là cơ sở của tư tưởng tự do trong các nước Anglo-Saxon, đã được Benjamin Franklin thể hiện trong một câu, có thể áp dụng cho từng cá nhân cũng như cho các dân tộc, như sau: “Người nào từ bỏ tự do thực sự để đổi lấy một ít an toàn tạm thời thì không xứng đáng được tự do, cũng chẳng xứng đáng được an toàn”.

Chương 10- VÌ SAO NHỮNG KẺ XẤU XA NHẤT LẠI LEO CAO NHẤT

Quyền lực dẫn đến tha hóa, quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối.

Xem xét quan niệm làm chỗ dựa cho những người cho rằng chế độ toàn trị là tất yếu; nó là quan niệm làm suy sụp sức kháng cự của nhiều người khác. Quan niệm này cho rằng các đặc điểm kinh tởm nhất của các chế độ toàn trị xảy ra là do sự ngẫu nhiên của lịch sử, ở đâu cũng đều do những người đê tiện và lưu manh thiết lập nên. Và nếu, thí dụ, ở Đức những người như Streicher và Killinger, Ley và Heine, Himler và Heydrich nắm được quyền lực, thì điều đó chỉ chứng tỏ rằng người Đức là một dân tộc xấu xa chứ không phải việc nổi lên của những kẻ như thế là kết quả tất yếu của hệ thống toàn trị. Chả lẽ những người tử tế, những người lo lắng cho lợi ích của cộng đồng, những người sẽ giải quyết những nhiệm vụ vĩ đại lại không thể đứng đầu hệ thống toàn trị được ư?

Có đầy đủ lí do để tin rằng những đặc điểm xấu xa nhất của các hệ thống toàn trị hiện nay không phải là sản phẩm phụ ngẫu nhiên mà là những hiện tượng mà chế độ toàn trị trước sau gì cũng sẽ tạo ra. Khi một chính khách dân chủ quyết định lập kế hoạch cho toàn bộ các hoạt động kinh tế thì chẳng mấy chốc ông ta sẽ phải đối mặt với một trong hai lựa chọn: chấp nhận chế độ độc tài hay từ bỏ các dự định của mình, còn nhà lãnh đạo toàn trị thì phải giẫm lên đạo đức truyền thống nếu không muốn thất bại. Đấy là lí do vì sao trong các xã hội có khuynh hướng toàn trị những kẻ vô liêm sỉ thường dễ thành công hơn. Không hiểu điều đó là không hiểu được khoảng cách mênh mông, có thể nói một trời một vực, giữa chế độ toàn trị và chế độ tự do, không hiểu điều đó là không hiểu được rằng đạo đức tập thể không thể đội trời chung với những giá trị nền tảng của chủ nghĩa cá nhân của nền văn minh phương Tây.

Vị lãnh tụ tối cao là người duy nhất có quyền đặt ra mục tiêu cho nên các trợ thủ trong tay ông ta không được có quan điểm đạo đức riêng của mình. Yêu cầu quan trọng nhất đối với người cán bộ là lòng trung thành tuyệt đối đối với cá nhân lãnh tụ, kèm theo lòng trung thành là tính vô nguyên tắc và sẵn sàng làm bất cứ việc gì. Cán bộ không được có lí tưởng thầm kín của riêng mình hoặc quan điểm riêng về thiện ác, có thể ảnh hưởng tới các dự định của lãnh tụ. Từ đó có thể thấy rằng các chức vụ cao khó có sức hấp dẫn đối với những người có quan điểm đạo đức vốn từng là kim chỉ nam cho hành động trong quá khứ của người Âu châu. Bởi vì, chẳng có gì có thể đền bù được cho những hành động bất lương mà họ nhất định phải làm, sẽ không còn cơ hội theo đuổi những ước mơ lí tưởng hơn, chẳng có gì có thể đền bù được những mạo hiểm không thể nào tránh khỏi, chẳng có gì có thể đền bù được những niềm vui của cuộc sống riêng tư và sự độc lập của cá nhân mà chức vụ lãnh đạo cao nhất định phải làm. Chỉ có một khát khao, đấy là khát khao quyền lực theo nghĩa đen của từ này và cái khoái cảm được người khác phục tùng và được là một phần của một cỗ máy quyền lực khổng lồ không ai có thể cản trở được, là có thể được thỏa mãn theo cách đó mà thôi.

Giới thiệu tóm tắt sách Đường về nô lệ (đoạn 1)

Nguyễn Đình Cống

TS Chu Hảo cho xuất bản sách này năm 2009. Đó là một trong những chứng cứ để ĐCSVN kết tội ông. Đoán rằng nhiều người muốn đọc nhưng ngại sách dài, tôi xin tóm tắt thành vài trang để các vị dễ tham khảo. Nội dung sách nhằm trình bày luận đề sau: “Nền kinh tế kế hoạch hóa (KHH), tập trung quan liêu bao cấp, do nhà nước thống nhất quản lý sẽ tất yếu dẫn toàn xã hội đến tình trạng nô lệ”.

Tác giả là HAYEK, xuất bản lần đầu tại Anh năm 1944, nhiều lần tái bản. Tên sách: The Road to Serfdom. Phạm Nguyên Trường dịch ra tiếng Việt. Trong lời giới thiệu của bản tiếng Việt có viết: Việt Nam đã bắt đầu từ bỏ cơ chế KHH tập trung quan liêu bao cấp… Tuy thế, những di chứng mà cơ chế này gây ra cho xã hội vẫn còn đó và đang gây nhức nhối cho xã hội…. Khi cơ chế KHH tập trung ngăn cản các cá nhân quyền tự tìm kiếm thu nhập và sử dụng tài sản của mình cho những mục đích riêng tư tất dẫn đến những tác động tiêu cực về mặt đạo đức, thái độ, lối sống và cách ứng xử của con người,… khiến cho người ta chỉ biết phục tùng, mất khả năng tư duy độc lập, chỉ biết rập khuôn;… thay vào đó là các biện minh nhân danh cộng đồng hay sứ mệnh cao cả; kích thích người ta chạy theo lối sống xin xỏ, chạy chọt để hưởng đặc quyền đặc lợi, và quyền ban ơn huệ cho người khác, v.v… Những khó khăn mà người Việt Nam chúng ta đã trải nghiệm trong thời kỳ KHH đã được Hayek nhìn thấy trước từ cách đây hơn 60 năm khi ông cảnh báo những hậu quả xấu nhất có thể xảy ra cho nước Anh.

Sách có các lời giới thiệu, dẫn nhập và 16 chương.

Dẫn nhập

Đã đến lúc phải nói rõ sự thật, dù nó có thể cay đắng đến đâu: chúng ta có nguy cơ lặp lại số phận của nước Đức (phát xít Hitle)… Đó là nền kinh tế KHH nằm trong tay nhà nước. Các xu hướng xã hội chủ nghĩa theo mô hình này. Sự tương đồng giữa những đặc điểm xấu xa nhất của các chế độ cộng sản Nga và chủ nghĩa xã hội quốc gia Đức đã trở nên rõ ràng… Chúng ta có thể rút ra được những bài học từ quá khứ nhằm ngăn chặn sự lặp lại của một số quá trình nào đó…

Chương1 - CON ĐƯỜNG BỊ CHỐI BỎ

Đó là con đường phát triển tự do, phát triển cá nhân đang bị chối bỏ ở một số nước như Đức, Ý, Liên xô, để xây dựng chế độ toàn trị. Châu Âu đang bước vào khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng này chính là hậu quả của một sai lầm mang tính nguyên tắc, đấy là việc theo đuổi một vài lí tưởng đã đưa đến những kết quả khác xa những điều chúng ta kì vọng. Trong quá trình phát triển, khi nền văn minh bỗng làm một cú rẽ ngoặt bất ngờ, khi đáng lẽ phải là tiến bộ thì ta lại phát hiện thấy những mối đe dọa từ tất cả các hướng, dường như đang đưa ta trở về thời kì mông muội, thế là chúng ta sẵn sàng kết án tất cả mọi thứ, trừ chính chúng ta… Trong hai mươi lăm năm qua (1918-1943), khi bóng ma của chủ nghĩa toàn trị còn chưa trở thành mối đe dọa thực tế, chúng ta đã càng ngày càng xa rời những lí tưởng nền tảng của nền văn minh phương Tây. Con đường phát triển mà chúng ta đã bước chân lên với những hi vọng trong sáng nhất lại dẫn chúng ta đến những nỗi kinh hoàng của chế độ toàn trị.

Chương 2 - GIẤC MƠ ĐỊA ĐÀNG

Đó là giấc mơ về tự do, công bằng, hạnh phúc mà người ta đang ra sức kiến tạo ở nước Đức và Ý với chủ nghĩa phát xít và ở Liên xô với chủ nghĩa cộng sản. Cả hai bên đều chống lại con đường phát triển cá nhân, đều nêu cao con đường XHCN. Người ta cho rằng: “Chỉ có CNXH mới có khả năng đưa cuộc đấu tranh vì tự do diễn ra trong nhiều thế kỉ đến thắng lợi cuối cùng, trong đó tự do chính trị mới chỉ là bước đầu tiên mà thôi”.

Phát xít và cộng sản có lúc xung đột. Đấy là vì họ cạnh tranh với nhau trong việc thu phục những người có cùng não trạng và căm thù nhau vì đảng này coi đảng kia là những kẻ dị giáo, nhưng hành động của họ lại chứng tỏ rằng đấy là những kẻ đồng hội đồng thuyền. Kẻ thù thực sự của cả hai đảng, người chẳng có gì chung với họ, người mà họ chẳng thể nào thuyết phục được lại chính là người theo chủ nghĩa tự do kiểu cũ.

Lời hứa về một sự tự do rộng lớn hơn, không nghi ngờ gì nữa, đã trở thành một trong những vũ khí mạnh mẽ nhất của bộ máy tuyên truyền XHCN và niềm tin rằng CNXH sẽ mang lại tự do là niềm tin chân thành và chân thật. Bi kịch vì vậy sẽ trở thành nặng nề hơn khi người ta nhận ra rằng Đường đến Tự do mà người ta hứa hẹn, trên thực tế lại là Đại lộ dẫn về Nô lệ. Không nghi ngờ gì, rằng chính lời hứa có nhiều tự do hơn đã ngăn cản, không cho người ta nhận ra mâu thuẫn không khoan nhượng giữa các nguyên lí nền tảng của CNXH và chủ nghĩa tự do. Chính nó đã làm cho ngày càng có nhiều người theo trường phái tự do chạy sang phe XHCN và tạo điều kiện cho những người XHCN chiếm đoạt tên gọi của các đảng theo trường phái tự do trước đây. Kết quả là phần lớn giới trí thức đã chấp nhận CNXH vì họ coi nó là sự tiếp tục của truyền thống tự do: đối với họ, CNXH sẽ dẫn đến việc mất tự do là một ý tưởng không thể nào chấp nhận được.

Về phát xít và cộng sản, Max Eastman, một người bạn cũ của Lenin, rút ra kết luận đã làm cho ngay cả những người cộng sản cũng phải choáng váng. Ông viết: “Chủ nghĩa Stalin, không những không tốt hơn mà còn xấu hơn cả chủ nghĩa phát xít vì nó tàn nhẫn hơn, dã man hơn, bất công hơn, vô luân và thiếu dân chủ hơn, không thể biện hộ bằng hi vọng hay sám hối… Đúng hơn, phải gọi nó là siêu phát xít”.

Thư bày tỏ quan ngại về các cáo buộc đối với Giáo sư Chu Hảo và Nhà Xuất bản Tri Thức

Kính gửi:

Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

Ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Đồng kính gửi: Các Đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội

Kính thưa quý vị,

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, là các học giả, các giáo sư và nhà nghiên cứu, những người đã dành phần lớn sự nghiệp và cuộc sống của chúng tôi cho việc nghiên cứu Việt Nam. Đến từ các trường đại học và viện nghiên cứu trên khắp thế giới, chúng tôi thường đi đầu trong việc thúc đẩy sự hiểu biết về Việt Nam, cũng như việc học tiếng Việt và hợp tác giáo dục quốc tế. Là một phần của công việc này, chúng tôi thường xuyên tìm kiếm nguồn tài trợ và các cơ hội khác cho sinh viên và học giả Việt Nam đến thăm, học tập và làm việc tại các trường đại học, các khoa và các viện nơi chúng tôi nghiên cứu và giảng dạy.

Chúng tôi viết lá thư này để bày tỏ sự không đồng ý và thất vọng sâu sắc của chúng tôi về những cáo buộc đối với Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản Tri Thức, bởi Ủy ban Kiểm tra Trung ương vào ngày 25 tháng 10 năm 2018, cũng như về các bình luận tiếp theo được đăng trên trang mạng của Ủy ban vào ngày 31 tháng 10.

Công việc chính của ông Chu Hảo tại Nhà xuất bản Tri Thức là giúp các sinh viên và học giả Việt Nam tiếp cận nhiều hơn với các công trình học thuật lớn của các nước khác bằng cách dịch chúng sang tiếng Việt. Sáng kiến ​​này là một tầm nhìn xa và rất quan trọng cho việc nghiên cứu khoa học. Các công trình học thuật lớn đó là nền tảng của nghiên cứu và tư duy hiện đại trong ngành khoa học xã hội và nhân văn. Ở các trường trung học và đại học trên khắp thế giới, chúng nằm trong giáo trình cơ bản của nhiều ngành học và môn học khác nhau mà sinh viên phải đọc và nắm bắt được. Rất đáng tiếc rằng, rào cản ngôn ngữ mà các học giả Việt Nam và đặc biệt là các sinh viên phải đối mặt khi cố gắng tiếp cận các công trình này đã đặt họ vào một thế bất lợi đáng kể khi cạnh tranh để vào các trường đại học, để được nhận học bổng và tài trợ nghiên cứu.

Là các nhà nghiên cứu và nhà giáo dục từ khắp nơi trên thế giới, chúng tôi bác bỏ bất kỳ khẳng định nào cho rằng những tác phẩm này là mối đe dọa cho sự phát triển ổn định hoặc hòa bình của Việt Nam. Giáo dục hiện đại đã được thành lập dựa trên nền tảng là khả năng thảo luận và kết hợp rộng rãi các ý tưởng và các đề xuất lý thuyết. Hạn chế hoặc từ chối việc tiếp cận của mọi người với những tư tưởng này sẽ chỉ làm giảm các công cụ phân tích có sẵn cho họ và cản trở sự phát triển tri thức của họ. Ngay cả các công trình gây tranh cãi cũng phải được đọc và phân tích trước khi chúng có thể bị chỉ trích hoặc bác bỏ một cách đáng tin cậy.

Vào thời điểm mà Việt Nam nỗ lực để cạnh tranh trên trường quốc tế trong giáo dục đại học và học bổng học thuật, chúng tôi thấy những lời buộc tội bởi Ủy ban Kiểm tra Trung ương là vô căn cứ và đáng lo ngại. Vì lợi ích của hợp tác quốc tế và phát triển giáo dục cho Việt Nam, chúng tôi mạnh mẽ yêu cầu Ủy ban sửa đổi các đánh giá về công việc quan trọng mà ông Chu Hảo đang dẫn dắt tại Nhà xuất bản Tri Thức. Chúng tôi cũng ủng hộ mạnh mẽ bức thư ngỏ ủng hộ ông Chu Hảo được ký bởi các thành viên cũ của Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) và hơn 200 người ủng hộ có tên tuổi.

Đồng thời, chúng tôi khuyến nghị rằng chính phủ nên khuyến khích việc thảo luận tri thức rộng rãi về tất cả các chủ đề ở Việt Nam, và chúng tôi mạnh mẽ thúc giục chính phủ từ bỏ mọi nỗ lực quấy rối, đe doạ hoặc trừng phạt những người đã thể hiện quan điểm hoặc ý kiến ​​của họ một cách ôn hòa.

Chúng tôi cảm ơn sự quan tâm của quý vị đối với vấn đề này và chúng tôi tin tưởng rằng sự phản hồi của quý vị sẽ phản ánh sự văn minh, phẩm giá và tham vọng giáo dục của Việt Nam.

Ngày 11 tháng 11 năm 2018

DANH SÁCH NGƯỜI KÝ

STT Họ tên Chức vụ và tổ chức hiện tại Nơi chốn

1 Pierre ASSELIN Giáo sư khoa Sử, San Diego State University USA

2 Margaret B. BODEMER Chủ tịch, Nhóm Nghiên cứu Việt Nam, Giáo sư khoa Sử và Nghiên cứu châu Á, California Polytechnic State University USA

3 Pascal BOURDEAUX Phó Giáo sư, École Pratique des Hautes Études France

4 Mark Philip BRADLEY Giáo sư khoa Sử, University of Chicago USA

5 Pierre BROCHEUX Giáo sư (nghỉ hưu), Université Paris - Denis Diderot France

6 Joe BUCKLEY Nghiên cứu sinh, SOAS University of London United Kingdom

7 BÙI Xuân Quang Biên tập, Viet Nam Infos, Nhà Nghiên cứu độc lập France

8 Jim COBBE Giáo sư Hưu trí khoa Kinh tế, Florida State University USA

9 Nguyet DANG Nghiên cứu sinh, Erasmus University Rotterdam Netherlands

10 ĐỖ Đăng Giu, Giám đốc Nghiên cứu CNRS (nghỉ hưu), University Paris-Sud, France France

11 ĐOÀN Cầm Thi, Phó Giáo sư, Inalco France

12 George DUTTON Giáo sư khoa Sử, Giám đốc chương trình Nghiên cứu Đông Nam Á, University of California - Los Angeles (UCLA) USA

13 Dominique FOULON Carnets du Viet Nam, Nhà Nghiên cứu độc lập France

14 Laurent GEDEON, Phó Giáo sư, ENS de Lyon France

15 Francis GENDREAU Chuyên gia Nhân khẩu học (nghỉ hưu), Institute of Research for Development (IRDn), Paris France

16 Christoph GIEBEL Giáo sư khoa Sử, University of Washington USA

17 Christopher GOSCHA Giáo sư khoa Sử, Université du Québec à Montréal

18 François GUILLEMOT Kỹ sư Nghiên cứu CNRS, ENS de Lyon, Lyon Institute of East Asian Studies France

19 HÀ Dương Tường, Giáo sư Toàn (nghỉ hưu), University of Technology of Compiègne France

20 Erik HARMS Phó Giáo sư khoa Nhân học và Nghiên cứu Đông Nam Á, Yale University USA

21 Bill HAYTON, Nhà Nghiên cứu độc lập United Kingdom

22 Judith HENCHY Giảng viên Liên kết, Jackson School of International Studies, University of Washington USA

23 HERBELIN Caroline Phó Giáo sư, University of Toulouse Jean Jaurès France

24 Carina HOANG, Tác giả/Nhà xuất bản, School of Humanities, Curtin University Australia

25 Hue-Tam HO TAI, Giáo sư Hưu trí, Harvard University USA

26 Rob HURLE Giảng viên (nghỉ hưu), Australian National University Australia

27 Charles KEITH Phó Giáo sư, Department of History, Michigan State University USA

28 Ben KERKVLIET Giáo sư Hưu trí, Australian National University Australia

29 John KLEINEN Phó Giáo sư Hưu trí,

Amsterdam Institute for Social Science Research (AISSR) Netherlands

30 Gary KULIK Nhà văn, Cựu Chiến binh Việt Nam USA

31 Scott LADERMAN Giáo sư khoa Sử, University of Minnesota USA

32 LÊ Minh Hằng, Nhà thuỷ văn học (nghỉ hưu), Vietnam Hydro-Meteorological Services Vietnam

33 LÊ Trung Tĩnh Kỹ sư United Kingdom

34 Christian C. LENTZ Phó Giáo sư khoa Sử, University of North Carolina USA

35 Ann Marie LESHKOWICH Giáo sư Nhân chủng học, College of the Holy Cross USA

36 David MARR Giáo sư Hưu trí, Australian National University Australia

37 André MENRAS (Hồ Cương Quyết) Nhà Làm phim ài liệu và Nghiên cứu độc lập France

38 Pamela MCELWEE Phó Giáo sư, Department of Human Ecology, Rutgers University USA

39 Edward MILLER Giáo sư khoa Sử, Dartmouth College USA

40 Dominique De MISCAULT Họa sĩ France

41 Anthony MORREALE Nghiên cứu sinh, University of California - Berkeley USA

42 Jason MORRIS-JUNG Giảng viên cao cấp, Singapore University of Social Sciences Singapore

43 NGÔ Như Bình, Harvard University USA

44 Lam NGO Chuyên gia Thông tin học, Special Collection Services, Leiden University Netherlands

45 NGÔ Vĩnh Long, Giáo sư khoa Sử, University of Maine USA

46 NGUYỄN Thế Anh Giáo sư Hưu trí, École Pratique des Hautes Études France

47 NGUYỄN Điền, Nhà Nghiên cứu độc lập Australia

48 NGUYỄN Ngọc Giao Giảng viên (nghỉ hưu), Université Paris - Denis Diderot France

49 NGUYỄN Trọng Hiền Nhà Vật lý học, Jet Propulsion Laboratory, California Institute of Technology, Pasadena USA

50 NGUYỄN Đức Hiệp Nhà Khoa học Khí quyển, Office of Environment & Heritage, NSW Australia

51 Huong NGUYEN, Biên tập, The 88 Project USA

52 NGUYỄN Thanh Lam, California Institute of Technology USA

53 Lien-Hang T. NGUYEN

Giáo sư khoa Sử, Columbia University USA

54 Viet Thanh NGUYEN Nhà văn, Giáo sư, University of Southern California USA

55 Le Anh Tu PACKARD, Nhà Kinh tế học cao cấp (nghỉ hưu), Moody’s Analytics USA

56 Natasha PAIRADEAU Bye Fellow, Murray Edwards College, University of Cambridge United Kingdom

57 PHẠM Xuân Yêm Nhà Vật lý học, Giám đốc Nghiên cứu CNRS (nghỉ hưu), Université Paris-Sorbonne France

58 Chloé PHAN-LABAYS, Giảng viên, University of Lyon 3 France

59 Emmanuel POISSON Phó Giáo sư, Centre de Recherches sur les Civilisations de l’Asie Orientale (CRCAO) France

60 John PRADOS Nghiên cứu viên Cao cấp, Intelligence Documentation and Vietnam Projects, National Security Archive USA

61 Benoit QUENNEDEY Tác giả nhiều sách và bài viết về Đông Á France

62 Sophie QUINN-JUDGE, Phó Giáo sư (nghỉ hưu) USA

63 Frédéric ROUSTAN Nhà Nghiên cứu liên kết, Institut de Recherche Asiatique (IrAsia) France

64 Christina SCHWENKEL Phó Giáo sư, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Đông Nam Á, University of California, Riverside USA

65 Mark SIDEL Giáo sư khoa Luật và các Vấn đề Công, Hàm vị Doyle-Bascom, University of Wisconsin-Madison USA

66 Balazs SZALONTAI Phó Giáo sư, Korea University Korea

67 Tai Van TA Nguyên Giảng viên và Nghiên cứu viên, Harvard Law School USA

68 Philip TAYLOR Giáo sư Hưu trí, Australian National University Australia

69 THÁI Văn Cầu, Chuyên gia Khoa học Không gian USA

70 TRẦN Hải Hạc Phó Giáo sư (nghỉ hưu), Université Paris XII France

71 TRẦN Hữu Dũng, Giáo sư Hưu trí, Wright State University USA

72 Nhung Tuyet TRAN, Phó Giáo sư, University of Toronto Canada

73 Qui-Phiet TRAN, Giáo sư Hưu trí, Schreiner University USA

74 Richard TRAN Phó Giáo sư, Ca’Foscari University of Venice Italy

75 TRỊNH Văn Thảo, Giáo sư Hưu trí, Aix-Marseille University France

76 TRỊNH Xuân Thuận, Giáo sư, University of Virginia USA

77 William TURLEY Giáo sư Hưu trí, Southern Illinois University Carbondale USA

78 Kieu-Linh Caroline VALVERDE Phó Giáo sư, University of California - Davis USA

79 VŨ Quang Việt Nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia, Cục Thống kê, Liên Hợp Quốc USA

80 VŨ ĐỨC Vượng Biên tập, Trồng Người, A Clearinghouse on Education in Vietnam, San Francisco - Sai Gon USA

81 Peter ZINOMAN Giáo sư khoa Sử, University of California - Berkeley USA

Statement of Concern over Accusations Directed at Chu Hảo and the Knowledge Publishing House (Nhà Xuất Bản Tri Thức)

To:

Mr. Nguyễn Phú Trọng, General Secretary of the Vietnamese Communist Party and President of the Socialist Republic of Vietnam

Mr. Nguyễn Xuân Phúc, Prime Minister of the Socialist Republic of Vietnam

Central Inspection Commission of the Vietnamese Communist Party

Cc: Foreign Embassies in Hanoi

Dear Sirs and Madams:

We, who have signed our names below, are scholars, academics and researchers, who have dedicated much of our careers and lives to the study of Vietnam. Hailing from universities and research institutes around the world, we are often at the forefront of promoting a deeper understanding of Vietnam, as well as Vietnamese language learning and international educational cooperation. As part of this work, we regularly seek funding and opportunities for Vietnamese students and scholars to visit, study and work at our respective universities, departments and research institutes.

We write this letter to express our profound disagreement and disappointment with accusations directed at Professor Chu Hảo, Director of the Knowledge Publishing House, by the Central Inspection Commission on October 25, 2018, as well as follow-up comments posted on the Commission’s webpage on October 31.

Chu Hảo’s primary work at the Knowledge Publishing House has been to make more accessible major academic works to Vietnamese students and scholars by translating them into Vietnamese. This initiative has been both far-sighted and highly important for scientific inquiry. Such works constitute the foundations of contemporary research and thinking in the social sciences and humanities. In high schools and universities around the world, they represent a body of essential readings across disciplines and subjects. Unfortunately, the language barriers that Vietnamese scholars and, especially, students face when trying to access these works puts them at a significant disadvantage when competing for university admissions, scholarships and research funding.

As researchers and educators from around the world, we reject any assertion that these works present a threat to the stable or peaceful development of Vietnam. Modern education has been founded on an ability to discuss and incorporate a wide range of ideas and theoretical propositions. Restricting or denying people access to these ideas will only reduce the analytical tools available to them and impoverish their intellectual development. Even controversial works must be read and analysed before they can be credibly criticized or refuted.

At a time when Vietnam is vying to be internationally competitive in university education and academic scholarship, we find the accusations made by the Central Inspection Commission to be unfounded and disturbing. In the interests of international cooperation and educational development for Vietnam, we strongly request the Commission to revise its assessment of the important work that Chu Hảo is leading at the Knowledge Publishing House. We also strongly support the open letter to support Chu Hảo signed by former members of the Institute of Development Studies (IDS) and more than 200 eminent supporters.

At the same time, we recommend that the government cultivate wide intellectual discussion of ideas on all topics in Vietnam, and we strongly urge the government to desist from any efforts to harass, intimidate or otherwise punish persons for peacefully expressing their views or opinions.

We thank you for your attention to this matter and we trust that you will respond in a matter that reflects the civility, dignity and educational ambitions of Vietnam.

November 11, 2018

LIST OF SIGNERS

Tại sao Chu Hảo?

Lê Phú Khải

Rõ ràng, một nhóm độc tài từ trên cao áp đặt một cách phi dân chủ ngay trong Đảng. Dấu hiệu của tập quyền trong quá trình phát xít hóa đã xuất hiện ngay sau khi Tổng bí thư Đảng kiêm giữ chức Chủ tịch nước! Kỷ luật Chu Hảo, Đảng độc tài muốn dằn mặt những đảng viên đang “tự diễn biến” đang “suy thoái về chính trị”...

Thật là bẽ bàng và nực cười khi Việt Nam đang hý hửng tham gia Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP! Muốn hòa nhập vào thế giới văn minh để hưởng lợi về kinh tế, nhưng lại quyết giữ nguyên tư duy man rợ thời Trung cổ về triết học, chính trị và xã hội, để tiếp tục cai trị, dìm đất nước và nhân dân trong tăm tối Trung cổ giữa thời đại toàn cầu hóa, Công nghiệp 4.0!

http://img.giaoduc.net.vn/w801/Uploaded/2018/edxwpcqdh/2018_11_09/ongchuhao.jpg

Vừa ngồi xuống chiếc ghế đối diện với tôi trong một quán bia hơi gần trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam ở đường Nguyễn Đình Chiểu - Hà Nội, đạo diễn nghệ sỹ nhân dân Trần Văn Thủy liền đập tay xuống bàn quát lớn:

  • Tại sao (là) Chu Hảo? Tại sao Chu Hảo?!! Tôi và ông còn “phản động” hơn Chu Hảo nhiều chứ?!...

Biết Trần Văn Thủy là người “ăn to nói lớn”, tính cách ngang tàng... nên tôi chẳng nói gì cả. Nhưng trong đầu bỗng nhớ đến cuốn sách mà tôi đã in năm 2004 (NXB Thanh Niên) có tên là “Tại sao Điện Biên Phủ?”. Để trả lời cho câu hỏi của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước: Vì sao hai bên Việt Minh và Pháp lại chọn một nơi không hẹn trước, xa xôi hẻo lánh, tít mù cuối trời Tây Bắc, giáp ranh với nước Lào làm trận địa cho một cuộc chiến quyết định sống còn với mỗi bên, tôi đã phải đọc cả ngàn trang hồi ký về Điện Biên Phủ, ba lần lên thăm Điện Biên Phủ và ba lần gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để cho ra đời cuốn sách chưa đến 200 trang vào năm kỷ niệm 50 năm (2004) chiến thắng lịch sử này.

Nhưng trả lời đạo diễn Trần Văn Thủy: “Tại sao Chu Hảo?” thì không khó. Vì Chu Hảo là một trong những người trí thức căn cơ nhất của tầng lớp trí thức vốn còn rất “èo uột” hiện nay! Tôi dùng chữ căn cơ vì một dân tộc muốn hùng mạnh phải có một đội ngũ tinh hoa dẫn đường. Đội ngũ tinh hoa ấy khai phóng cho dân chúng. Muốn có Cách mạng Pháp 1789 phải có một Thế kỷ Ánh sáng “Siècle des Lumières” với những Voltaire (1694-1778), Rousseau (1712-1778), Diderot (1713-1784). Chu Hảo là một trí thức ý thức rõ về vai trò, trách nhiệm của tầng lớp tinh hoa với nhiệm vụ khai phóng dân trí của tầng lớp mình. Năm 2010, ông đã viết tiểu luận nổi tiếng “Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức Việt Nam.” Đây là lần đầu tiên một tác giả đã dám đụng bút vào một đề tài lớn, rất hóc búa và vô cùng “nhạy cảm” trong một xã hội toàn trị, nặng tư tưởng Maoist: “Trí thức là cục phân”!!! Trong tiểu luận đó ông đặt ra những câu hỏi... Có một giai tầng xã hội như là tầng lớp trí thức ở Việt Nam chưa, đặc điểm tính cách của trí thức trước vận mệnh của dân tộc trong thời đại mới - thời đại kinh tế tri thức, thời đại hòa nhập toàn cầu là thế nào? Và thật thú vị, lần đầu tiên có một tác giả đã điểm lại những gương mặt, những tên tuổi kẻ sĩ Việt Nam suốt chiều dài lịch sử dân tộc như: Trương Vĩnh Ký, Phan Khôi, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố... Và cũng rất bất ngờ, tác giả gọi thời kỳ 1945-1949 là của lịch sử Việt Nam hiện đại là thời kỳ “lãng mạn của trí thức yêu nước” Việt Nam! Tuy chỉ là những phác thảo và gợi mở nhưng tiểu luận “Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức Việt Nam” đã được những người quan tâm đến vận mệnh của đất nước nồng nhiệt đón nhận và đánh giá rất cao công trình này. Bình tĩnh và ôn hòa, nhưng kết luận của bài viết này đanh thép và dứt khoát: Không có tự do ngôn luận, thì những người “có học” chỉ có thể là những người lao động trí óc (thậm chí rất giỏi) nhưng không thể trở thành một tầng lớp “trí thức” mà xã hội văn minh coi là tinh hoa!

Ở thời điểm năm 2010, kết luận trên của Chu Hảo được xem là xã hội toàn trị đã có phần “cởi mở”! Nhưng chế độ Đảng trị với quốc sách ngu dân, bưng bít thông tin để dễ bề cai trị, lừa gạt và dễ bề cướp bóc đã không thể chấp nhận sự dấn thân khai phóng của nhà trí thức Chu Hảo với việc ông đứng đầu Nhà xuất bản Tri Thức để tổ chức dịch và xuất bản những sách giới thiệu một cách căn cơ những giá trị văn minh phổ quát của nhân loại mà bất cứ một dân tộc nào muốn “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” cũng phải biết đến. Những cuốn sách đồ sộ của văn minh nhân loại đã ra đời từ Nhà xuất bản Tri Thức: Nền dân trị Mỹ (phải “né” chữ “dân chủ” bằng chữ “dân trị”) của Alexis de Tocqueville do Phạm Toàn dịch từ nguyên bản tiếng Pháp, 805 trang, khổ 16x24 cm, 2012; Đường về nô lệ của Hayek do dịch giả nổi tiếng Phạm Nguyên Trường dịch; Karl Marx của Peter Singer; Sự ra đời trí khôn ở trẻ em của Jean Piaget do nhà thơ Hoàng Hưng dịch, v.v. và v.v. Khi dịch cuốn Sự ra đời trí khôn ở trẻ em, dịch giả Hoàng Hưng tâm sự với người viết bài này rằng, vô cùng khó dịch, vì nhiều khái niệm về tâm lý chúng ta không có, phải mày mò, so sánh với các ngôn ngữ khác... Vẫn theo Hoàng Hưng thì giáo dục ở nước ta quá lạc hậu so với thế giới về cơ sở tâm lý giáo dục học...Vì thế, lời mở đầu cho cuốn sách này, nhà giáo Phạm Toàn đã viết: Thật khó mà hình dung lại có người táo gan chẳng hạn như thế này: lái con tàu đi biển mà thiếu hải đồ và hải trình, thám hiểm núi cao rừng sâu mà không cần la bàn, hoặc là... thêm trường hợp nữa cho đủ quá tam ba bận, như chúng tôi muốn nêu ra ở đây: tổ chức một nền giáo dục quốc dân, tổ chức đi tổ chức lại những cuộc thay sách thay chương trình và cải cách giáo dục song lại không quan tâm đến tâm lý học. Lại nữa, không những coi nhẹ tâm lý học nói chung, lại còn táo gan coi nhẹ tâm lý học giáo dục, nhất là tâm lý học Piaget!

Nhà thơ Hoàng Hưng đã được giải thưởng về dịch thuật cuốn sách này sau đó. Tôi đã mất cả tháng trời để nghiên cứu cuốn sách khó đọc này và bàng hoàng khi biết rằng, chúng ta đã không hề biết đến Jean Piaget (1896-1980) với công trình cả đời nghiên cứu quá trình nhận thức của trẻ em, làm cơ sở cho quá trình giáo dục ở hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới ngày nay…

Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến các “định nghĩa” về người trí thức của Viện sỹ hàn lâm Nga N. Moseev: “Người trí thức luôn suy nghĩ đến số phận của dân tộc mình trong sự so sánh, đối chiếu với những giá trị toàn nhân loại. Vả lại, bất cứ một dân tộc nào bao giờ cũng có những nhà trí thức của dân tộc mình.”

Chu Hảo chính là một nhà trí thức của dân tộc Việt Nam. Ông có công với đất nước, với dân tộc nhưng lại “có tội” vì đã “tổ chức dịch và xuất bản những sách trái với cương lĩnh, đường lối của Đảng” như kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng! Là một người ngoài Đảng, người viết bài này cũng biết, đây là một việc làm trái với điều lệ Đảng. Vì, muốn kỷ luật một đảng viên thì phải xuất phát từ cơ sở chi bộ nơi đảng viên ấy sinh hoạt.

Rõ ràng, một nhóm độc tài từ trên cao áp đặt một cách phi dân chủ ngay trong Đảng. Dấu hiệu của tập quyền trong quá trình phát xít hóa đã xuất hiện ngay sau khi Tổng bí thư Đảng kiêm giữ chức Chủ tịch nước! Kỷ luật Chu Hảo, Đảng độc tài muốn dằn mặt những đảng viên đang “tự diễn biến” đang “suy thoái về chính trị”...

Thật là bẽ bàng và nực cười khi Việt Nam đang hý hửng tham gia Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP! Muốn hòa nhập vào thế giới văn minh để hưởng lợi về kinh tế, nhưng lại quyết giữ nguyên tư duy man rợ thời Trung cổ về triết học, chính trị và xã hội, để tiếp tục cai trị, dìm đất nước và nhân dân trong tăm tối Trung cổ giữa thời đại toàn cầu hóa, Công nghiệp 4.0!

Không làm gì có điều đó ở thế kỷ 21, thưa Ban Kiểm tra Trung ương Đảng! Chính vì thế, khi Ban Kiểm tra Trung ương Đảng tuyên bố kỷ luật những sai phạm của Chu Hảo, và ông đã tuyên bố rời Đảng ngay sau đó... một cơn địa chấn đã xuất hiện trong xã hội Việt Nam. Một loạt những đảng viên, trong đó có những tên tuổi lớn như nhà văn Nguyên Ngọc, nghệ sỹ ưu tú Kim Chi, giáo sư Mạc Văn Trang và nhiều người khác... đã lập tức tuyên bố rời bỏ Đảng. Trong tuyên bố bỏ Đảng của nhà văn lão trượng, công thần của chế độ Nguyên Ngọc có đoạn viết: Đảng “kìm hãm nhân dân trong vòng tăm tối, để lừa dối và đàn áp... đang cướp quyền sống và phát triển của dân tộc... Đảng “tự diễn biến” thành một tổ chức chuyên quyền phản dân hại nước. Tôi không thể, còn có thể ở trong một tổ chức như thế!”.

Kể từ khi thành lập, chính danh của Đảng cộng sản chưa bao giờ bị phủ định hoàn toàn như thế.

Dịch giả Phạm Nguyên Trường: Những kẻ leo cao nhất cũng là nô lệ

Tâm Don

Ngày 6/11, dịch giả Phạm Nguyên Trường đã dành cho Luật Khoa tạp chí một cuộc phỏng vấn độc quyền về cuốn sách “Đường về Nô lệ”.

Dịch giả Phạm Nguyên Trường, tên thật là Phạm Duy Hiển, là người có hơn 20 đầu sách dịch, đa phần là về chính trị – xã hội.

clip_image002

Dịch giả Phạm Nguyên Trường và cuốn "Đường về Nô lệ". Ảnh: Tâm Don

Ông biết đến cuốn “Đường về Nô lệ” trong hoàn cảnh nào?

Năm 2007, tôi mua được cuốn “Friedrich Hayek – Cuộc đời và sự nghiệp”, do Lê Anh Hùng dịch, Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành. Đọc thấy hay quá, tôi quyết định tìm Hayek trên mạng và tìm được cuốn “The Road to Serfdom” (”Đường về Nô lệ”) rút gọn, được in trên tạp chí The Reader’s Digest, số ra tháng 4 năm 1945.

Khi giới thiệu trên tạp chí “Saturday Review of Literature” vào tháng 5 năm 1945, Lawrence Frank cho rằng bản rút gọn “có phần sắc sảo hơn” cả chính văn. Tôi liền dịch bản rút gọn này và giới thiệu thành hai kỳ (ngày 21 và 22 tháng 8 năm 2007) trên trang talawas.org.

Sau đó tôi viết thư cho NXB Tri Thức, nói rằng muốn dịch cuốn “The Road to Serfdom” ra tiếng Việt. Chỉ sau vài ngày tôi đã nhận được hồi âm của Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc – Tổng biên tập, nói rằng sẵn sàng hợp tác với tôi để dịch và in tác phẩm này. Thật là tình cờ và cũng thật là may.

Làm thế nào mà ông có cuốn ”Đường về Nô lệ”?

Tôi nhờ chị Phạm Thị Hoài, chủ nhân talawas.org mua giúp và còn nhờ một công ty nữa ở Vũng Tàu mua. Lúc đó, cuốn sách này chưa được đưa lên mạng, hình như bây giờ trên mạng cũng không có bản tiếng Anh. Nhưng tôi tìm được phiên bản tiếng Nga và bắt đầu dịch nháp vì thấy hay quá. Khoảng mấy tháng sau thì nhận được cả hai cuốn sách, hai lần xuất bản khác nhau, hình thức cũng hơi khác nhau một chút.

Ông bắt tay vào dịch cuốn ”Đường về Nô lệ” trong hoàn cảnh nào?

Lúc đó tôi đang là kỹ sư ở Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro cho nên phải tranh thủ dịch lúc rảnh rỗi, vào các ngày thứ Bảy, Chủ nhật và buổi tối. Lúc đó, cả tiếng Anh lẫn kiến thức về kinh tế học và xã hội nói chung còn ít hơn hẳn bây giờ, Google Translate hình như cũng chưa có, mà cũng có thể lúc đó tôi chưa biết sử dụng, thành ra phải tham khảo rất kỹ bản tiếng Nga và bản dịch của Tiến sĩ Nguyễn Quang A ở trên mạng (bản này có nhan đề là “Con đường dẫn tới chế độ nông nô”).

Khi ông gửi bản dịch ”Đường về Nô lệ” cho Nhà xuất bản Tri Thức, GS. Chu Hảo đã nói gì về cuốn sách này?

Chu Hảo không nói cụ thể về tác phẩm này, vì cùng với ”Đường về Nô lệ”, tôi còn chuẩn bị cho NXB Tri Thức hai tác phẩm nữa: “Về Trí thức Nga”, đây là tập hợp những bài viết về trí thức Nga trong một thế kỷ, tức là từ khoảng năm 1908 cho đến năm 2008; và “Chế độ Dân chủ – Nhà nước và Xã hội”, một cuốn sách giáo khoa về dân chủ cho học sinh trung học ở Nga.

Ngay nhan đề những tác phẩm này đã có thể làm người ta choáng váng rồi, cho nên trước Tết năm 2008 sang 2009, GS. Chu Hảo có viết cho tôi và một người bạn của ông rằng có thể có chuyện này nọ, nhưng ông vẫn quyết tâm cho in ba cuốn sách này cùng một lúc.

Theo ông, nội dung quan trọng nhất của cuốn ”Đường về Nô lệ” là gì?

Nội dung quan trọng nhất của tác phẩm này, như trong bản rút gọn đã nói rất rõ: “Thế hệ của chúng ta đã quên rằng chế độ tư hữu là sự bảo đảm quan trọng nhất của tự do. Đấy là vì tư liệu sản xuất nằm trong tay nhiều người hoạt động độc lập với nhau cho nên chúng ta mới có thể tự quyết định cách hành xử của mình. Khi tất cả các phương tiện sản xuất chỉ nằm trong tay một người, dù về danh nghĩa có là toàn thể ‘xã hội’ hay là một nhà độc tài, thì người đó sẽ có quyền lực tuyệt đối đối với chúng ta. Khi nằm trong tay các cá nhân riêng rẽ, quyền lực kinh tế có thể trở thành phương tiện áp bức, nhưng không bao giờ có thể kiểm soát được toàn bộ cuộc sống của con người. Nhưng khi quyền lực kinh tế đã được tập trung lại như một công cụ của quyền lực chính trị thì nó sẽ tạo ra một sự phụ thuộc chẳng khác gì chế độ nô lệ. Người ta nói đúng rằng trong một quốc gia mà nhà nước là người sử dụng lao động duy nhất thì đối lập đồng nghĩa với chết từ từ vì đói”.

Như tôi đã giới thiệu trên Talawas:

“Chúng ta đã có dịp chứng kiến 600 ông/bà tổng biên tập của 600 tờ báo và hàng ngàn nhà báo bị/tự bịp mồm, bịt mắt, bịt tai trước cảnh nhếch nhác của bà con ‘dân oan’ giữa thành phố Hồ Chí Minh hoa lệ; thế rồi đùng một cái, sau gần một tháng trời ‘không thấy, không nghe’ gì hết, họ bỗng đồng thanh hô lên rằng ‘đồng bào đã tự nguyện và vui vẻ lên xe ra về vào lúc nửa đêm!’. Đúng là một đám nô bộc rồi, đây là ‘văn nô’.

Chúng ta cũng đã từng được nghe nói tới Chủ-tịch-nước-nô, đấy là ông Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, người đã bị hành hạ và chết không khác gì một con vật, thậm chí còn nhục nhã hơn cả một con vật.

Chúng ta cũng đã từng được nghe nói tới Tổng-bí-thư-đảng-nô, đấy là các ông N. Khrushchev và Triệu Tử Dương, những người đã bị các ‘đồng chí’ của mình giam lỏng tại gia (có khác gì nhốt chó, nhốt ngựa) cho đến chết.

Tóm lại, khi kế hoạch hoá nền kinh tế được tiến hành trên thực tế thì tất cả mọi người, trừ những kẻ vô liêm sỉ mà Hayek gọi là ‘những kẻ xấu xa nhất lại leo cao nhất’, đều trở thành nô lệ cả”.

Hôm nay xin được bổ sung thêm rằng ngay cả “những kẻ xấu xa nhất lại leo cao nhất” cũng là nô lệ. Họ là nô lệ của hệ thống, họ là những kẻ cưỡi trên lưng cọp, bước xuống thì sẽ bị hệ thống đập chết ngay lập tức.

Xã hội mà tất cả mọi người đều mất tự do, đều là nô lệ thì không thể nào có sáng kiến, sáng tạo, nó chỉ có thể bắt chước. Đấy là xã hội của ao tù nước đọng, nghèo đói và khốn khổ. Nếu có xã hội ở bên ngoài để người ta so sánh thì trước sau gì nó cũng sẽ bị diệt vong. Và đấy là điều chúng ta đã và đang chứng kiến.

Sau sự kiện GS. Chu Hảo bị kỷ luật, nhu cầu đọc và sở hữu cuốn ”Đường về Nô lệ” rất lớn. Theo ông, cần phải làm gì để đáp ứng nhu cầu chính đáng của bạn đọc?

Tác phẩm này đã bị cấm tái bản ngay từ đầu năm 2009. Sau này có bạn tổ chức in lại, mấy trăm cuốn. Hiện nay nhà nước không cho in, mà in lậu thì có khi bị bắt, bị phạt tiền cho nên sách giấy thì hơi khó. Nhưng những người rất muốn đọc thì vẫn có thể tìm được trên mạng.

Chân thành cám ơn ông!

clip_image003

“Đường về Nô lệ” là sách cấm? 

Ngày 25/10, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam công bố kết luận tại kỳ họp diễn ra từ 17 – 19/10, đề nghị kỷ luật ông Chu Hảo vì vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Sáng lập:

Nguyễn Huệ Chi - Phạm Toàn - Nguyễn Thế Hùng

Điều hành:

Nguyễn Huệ Chi [trước] - Phạm Xuân Yêm [nay]

Liên lạc: bauxitevn@gmail.com

boxitvn.online

boxitvn.blogspot.com

FB Bauxite Việt Nam


Bài đã đăng

Được tạo bởi Blogger.

Nhãn